nha ban quan tan binh | mua nha quan tan binh
Hiển thị các bài đăng có nhãn TPP. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn TPP. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 21 tháng 8, 2013

XÓA CẤM VẬN, WTO VÀ TPP NHỮNG CƠ HỘI CHO VIỆT NAM TỪ HOA KỲ

Bài đọc liên quan:

Mấy hôm nay trò chuyện với một số người có am hiểu về tình hình chính trị và kinh tế nước nhà. Họ tỏ ra lo ngại cho việc Việt Nam khi được vào Hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương - TPP: Transpacific Partnership. Song những mối lo ngại ấy chỉ là những lo ngại vô căn cứ và thiếu hiểu biết. Nên tôi có ý định viết bài này, hòng giúp cộng đồng thấy cái lợi, cái trở ngại khi Việt Nam chỉ còn đúng 4 tháng nữa để được kết thúc tiến trình đàm phán như ông chủ tịch nước đã cam kết với ông Obama trong chuyến viếng thăm nhà Trắng cuối tháng 7/2013 vừa qua.

Những tốt đẹp sau xóa cấm vận

Tôi có may mắn chứng kiến sự gặp gỡ giữa ông Phan Tường Vân với ông Richard Holbrooke hồi những năm đầu thập niên 1990s để chuẩn bị cho việc Hoa Kỳ xóa cấm vận đối với Việt Nam. Hồi đó, ông Holbrooke chỉ chịu đồng ý đàm phán riêng với ông Phan Tường Vân cho việc xóa cấm vận của Hoa Kỳ đối với Việt Nam. Một thông tin mà hầu như các thành viên còn lại của nhóm thứ Sáu của cố thủ tướng Võ Văn Kiệt, cũng không hề hay biết. Giờ cũng là lúc nên bạch hóa công lao của ông Phan Tường Vân. Những gì công lao mà lịch sử chưa ghi nhận vì điều kiện cá nhân ông không cho phép, cũng nên ghi ra cho hậu thế. Vì tất cả 3 nhân vật lịch sử: Võ Văn Kiệt, Phan Tường Vân và Richard Holbrooke cũng đã trở về với cát bụi.

Cố tiến sỹ kinh tế Harvard Phan Tường Vân - 1936 - 2007 - người đã từ chối ra đi theo diện ưu đãi đặc biệt của Hoa Kỳ vì lý do cá nhân ông. Ông ở lại Việt Nam sống thầm lặng sau cải tạo về dạy kèm tiếng Anh để sống. Ông được cố thủ tướng Võ Văn Kiệt mời vào nhóm thứ Sáu để đưa ra sách lược cởi trói kinh tế Việt Nam, với một điều kiện là không được làm ồn ào tên tuổi cũng như những gì ông đã đóng góp cho nước CHXHCNVN cũng vì lý do riêng tư. Hình của Sài Gòn Tiếp Thị

Thế mà đến nay đã hơn 20 năm từ những ngày đầu ông Holbrooke đến Việt Nam và yêu cầu gặp trực tiếp ông TS Phan Tường Vân để bàn về vấn đề xóa cấm vận với Việt Nam. Và có thể nói, người đặt nền tảng to lớn nhất để Việt Nam có hôm nay không ai khác là Tiến Sỹ Phan Tường Vân - cựu cố vấn kinh tế vĩ mô cho chính quyền Việt Nam Cộng Hòa. Người mà tôi có nhắc đến trong bài, Gương sáng ngành Y, thầy tôi BS Phan Tường Hưng ở phần bàn luận.

Có nhiều những cam kết, trong đó, ba điều lợi lớn nhất mà bên phía Hoa Kỳ yêu cầu mang lại cho người dân Việt Nam là, công dân Việt Nam được visa phổ thông đi du lịch, làm ăn, du học ra ngoài lãnh thổ một cách tự do theo pháp luật hiện hành, mà 20 năm sau thống nhất đất nước người dân Việt Nam chưa bao giờ được hưởng.

Sau đó là, người dân Việt Nam được tự do đăng ký làm ăn theo đúng pháp luật, mà trước đây chỉ có đảng cộng sản và các tổ chức của nhà nước của đảng cầm quyền tạo ra mới được làm ăn kinh tế độc quyền mọi mặt, từ quán bán hàng nhu yếu phẩm - được gọi là quầy hợp tác xã - đến các công ty lớn.

Thứ ba là, cuộc cách mạng internet cũng mở ra cho người dân Việt Nam một cách nhìn rộng hơn về thế giới, mà trước đó, với chỉ là những thông tin ao tù nước đọng phát ra từ chiến lược dân vận ở các loa làng từ địa phương tới trung ương. Người dân Việt trước đó không khác gì dân Bắc Hàn hiện nay. Người hiểu biết buộc phải đánh cược số phận với biển cả, cướp biển để được sống đúng nghĩa. Kẻ nghèo và thiếu hiểu biết cam phận làm một cổ có đến vạn tròng từ địa phương đến trung ương.

Từ đó đến nay, đời sống người dân Việt đã khá lên rất nhiều so với cuối thập niên 1980 và đầu thập niên 1990 trở về trước. Lúc mà người dân thôn quê cũng như thành thị của Việt Nam thiếu vải đến mức, mùa đông giá rét phải dùng bao cát của lính Mỹ viễn chinh, làm lô cốt để may áo quần mặc tránh rét. Lúc mà chỉ mang 5kg gạo đi từ huyện này sang huyện khác cũng bị cho là gian thương. Mọi kinh doanh buôn bán chỉ có đảng cộng sản buôn bán là hợp pháp, dân buôn bán là buôn lậu là gian thương, là phản quốc. Bữa cơm nhà cũng không dám nấu cơm chỉ thuần gạo, mà phải độn khoai để chứng minh nhà mình thuộc loại bần cố nông cho chính quyền không gây khó dễ, và rất nhiều khổ cảnh khác về lý lịch vào đại học, hộ khẩu đi lại trong nước của thanh niên chúng tôi thời ấy, v.v... Nhìn lại vấn đề này, để thấy có được hôm nay là một bước tiến khá dài nhờ vào những yêu cầu phía Hoa Kỳ đối với chính quyền cộng sản ở Việt Nam.

Rồi sau đó, Việt Nam đã mất 11 năm chuẩn bị, mà trong đó mất 8 năm đàm phán để đến 2007, vào được WTO mở ra một cánh cổng mới. Cánh cổng này đã và đang dạy cho đảng, nhà nước và dân Việt cách chơi đúng luật quốc tế. Nhưng trong 8 năm qua, việc thực hiện tiến trình WTO của nhà nước Việt Nam chưa đạt được. Một nền kinh tế sao y bản chính của Trung Hoa - tăng đầu tư công và dựa vào xuất khẩu chủ yếu dùm cho hàng Trung Hoa để tính tăng trưởng GDP - đã đẩy cả Việt Nam và Trung Hoa vào thảm họa cả mọi lĩnh vực sa sút nghiêm trọng, đe dọa cả việc sụp đổ chính quyền.

Trong cam kết vào WTO của Việt Nam có cam kết về kinh tế thì Việt Nam cần cải tổ cổ phần hóa 93 doanh nghiệp nhà nước vào năm 2012, nhưng việc này chỉ thực hiện được có 12. Bây giờ ai cũng rõ, chính những doanh nghiệp nhà nước là con sâu đục cái thân còm cỏi của người dân Việt Nam, vì hoạt động kém hiệu quả, nhưng đầu tư quá nhiều, có đến 60% đầu tư làm nên nợ xấu từ các doanh nghiệp này.

Một nghịch lý của chung cho kinh tế Trung Hoa và Việt Nam là, doanh nghiệp nhà nước làm sụp đổ kinh tế dẫn đến có thể sụp đổ nền chính trị, nhưng không có chúng thì việc "chọn hiền tài" cho đảng cầm quyền lại khó khăn. Vì cái gọi là "chọn hiền tài" cho đảng cầm quyền ngày nay là phải lobby chính sách nhờ vào tiền tham nhũng lấy từ những đầu tư công cho các doanh nghiệp nhà nước. Bỏ chúng lấy đâu ra "nhân tài" lo cho đảng cầm quyền?

TPP rào cản ít nhưng cơ hội nhiều

Nếu tháng Năm năm 1994 Hoa Kỳ xóa cấm vận cho kinh tế và thương mại Việt Nam, nó như là một cánh tay chìa ra cứu vớt Việt Nam đang trong cơn nguy khốn bị Liên Xô bỏ rơi, phải sa vào vòng tay của một sở khanh Trung Hoa. Giờ đến cánh cửa TPP Hoa Kỳ lại mở ra cho Việt Nam một cơ hội rời khỏi vòng tay tên sở khanh Trung Hoa nhiều hơn là một cái để sợ sệt như một số người âu lo, e dè chưa dám đánh giá. Như vậy những rào cản và cơ hội ấy như thế nào?

Người ít hiểu biết cho rằng, nhân quyền là một yếu tố ràng buộc Việt Nam phải cải tổ một nền chính trị tốt hơn để được vào TPP. Nhưng đó là một trong những trạng thái tinh thần của lãnh đạo hai quốc gia ký kết với cái gọi là - 9 tuyên bố chung: Joint Statement - chứ không phải là Hiệp định chung - Joint Agreement. Từ trạng thái tinh thần hưng phấn tuyên bố với nhau trong lúc trà dư tửu hậu, đến lúc ràng buộc nhau thực hiện bằng hợp đồng ký kết 2 bên là một khoảng trống rất dài, nhiều khi không bao giờ thực hiện. Hay nói cách khác là những lời hứa hảo. Và nhân quyền không phải là rào cản cho Việt Nam được vào TPP, mà kinh tế và thương mại mới là chính.

Nếu tìm thông tin chính thống của đảng mọi người sẽ không tìm thấy bất kỳ một thông tin nào về những rào cản và cơ hội này. Có 3 rào cản cũng chính là 3 cơ hội lớn không thể bỏ qua.

Xuất siêu sang Hoa Kỳ tăng theo từng năm - Nguồn VOV

Rào cản đầu tiên cũng là cơ hội lớn là ràng buộc về nguồn gốc xuất xứ hàng xuất khẩu giữa các nước thành viên TPP. Trong thương mại 2 chiều giữa các thành viên quy định, hàng hóa xuất khẩu phải có nguồn gốc sản xuất từ 12 thành viên trong TPP. Thị trường xuất khẩu của Việt Nam xuất khẩu lớn nhất hiện nay là 2 thị trường châu Âu và Hoa Kỳ. Năm 2012 Hoa Kỳ mang lại cho xuất siêu Việt Nam lên đến hơn 10% GDP - tương đương khoảng 14,8 tỷ USD/tổng GDP là 138.1 tỷ đô la trong năm 2012. Trong khi đó, nhập siêu với Trung Hoa chiếm đến hơn 11.5% GDP - tương đương 16 tỷ USD/138.1 tỷ đô la trong năm 2012.

Hai lĩnh vực xuất khẩu từ Việt Nam sang Hoa Kỳ là hàng may mặc, giày da và nông hải sản. Về thuận lợi hàng nông hải sản Việt Nam tự sản xuất tốt. Vấn đề tồn tại là vấn đề sử dụng phân bón, thức ăn và thuốc bảo vệ thực vật cho đúng cách, để vượt qua hàng rào kiểm soát của FDA. Vấn đề này trách nhiệm của các nhà khoa học và nhà nước cần phải tổ chức làm việc để có quy trình sản xuất hợp chuẩn.

Tỷ lệ phần trăm nguồn gốc nhập khẩu nguyên liệu cho ngành may mặc và giày da xuất khẩu của Việt Nam hiện nay - Hình của Cafef

Lĩnh vực xuất khẩu hàng may mặc và giày da hầu hết còn vướn ở nguyên liệu sản xuất. 23 năm qua sau Hội nghị Thành Đô - 1990 - ngành may mặc và giày da của Việt Nam hầu như bị lệ thuộc vào nguyên liệu nhập khẩu. WTO mở ra một điều kiện quá tốt, các doanh nghiệp FDI - đầu tư trực tiếp từ nước ngoài - đã giết chết các doanh nghiệp sản xuất nguyên liệu hàng dệt may và giày da của chúng ta bằng cách nhập hàng từ Trung Hoa, Hàn Quốc, Đài Loan chiếm tỷ trọng lớn nhất tương ứng 36%, 18% và 15%. Trong khi đó 2 đối tác trong TPP tương lai là Hoa Kỳ và Nhật chỉ chiếm tỷ lệ rất khiêm tốn lần lượt là 4% và 5%.

Như vậy, rào cản này sẽ giúp ngành dệt, sản xuất dâu tằm tơ, trồng bông của chúng ta sẽ sống lại, nếu muốn còn giữ được sản lượng xuất khẩu cao vào thị trường Hoa Kỳ. Qua đó, nó sẽ giúp ngành sản xuất nguyên liệu của Việt Nam phục vụ cho ngành may mặc và giày da tạo công ăn việc làm cho xã hội, giúp làm giảm tỷ lệ thất nghiệp mà khoảng 100 ngàn doanh nghiệp đã phá sản và ngưng hoạt động trong 3 năm qua. Nếu nhìn đúng đắn và khách quan thì đây không phải là rào cản, mà là cơ hội cho một nền kinh tế Việt Nam tự đứng để đi vững bền.

Nếu doanh nghiệp, nhà khoa học và chính quyền Việt Nam biết tận dụng cơ hội tốt, thì TPP sẽ còn làm cho các ngành sản xuất nguyên liệu, cũng như ngành công nghiệp phụ trợ của Việt Nam có thể trở thành là một cường quốc của khu vực, chứ không chỉ có nông hải sản và may mặc giày da.

Rào cản thứ hai cũng là cơ hội hơn là rào cản là, khi vào TPP tất cả các công ty xuất khẩu hàng sang các nước thành viên buộc phải là các công ty không chịu dưới sự hỗ trợ của nhà nước về giá, vốn đầu tư. Nó sẽ là động lực buộc nhà nước Việt Nam xem kinh tế tư nhân là thành phần kinh tế chính chủ đạo nền kinh tế quốc dân, mà lâu nay hiến pháp Việt Nam từ chối, trói buộc sức mạnh toàn dân, hòng độc quyền cai trị theo chính sách nghèo dân để trị. Đây là cơ hội cho doanh nghiệp tư nhân được rộng đường làm ăn, có sân chơi tương đối công bằng hơn, và học cách làm ăn lâu dài, có trách nhiệm với quốc gia dân tộc, hơn là kiểu làm ăn chụp giựt, thiếu tự trọng như hơn 20 năm qua. Đồng thời nó cũng là động lực góp phần cải tổ chính trị nửa dơi, nửa chuột của Việt Nam hiện nay.

Rào cản thứ ba cũng là cơ hội là, buộc các thành viên trong tổ chức TPP phải biết bảo vệ quyền lợi cho người lao động - giai cấp công nông mà lâu nay được đảng cộng sản cầm quyền luôn cho là tầng lớp lãnh đạo, nhưng là tầng lớp bị làm vật thế chấp chính trị và bị bóc lột thậm tệ nhất. Ràng buộc này buộc phải có các nghiệp đoàn độc lập với đảng cộng sản cầm quyền để kiểm soát quyền hành các ông chủ, và đem lại quyền lợi cho công nhân và nông dân. Nó sẽ góp phần không nhỏ để cải tổ chính trị Việt Nam trong tương lai, mà khó đánh giá được. Hãy nhìn từ các cuộc cách mạng từ Đông Âu sẽ rõ ràng của ràng buộc này. Công đoàn Đoàn kết Ba Lan đã giúp đất nước Ba Lan sáng lạng như hôm nay là một ví dụ. Hay nói đúng hơn, ràng buộc TPP thứ ba này là cơ hội của tổ quốc và dân tộc, nhưng là việc tháo vòng kim cô của chính quyền bị tên sở khanh Trung Hoa tráo trở đặt vào đầu 23 năm qua.

Kết thúc bài viết này chỉ còn là, việc đảng cộng sản đang cầm quyền ở Việt Nam có vì quốc gia dân tộc hay là vì lợi ích riêng tư của các thành viên đang kiếm lợi nhuận trên xương máu của đồng bào, cơ hội hay ràng buộc cũng từ nguyên nhân này mà ra. Cơ hội cho dân tộc và tổ quốc cũng là cơ hội cho đảng cầm quyền gở gạt lại uy tín không còn gì để mất. Nhưng nếu xem là ràng buộc thì, xem như nó cũng là lưỡi hái tử thần kết liễu sự cai trị độc tài của đảng cộng sản ở Việt Nam, trong lúc nền kinh tế với đầy nợ xấu không thể giải quyết đang giảm phát, nhưng lạm phát lại tăng cao từ tháng 8/2013 này.

Asia Clinic, 18h16' ngày thứ Tư, 21/8/2013

Thứ Sáu, 9 tháng 8, 2013

TPP, ABENOMICS VÀ TRỤC CHÂU Á CỦA HOA KỲ

Bài đọc liên quan:
+ Bi kịch chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ
+ 9 tuyên bố chung của Việt Nam và Hoa Kỳ
+ Bàn về kỷ vật của chủ tịch nước trao cho TT Obama

Bài viết của 2 ông Andre Stein và Miro Vassilev, là những chủ tịch của Quỹ Đầu tư Toàn cầu Cryptos, một Quỹ vĩ mô toàn cầu của New York. Stein là thành viên của New York thuộc tổ chức Sáng kiến Chính sách đối ngoại và Vassilev là một thành viên ở dự án An ninh Quốc gia Truman.

Bài viết gốc: The TPP, Abenomics and America’s Asia Pivot


Các cuộc đàm phán TPP là rất quan trọng cho cả tương lai của Nhật Bản và chính sách châu Á của Hoa Kỳ.

Nhật Bản gia nhập các đối tác đàm phán hiệp định thương mại tự do xuyên Thái Bình Dương được cho là sự kiện quan trọng nhất trong quan hệ của Hoa Kỳ với khu vực châu Á-Thái Bình Dương trong thập kỷ qua. Điều này là do tính bền vững của quyền lực chiến lược dài hạn của Hoa Kỳ ở châu Á và nỗ lực của Thủ tướng Shinzo Abe để hồi sinh nền kinh tế Nhật Bản là hoàn toàn phụ thuộc vào việc cùng nhau hợp tác này. Nếu không có một Nhật Bản hồi sinh kinh tế, châu Á sẽ ngày càng hút ra khỏi vòng tay của Hoa Kỳ và rơi vào quỹ đạo kinh tế và chiến lược của Trung Hoa. Trục Châu Á của Washington sẽ không hoàn thiện nếu không có một quyền lực Nhật Bản ở TPP, cả hai đều hỗ trợ liên minh chính trị và an ninh ngày càng tăng của khu vực châu Á-Thái Bình Dương và hoạt động như một hiệp ước chống lại kinh tế đối với Trung Hoa.

Cũng như Liên Xô dựa trên một kho vũ khí quân sự lớn cho quyền lực của nó, ảnh hưởng của Trung Hoa xuất phát chủ yếu từ nền kinh tế. Cho đến nay, Hoa Kỳ có tương đối ít đòn bẩy kinh tế trong trục châu Á của nó, chỉ một vài ngoại lệ của hiệp định thương mại tự do (FTA: Free Trade Agreement) với bạn bè chắc chắn nhất của nó như: Úc, Singapore và Hàn Quốc. Thay vào đó, Washington đã tập trung chủ yếu vào các nỗ lực chính trị và quân sự, cho dù cải thiện mối quan hệ băng giá với cựu thù như Việt Nam hoặc triển khai bổ sung các nguồn lực phòng thủ tên lửa đạn đạo khu vực.

Nếu được thực hiện, TPP bao gồm cả Nhật Bản lấp vào khoảng trống kinh tế này trong chính sách châu Á của Hoa Kỳ sẽ làm tăng luồng thương mại giữa các thành viên của nó, làm cho các thành viên ít phụ thuộc vào thương mại với Trung Hoa và qua đó tăng cường vị thế kinh tế của họ so với láng giềng khổng lồ của họ. Quan trọng hơn là, sự tham gia của Nhật Bản là nền kinh tế lớn nhất châu Á trong TPP làm nhân ảnh hưởng mạng lưới kinh tế của hiệp ước. Nó cũng kéo Hoa Kỳ trở lại trong ván bài tự do thương mại, mà trong đó Trung Hoa đã ký kết, hoặc đang theo đuổi, Hiệp định tự do thương mai với một số nước thành viên TPP bao gồm Singapore, Úc, New Zealand và Chile.

TPP cũng bổ sung các mối quan hệ an ninh của Washington. Các nước TPP chủ yếu là đồng minh quân sự thân cận của Hoa Kỳ cùng chia sẻ mối quan tâm về - và thường chịu gánh nặng của – sự vênh váo hiếu chiến quân sự khu vực của Trung Hoa. Sự phụ thuộc của Tokyo trên tuyến hàng hải nhập khẩu dầu khí tạo một trục bản lề cho những nỗ lực phối hợp về những chính sách an ninh và năng lượng khu vực, bao gồm cả những nỗ lực đần độn chướng tai gai mắt của Trung Hoa đang đe dọa các thành viên TPP trong những tuyên bố biên giới hàng hải và các nguồn dầu và khí đốt nằm dưới đáy biển.

Chiến lược của Hoa Kỳ ở châu Á dựa trên việc trẻ hóa nền kinh tế của Nhật Bản, do đó phụ thuộc vào chương trình kinh tế ba mũi nhọn của ông Abe. Hai yếu tố đầu tiên của Abenomics là, tài chính và tiền tệ, nó đã hình thành và được thiết lập để tiếp tục trong tương lai gần. Đây là việc dễ dàng của chính sách kinh tế làm giảm cơn đau đối với người bệnh bằng thuốc đắng. Nới lỏng tiền tệ khổng lồ của Ngân hàng Nhật Bản (nhiều hơn so với những nỗ lực của Cục Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ), chi tiêu thâm hụt kỷ lục và tăng kỳ vọng lạm phát là những liều thuốc kích thích đầu tiên cho nền kinh tế Nhật Bản. Như mùi cà phê khi bụng đói, lấp bụng bằng 1 ly cà phê(java fix) mạnh mẽ lúc đầu, nhưng cuối cùng thì không có hiệu quả. Nên đây là lý do tại sao Abe dự định thực hiện cải cách cơ cấu trong nước để đánh thức giấc ngủ vĩnh viễn nền kinh tế Nhật Bản từ hai thập kỷ qua.

Về chính trị, ông Abe dựa vào các cuộc đàm phán TPP như một chiếc xe để lái chương trình nghị sự cải cách cơ cấu này. Tấm ván trung tâm của những cải cách này đang được cải thiện khả năng cạnh tranh của Nhật Bản và giành lại lợi thế cạnh tranh xuất khẩu. TPP sẽ dẫn đến chi phí thấp hơn cho hàng hóa nhập khẩu, tăng cường tiếp cận khu vực cho các nhà xuất khẩu Nhật Bản và giảm sự phụ thuộc của Nhật Bản vào thương mại với Trung Hoa. Tuy nhiên tăng xuất khẩu này đòi hỏi thực hiện thành công những sáng kiến trong nước còn tranh cãi, bao gồm tăng tỷ lệ thuế tiêu thụ, nâng sự tham gia của lực lượng lao động, giảm giá điện thông qua bãi bỏ quy định, và khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài. Thách thức lớn nhất đối với Thủ tướng Chính phủ Nhật là đang cắt giảm thuế quan của Nhật Bản và các hàng rào phi thuế quan đối với mặt hàng chủ lực quan trọng như gạo, cho vùng nông thôn đã bỏ phiếu cho đảng Dân chủ Tự do, và những ý kiến đối lập trong đảng của ông. Không ngạc nhiên, khi ông Abe đã nói rằng ông sẽ phần nào bảo vệ ngành nông nghiệp trọng điểm để thuyết phục các nghị sĩ của mình hòng hỗ trợ phần còn lại của chương trình nghị sự của mình.

Chính trị trong nước của Nhật Bản sẽ ngày càng xác định sự thành công hay không của TPP. Hoa Kỳ và các đồng minh hoạch định chính sách, trong khi thừa nhận những lợi ích kinh tế quốc gia của riêng mình, nên cố gắng hết sức để hỗ trợ ông Abe trong chương trình cải cách của ông ta. Nhật Bản nên được phép chậm hơn trong việc giảm dần thuế quan nông nghiệp của mình trong một khoảng thời gian dài – để khuyến khích cả việc cải cách nông nghiệp trong nước dài hạn trong khi phải ngăn chặn một cuộc nổi dậy hàng loạt trong đảng Dân chủ Tự do làm cho có thể kết thúc sự tham gia của Nhật Bản trong TPP. Duy trì một sự im lặng có tính xây dựng trên sự mất giá của đồng Yên, đặc biệt là trong việc làm ngơ như không biết(great unknown of the post-Bernanke era) của thời kỳ hậu Bernanke(*), cũng sẽ giúp thúc đẩy xuất khẩu của Nhật Bản và phục vụ như một liều thuốc giảm đau khi cơn đau của cải cách cơ cấu đạt được.

Sự thất bại của Abenomics, trong đó có cải cách cơ cấu thúc đẩy các cuộc đàm phán TPP của Nhật Bản, có thể gây ra rủi ro ổn định toàn cầu nghiêm trọng. Nếu Abe thất bại ngay tại Nhật Bản, cải cách cơ cấu sẽ bị trì hoãn và nó sẽ làm thất bại bất kỳ hy vọng nào cho sự phục hồi của Nhật Bản. Có hai kịch bản đáng lo ngại - cả hai đều xấu cho Nhật Bản và bạn bè của mình. Đầu tiên là, không thực hiện được cải cách, chương trình nới lỏng tiền tệ lớn của ông Abe sẽ kết hợp với kích thích kinh tế thâm hụt ngân sách có thể dẫn đến tình trạng lạm phát, nó là một phức hợp khủng khiếp của tình trạng lạm phát cao, tăng trưởng còi cọc và tỷ lệ thất nghiệp gia tăng.

Thứ hai là, do gánh nặng nợ nần khổng lồ của Nhật Bản ở mức 230% GDP, chỉ tăng 2% trong lãi suất trái phiếu Chính phủ Nhật Bản sẽ nâng những chi phí dịch vụ nợ của ngân sách nhà nước đến 100%. Kịch bản này là một khả năng thực sự cho những thâm hụt thương mại và tăng trưởng chậm chạp dai dẳng của Nhật Bản. Trong trường hợp xấu nhất có thể dẫn đến một cuộc tháo chạy đối với trái phiếu Nhật Bản – vì nhà đầu tư nước ngoài đã bị mất tình trạng trú ẩn an toàn, với những con số suy giảm để bảo vệ cho Nhật Bản đón lấy cơ hội.

Một trong những kịch bản sẽ nguy khốn là Nhật Bản vỡ nợ với những chi nhánh toàn cầu khổng lồ, thì ngay cả cuộc khủng hoảng khu vực đồng euro cũng không nghĩa lý gì, chứ đừng nói đến các cuộc đàm phán TPP cũng chỉ là rác rưởi. Tồi tệ nhất là, một Nhật Bản tuyệt vọng về kinh tế có khả năng sẽ làm cho nước Nhật đi theo con đường chủ nghĩa dân tộc độc hại, đó là điều trớ trêu làm cho Nhật Bản rơi sâu hơn vào vòng tay của Trung Hoa, làm phá hoại chiến lược châu Á của Hoa Kỳ.

@The Diplomat 06 August, 2013

Ghi chú:
(*)the great unknown of the post-Bernanke era: Ý tác giả là Hoa Kỳ và đại diện là Fed sau khi Bernanke kết thúc nhiệm kỳ vào tháng giếng 2014, dù ai lên làm chủ tịch Fed cũng nên làm ngơ cho việc Nhật Bản phá giá đồng Yên như Bernanke đã làm khi Nhật Bản tung 180 tỷ đô la trong chương trình nới lỏng tiền tệ đầu năm nay, để giúp ông Abe thực hiện được cải cách cơ cấu nền kinh tế Nhật Bản có những điều làm tổn hại đến các nhà tài phiệt Nhật Bản. Nó sẽ giúp Nhật Bản hoàn thành sớm ký kết hiệp định TPP cũng là giúp cho Hoa Kỳ trong ván bài kinh tế chống lại Trung Hoa.

Asia Clinic, 17h57' ngày thứ Sáu, 09/8/2013

Thứ Năm, 11 tháng 4, 2013

VẤN ĐỀ TPP CỦA VIỆT NAM

Bài đọc liên quan:
+ Mùi mù tạc họ nhà cải và hiến pháp
+ Thấy gì qua vụ án Đoàn Văn Vươn?
+ Đám cưới chạy tan
+ Bày binh bố trận
+ Cô độc
+ Một góp ý sửa đổi hiến pháp ở Hà Nội
+ Liệu có chiến tranh trên bán đảo Triều Tiên?


Như tôi đã nhắc đi, nhắc lại nhiều lần một vấn đề cực kỳ quan trọng, trong hầu hết tất cả các bài viết gần đây, đều có liên quan đến đàm phán gia nhập Tổ chức Đối tác Kinh tế Xuyên Thái Bình Dương - TPP: Trans-Pacific Stratergic Economic Partnership Agreement - với Hoa Kỳ đang gặp trở ngại chỉ 2 vấn đề kinh tế và chính trị.

Về kinh tế là Việt Nam chưa có nền kinh tế thị trường tự do, mà vẫn là nền kinh tế bao cấp núp bóng dưới "mỹ từ" kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Về chính trị thì vấn đề nhân quyền và độc quyền chính trị là cái khó khăn từ 2008 đến nay trong quan hệ ngoại giao với Hoa Kỳ nói riêng và phương Tây nói chung.

Chuyện thay đổi hiến pháp, chuyện vụ án của Đồng Nọc Nạn thế kỷ XXI - án Đoàn Văn Vươn - chuyện dân oan kiện bị mất đất, chuyện các tù nhân bị cho là vì bất đồng chính kiến, v.v... kể cả chuyện quốc tế quanh vùng Đông Á cũng là chuyện rất nóng đang ảnh hưởng đến những quyết định để đặt trên bàn đàm phán gia nhập TPP của Việt Nam.

Entry này làm cái tổng kết bằng video clips để mọi người nắm rõ vấn đề đang rất nóng đằng sau hậu trường chạy đua vào TPP, của nhà nước Việt nam trước thời hạn cuối cùng 31/12/2013 này, để được lợi nhuận khoảng 26,2 tỷ đô la mỗi năm khi gia nhập, hòng cứu lấy nền kinh tế đang sụp đổ từng giờ, hoặc không thể vào TPP, để sụp đổ cả kinh tế lẫn chính trị và có nguy cơ sụp đổ chế độ như ông Tổng bí thư đảng cộng sản đã từng tuyên bố.

Bình luận của chuyên gia Nguyễn Xuân Nghĩa về TPP đối với Hoa Kỳ và các thành viên, trong đó có Việt Nam


Phỏng vấn TS Nguyễn Quốc Quân về vấn đề lobby chính trị cho Việt Nam vào TPP

Họp báo trước khi điều trần tại Quốc hội Hoa Kỳ về nhân quyền Việt Nam có liên quan đến việc đàm phán gia nhập TPP của Việt Nam vào tối qua giờ Việt Nam là sáng nay tại Washington DC 11/4/2013

Asia Clinic, 11h46' ngày thứ Sáu, 12/4/2013