nha ban quan tan binh | mua nha quan tan binh
Hiển thị các bài đăng có nhãn chính trị. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn chính trị. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 30 tháng 4, 2015

CÂU CHUYỆN THUYỀN NHÂN VƯỢT BIỂN VIỆT NAM

Bài đọc liên quan: 

Chuyến Tàu Hải Hồng do chính quyền cộng sản Việt Nam mua sắm từ một tàu cũ của Panama, và tổ chức thu tiền người Việt gốc Hoa để được ra đi tỵ nạn cộng sản vào tháng 11 năm 1978 và bị Indonesia và Malaysia từ chối, nó bị neo ngoài biển Đông 2 năm - Ảnh Corbis

Ngày 30/4 năm nay trên báo đảng có 1 bài báo nói láo một cách trơ trẽn về việc công an cứu người vượt biển và trả lại vàng cho dân. Mặc dù mồm lãnh đạo cộng sản vẫn kêu gọi hòa hợp hòa giải.

Tôi là một trong những người là nạn nhân của vụ mất của vì 8 lần đi vượt biển không thành từ năm 1976 đến mãi khi là sinh viên y khoa năm thứ tư, giấc mộng vượt biển không ngày nào không ám ảnh trong tâm trí tôi.

Ngay cả khi là sinh viên Y khoa ở Sài Gòn, chúng tôi vẫn tìm hài cốt lính Mỹ để cất trong tủ ký túc xá, chờ ngày đi vượt biên, để làm vật thế chấp, để được định cư nước thứ 3 sau khi đi đường bộ, hoặc đường biển đến một quốc gia Đông Nam Á, nên tôi hiểu rất rõ vụ này. Câu chuyện đã hơn 30 năm, nhưng như mới hôm qua.

Không ai thời vượt biển mà quên vụ án ông Mười Vân - tức Nguyễn Hữu Giộc giám đốc công an tỉnh Đồng Nai - vào năm 1978 đến 1979 tỉnh Đồng Nai được đảng cầm quyền giao nhiệm vụ mua sắm phương tiện, tổ chức vượt biển để kiếm tài chính cho đảng. Nhưng ông Mười Vân có thò tay bòn rút chỉ vài ngàn lượng vàng chia nhau cho nhóm trong số 2.500kg vàng thu được của dân. Nên cuối cùng ông Mười Vân bị tội xử tử hình. 

Cũng không ai có thể quên vụ Biến cố tàu Hải Hồng do chính nhà nước cộng sản Việt Nam mua lại tàu của Panama, tổ chức cho người đi vượt biển bị các chính quyền Indonesia, Malaysia từ chối cho dân vượt biển được vào đảo của họ để tạm cư. Vì họ cho rằng chính quyền cộng sản Việt Nam đẩy dân mình ra đi vừa kiếm tiền của dân, vừa bắt các quốc gia khác phải nuôi. Trong biến cố này, mỗi người ra đi phải đóng cho chính quyền cộng sản Việt Nam 16 lượng vàng để được ra đi 2500 người trên chiếc tàu Hải Hồng.


Biến cố tàu Hải Hồng đã bị neo ngoài biến Đông từ năm 1978 đến năm 1979. Nó làm cho chính phủ Canada từ quan điểm từ chối tiếp nhận người Việt tỵ nạn cộng sản phải họp quốc hội để thông qua đạo luật chấp nhận thuyền nhân tỵ nạn cộng sản, với chương trình: Saving Lives: Canada and the Hai Hong.

Và chính quyết định này của Canada đã làm lay động toàn thế giới đồng lòng cứu người vượt biển Việt Nam trong 10 năm sau đó, từ 1979 đến 1989, từ Pháp, Mỹ, Đức, Ý, Anh, Thụy Sỹ, Phần Lan, Đan Mạch, etc. Nhưng tuyệt nhiên mọi thông tin trong nước không hề hay biết, vì chính sách bế quan tỏa cảng của chính quyền cộng sản Việt Nam lúc bấy giờ.

Người vượt biển trên tàu Hải Hồng nằm la liệt vì đói khát để chờ được các quốc gia cho phép tỵ nạn. Ảnh Corbis

Trong thư ông Lý Quang Diệu gửi cho bà Margaret Thatcher vào ngày 05/6/1979 lúc ấy bà Thatcher là thủ tướng Anh có đoạn ông Lý viết rằng, 

"Vấn đề người tị nạn này rất nghiêm trọng và có lẽ sẽ còn tồi tệ hơn.

Tháng trước, tại một hội nghị quốc tế ở Jakarta ngày 15-16 tháng Năm, đại diện Việt Nam đã tuyên bố rằng Việt Nam sẽ cho phép 10,000 người di tản hợp pháp mỗi tháng. Ông ta ước chừng dè dặt là có khoảng 600,000 người muốn ra đi. Phần lớn cho rằng con số ấy có thể lên đến gần một triệu..."

Bác sĩ Bernard Kouchner thuộc tổ chức Không biên giới - Sans Frontieres - mang một đứa trẻ Việt tị nạn từ tàu Hải Hồng lên một bệnh viện trên Tàu l'Ile de Lumiere của Pháp vào năm 1979. Ảnh của Corbis.

Hầu hết hơn 90% các cuộc vượt biển của người Việt sau ngày 30/4/1975 là do đảng cầm quyền ra lệnh cho công an tổ chức, nhằm 2 mục tiêu chính:

1. Cài người sang các quốc gia phương tây để làm ăn và phục vụ cho hoạt động tình báo, giữ an ninh nội địa, theo kiểu "chúa vào Nam, nên con chiên cũng vào Nam" thời 1954, và có những Vũ Ngọc Nhạ chui tận nách chính quyền VNCH. Bây giờ thì có những đặc tình vượt biển như Nguyễn Phương Hùng ở Wesminster California.

(Từ trái qua) Thiếu tướng Đặng Trần Đức (tức Ba Quốc), Thiếu tướng Vũ Ngọc Nhạ và Thiếu tướng Phạm Xuân Ẩn, 3 con át chủ bài chiến lược trong các lưới tình báo hoạt động trước năm 1975 tại miền Nam . (Ảnh tư liệu của đạo diễn Lê Phong Lan)

2. Bắt và tịch thu vàng của dân đi vượt biển để có nguồn kinh phí cho bản thân và cho đảng cầm quyền.

Vì thế cho nên hầu hết các cuộc vượt biển mà tổ chức đông người thì đều được công an bán bãi đáp tập kết để kiếm tiền. Kết quả cuối cùng lạ hoặc bị bắt vì bị lộ, hoặc bị chìm tàu vì bị đục đáy thuyền để cướp vàng của dân đi bán chính thức, như vụ người Hoa đi bán chính thức chìm tàu trên sông Sài Gòn vào năm 1980, chết cả hơn ngàn người, mà trong đó có bà cô họ của tôi.

Số còn lại đi được đến nơi một phần là nhờ có an ninh cộng sản đi theo để thực hiện mục đích thứ nhất đã nói ở trên. Phần nhỏ là 1 hoặc 2 gia đình thân thiết tổ chức đi thuyền nhỏ, bí mật không mua bãi, nên không bị lộ.


Những người vượt biển mua bãi do công an cộng sản Việt Nam tổ chức thì đa phần bị bắt, nếu trong số đó bên chính quyền Việt Nam không cài cắm người vượt biển sang các nước phương Tây để làm tình báo.

Khi người vượt biển bị bắt vào thì công an chia người lớn thành 2 tốp nam và nữ khám xét. Việc khám xét được lột trần truồng như nhộng, kể cả khám hậu môn, âm đạo xem có giấu vàng hay không? Không loại trừ cho uống thuốc xổ để đi cầu ra phân hứng vào xô để kiểm tra vàng và hột xoàn đã được nạn nhân nuốt vào phi tang. Con nít thì chỉ khám qua loa.

Ai bị bắt mà ở tuổi hơn 18 thì bị kết tội phản động tù chính trị, đưa đi học tập cải tạo, lao động khổ sai ít nhất 6 tháng rồi mới thả ra, nếu được quản chế trại giam tù chính trị. Sau khi về thì mọi hoạt động ở địa phương có an ninh giám sát, theo dõi ít nhất 1 năm. Cho nên, ai đã bị bắt 1 lần vượt biển thì tan gia bại sản vì bị bắt nhiều lần sau đó. May mắn lắm mới có thể thoát thân sang nước ngoài sau một lần bắt.

Nhưng trong số không bị lộ đó thì cá biển và cướp biển ăn thịt hơn nửa. Vì thế con số người Việt chết trên biển vì tỵ nạn cộng sản Việt Nam tới giờ này không thể nào tổng kết được là bao nhiêu, có thể 1 triệu, hai triệu hay nhiều hơn, chưa có ai tổng kết, chỉ có hồ sơ lưu trữ của chính quyền cộng sản Việt Nam mới có được con số chính xác.

Chương trình ca nhạc "Hành trình đến tự do" của Asia do nhạc sỹ Trúc Hồ là chủ tịch và Tổng giám đóc tổ chức vào 28/3/2015 vừa qua tại Hoa Kỳ

Thậm chí có những thuyền nhân vượt biển phải ăn thịt đồng loại để được sống sót, và họ đã phải tổn thương tinh thần đến cả cuộc đời.

Tôi chỉ mong những lời chân thật này giúp các bạn trẻ hiểu như thế nào là nỗi khổ của dân Việt sau 1975 do cộng sản gây ra.

Asia Clinic, 10h20' ngày thứ Sáu, 01/5/2015

Thứ Sáu, 24 tháng 4, 2015

ĐẠO LUẬT S-219 - NGÀY HÀNH TRÌNH ĐẾN TỰ DO - CỦA QUỐC HỘI CANADA

Hình của TNS Lê Thanh Hải

Lời phi lộ

Dự luật S-219 "Ngày của Hành trình đến tự do" do Thanh Hải bảo trợ đã được Quốc hội Canada chính thức biểu quyết thông qua chiều 22/4/2015 lúc 19:15 giờ Canada. Nó kết thúc một tiến trình lập pháp được đề nghị, tranh luận và đi đến thống nhất kể từ ngày 10/4/2014. Dự luật này sẽ là viên gạch tiên phong gầy dựng một nền móng tiền lệ để các quốc gia tiên tiến bước theo, và đi đến công nhận cộng đồng người Việt Nam tỵ nạn cộng sản đàn áp dân Việt. Ngày 30/4 hằng năm ở Việt Nam, cộng sản tổ chức ăn mừng, thì người Việt ở Canada tổ chức tưởng niệm ngày quốc nhục.


Dưới đây là nguyên văn bản Anh ngữ và bản dịch Việt ngữ của Luật sư Đặng Dũngtừ Sài Gòn về Đạo Luật S-219 "Ngày của Hành trình đến Tự do" do Thượng Nghị Sỹ Canada gốc Việt, ông Ngô Thanh Hải đề xướng đã được Quốc hội Canada thông qua ngày 22 tháng 4 năm 2015. Toàn quyền Canada, ông David Johnston đã ký sắc lệnh hoàng gia ban hành đạo luật S-219 nói trên hôm 23/4/2015.

Cảm ơn TNS Ngô Thanh Hải và Quốc hội Canada đã hiện thực lịch sử Việt đúng với nó có.

Cảm ơn Luật sư Đặng Dũng đã dịch đạo luật này.

Nội dung tóm tắt
2nd Session, 41st Parliament / Phiên họp thứ Nhì, Quốc Hội kỳ thứ 41
62-63-64 Elizabeth II, 2013 - 2014 / Niên hiệu 62-63-64 Nữ hoàng Elizabeth Đệ nhị, 2013-2014-2015
Chapter 14 / Chương 14
Royal assented to 23rd April 2015 / Sắc lệnh hoàng gia ký ngày 23/4/2015
Parliament of Canada / Quốc hội Canada
BILL S-219 / Đạo Luật S-219 

As Passed by the Senate on December 8, 2014 and the House of Commons on April 22, 2015
An Act respecting a national day of commemoration of the exodus of Vietnamese refugees and their acceptance in Canada after the fall of Saigon and the end of the Vietnam War

Một đạo luật bày tỏ sự trân trọng về một ngày lễ của quốc gia để nhớ đến việc di cư của các người dân tỵ nạn Việt Nam và sự chọn lựa sinh sống và được sống tại Canada sau khi chính quyền Sài Gòn sụp đổ và chấm dứt chiến tranh Việt Nam.


AS PASS BY THE SENATE DECEMBER 8, 2014 AND THE HOUSE OF COMMONS ON APRIL 22, 2015
ĐƯỢC THƯỢNG VIỆN THÔNG QUA NGÀY 08/12/2014 VÀ VIỆN THỨ DÂN THÔNG QUA NGÀY 22/4/2015

SUMMARY – TÓM TẮT

This enactment designates the thirtieth day of April in each and every year as “Journey to Freedom Day”.
Việc ban hành đạo luật này xác định rằng ngày thứ 30 của tháng 4 hàng năm sẽ được coi là kỷ niệm “Ngày Hành trình đến Tự do”.

Whereas the Canadian Forces were involved in the Vietnam War with supervisory operations to support the aim of establishing peace and ending the Vietnam War by assisting in the enforcement of the Paris Peace Accords of 1973;
Xét rằng Quân đội Canada đã liên quan đến cuộc chiến Việt Nam bằng hoạt động giám sát và hỗ trợ với mục đích thiết lập hòa bình và chấm dứt cuộc chiến Việt Nam bằng việc tham gia vào lực lượng thực thi Hiệp định Hòa bình Paris 1973;

Whereas on April 30, 1975, despite the Paris Peace Accords, the military forces of the People’s Army of Vietnam and the National Liberation Front invaded South Vietnam, which led to the fall of Saigon, the end of the Vietnam War and the establishment of the Socialist Republic of Vietnam Government;
Xét rằng vào ngày 30 tháng 4 năm 1975, mặc dù đã có Hiệp định Hòa bình Paris nhưng quân đội Việt Nam và Mặt trận Giải phóng Miền Nam Việt Nam đã xâm lược Miền Nam và dẫn đến sự sụp đổ của chính quyền Sài Gòn, chấm dứt cuộc chiến và thiết lập nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam;

Whereas the United Nations High Commissioner for Refugees has reported that these events and the conditions faced by individuals in Vietnam, including deteriorating living conditions and human rights abuses, contributed to the exodus of approximately 840,000 Vietnamese people, who were referred to at the time as “Vietnamese boat people”, to neighbouring countries in the ensuing years;
Xét rằng Cao Ủy Liên Hiệp Quốc về tị nạn đã báo cáo rằng các biến cố đó và vì mỗi con người Việt nam phải đối mặt với nó và điều kiện sống ngày một xấu đi và cùng với việc bị xâm phạm nhân quyền, những điều đó đã khiến cho cuộc di cư của khoảng 840.000 người Việt nam mà chính họ vào thời gian đó là trở thành các “thuyền nhân Việt Nam “ di cư đến các quốc gia láng giềng của VN vào những năm sau đó;

Whereas the United Nations High Commissioner for Refugees has reported that at least 250,000 Vietnamese people lost their lives at sea during the exodus of the Vietnamese people for reasons that included drowning, illness, starvation and violence from kidnapping or piracy;
Xét rằng Cao Ủy Liên Hiệp Quốc về người tỵ nạn đã báo cáo cho biết rằng có ít nhất 250.000 người Việt Nam đã bỏ mạng ngoài khơi trong cuộc di cư của người Việt Nam, họ đã chết vì chết đuối, bệnh tật, đói khát, bị bạo lực, bắt cóc và hãm hiếp;

Whereas the sponsorship refugee program in Canada, assisted by the efforts of Canadian families, Canadian charities, religious groups and non-governmental organizations, contributed to Canada accepting more than 60,000 Vietnamese refugees, among whom it has been estimated that 34,000 were privately sponsored and 26,000 were assisted by the Canadian government;
Xét rằng với chương trình bảo trợ người tỵ nạn ở Canada, được thực hiện với những nỗ lực của các gia đình người Canada, của các hội từ thiện Canada, của các nhóm tôn giáo và các tổ chức phi chính phủ, đã đóng góp vào việc Canada đã chấp nhận hơn 60.000 người tỵ nạn trong số đó có đến 34.000 người được các hội đoàn tư nhân bảo trợ và 26.000 người tỵ nạn được bảo trợ bởi chính quyền Canada.

Whereas the major and sustained contribution by the people of Canada to the cause of refugees was recognized by the United Nations High Commissioner for Refugees when it awarded the Nansen Refugee Award to the “People of Canada” in 1986; And whereas April 30 is referred to by many members of the community of displaced Vietnamese people and their families in Canada as “Black April Day”, or alternatively as “Journey to Freedom Day”, and is, therefore, an appropriate day to designate as a day to remember and commemorate the lives lost and the suffering experienced during the exodus of Vietnamese people, the acceptance of Vietnamese refugees in Canada, the gratitude of Vietnamese people to the Canadian people and the Government of Canada for accepting them, and the contributions of Vietnamese-Canadian people — whose population is now approximately 300,000 — to Canadian society;
Xét rằng đa số sự giúp đỡ duy trì được bởi người dân Canada vì nguồn gốc của việc tỵ nạn của người tỵ nạn được chấp nhận bởi Cao Ủy LHQ về người tỵ nạn, và sự giúp đỡ này đã được tưởng thưởng bằng giải thưởng cao quí về Người tỵ nạn Nansen cho người dân Canada vào năm 1986, và xét rằng ngày 30 tháng 4 được mọi người nói đến trong cộng đồng trong việc họ phải thay đổi cuộc sống và nơi định cư của người dân Việt Nam và gia đình của họ lưu lạc đến Canada như là “ Ngày tháng Tư đen” trở thành “Ngày Hành trình đến Tự do” và do đó thích đáng để trở thành ngày mà mọi người nhớ đến và tưởng niệm những mạng người đã bị mất và những kinh nghiệm đau đớn mà những người tỵ nạn phải trải qua trong cuộc di cư của người dân Việt Nam và sự được chấp nhận cho người Việt Nam được sinh sống tại Canada và được chính phủ Canada chấp thuận và cũng là để nhớ đến sự đóng góp của người dân Canada - và người dân Việt Nam mà số dân này hiện nay có vào khoảng 300.000 người trong xã hội Canada;

Now, therefore, Her Majesty, by and with the advice and consent of the Senate and House of Commons of Canada, enacts as follows/
Do vậy, nay nhân danh Quyền năng của Nữ hoàng,căn cứ và với sự cố vấn và đồng thuận của Thượng Viện và Thứ Dân Viện nước Canada, nay ban hành đạo luật:

SHORT TITLE / Tên gọi ngắn gọn :
1. This Act may be cited as the Journey to Freedom Day Act. JOURNEY TO FREEDOM DAY.
1. Đạo luật này được gọi là “Ngày Hành trình đến Tự do”.

2. Throughout Canada, in each and every year, the thirtieth day of April shall be known as “Journey to Freedom Day”.
2. Khắp đất nước Canada, hàng năm và mỗi năm, vào ngày thứ Ba mươi của tháng Tư sẽ được biết đến như là “Ngày Hành trình đến Tự do”.

3. For greater certainty, Journey to Freedom Day is not a legal holiday or a non-juridical day.
3. Để rõ nghĩa hơn,“Ngày Hành trình đến Tự do” sẽ là ngày lễ kỷ niệm nhưng không phải là ngày nghỉ lễ chính thức.


Asia Clinic, 13h46' ngày thứ Bảy, 25/4/2015

Chủ Nhật, 5 tháng 4, 2015

THƯ LÝ QUANG DIỆU GỬI CHO MARGARET THATCHER VỀ VẤN ĐỀ THUYỀN NHÂN TỴ NẠN VIỆT NAM NĂM 1979

Bài đọc liên quan: Nước mắt chính trị gia

Về mặt chăm lo đất nước Singapore nhỏ bé thì ông Lý Quang Diệu là một người có tâm, và có tầm nhìn chiến lược toàn cầu. Nhưng trong ông vẫn mang tư tưởng của Mao Trạch Đông học từ Tần Thủy Hoàng: "Thiên hạ đại loạn thì Trung Hoa được nhờ".

Tư tưởng ấy đã được ông Lý Quang Diệu áp dụng đưa Singapore trong cuộc chiến tranh Việt Nam, Singapore đã buôn bán dầu và các nhu yếu phẩm cho cuộc chiến này. Trong 30 năm nội chiến Việt Nam, Thái Lan, Mã Lai Á và Singapore là 3 quốc gia kiếm lợi nhuận nhiều nhất cho quân nhu, khí tài phục vụ chiến tranh.

Nhưng sau 30 tháng 4 năm 1975, dân Việt Nam vì đời sống quá khó khổ và áp bức của chính quyền mới, họ đã bỏ nước ra đi bằng con đường vượt biển. Chính ông Lý Quang Diệu là người đưa ra chủ trương không tiếp nhận thuyền nhân Việt Nam. Và ông không chỉ cấm tại đất nước của ông, mà ông còn muốn các quốc gia khác từ chối tiếp nhận thuyền nhân Việt Nam qua bức thư ông gửi cho bà thủ tướng đương nhiệm Anh lúc bất giờ - Margaret Thatcher - sau đây:



"Ngày 5/6/1979

Thưa Thủ tướng,

Cảm ơn bà về bức thư ngày 30 tháng Năm.

Vấn đề người tị nạn này rất nghiêm trọng và có lẽ sẽ còn tồi tệ hơn.

Tháng trước, tại một hội nghị quốc tế ở Jakarta ngày 15-16 tháng Năm, đại diện Việt Nam đã tuyên bố rằng Việt Nam sẽ cho phép 10,000 người di tản hợp pháp mỗi tháng. Ông ta ước chừng dè dặt là có khoảng 600,000 người muốn ra đi. Phần lớn cho rằng con số ấy có thể lên đến gần một triệu.

Bà có đề nghị tôi thỉnh nguyện chính phủ Đài Loan nhận những người tị nạn trên con tàu "Roach Bank". Vì quan điểm của chính nước tôi trong vấn đề người tị nạn Việt Nam, tôi không thực sự là người thích hợp để đưa ra yêu cầu đó. Chính sách của Đài Loan không khác gì chính sách của Singapore. Tuy nhiên, tôi sẽ đề nghị họ cân nhắc việc đưa ra một ngoại lệ, ngoại lệ duy nhất, cho những người tị nạn trên tàu "Roach Bank". Tôi không lạc quan về kết quả, vì tôi biết rằng nếu họ chấp nhận thì cử chỉ đó sẽ kéo theo hàng ngàn người tị nạn khác.

Tôi tin rằng những tin tức về vấn đề người tị nạn trên truyền thông và từ các phát ngôn viên của các chính phủ phương Tây chỉ làm lợi cho chính quyền Việt Nam. Chú trọng vào những giải pháp có thể đặt ra, chẳng hạn nước nào sẽ đảm nhận những người tị nạn nào và bao nhiêu, truyền thông đã biến họ thành đối tượng cho sự đổ lỗi lẫn nhau giữa các chính quyền phi cộng sản. Các nước này sẽ bảo đảm được quyền lợi của mình hơn, nếu tập trung năng lượng vào việc vạch trần sự bỉ ổi của chính quyền Việt Nam. Phải nói, phải nhắc đi nhắc lại, cho nhân dân và các nhà lãnh đạo trên toàn thế giới biết rằng chính quyền nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam chính là kẻ tích cực xúc tiến cuộc di tản ồ ạt này, gây thiệt hại nặng nề cho các nước Đông Nam Á.­­

Chúng ta phải đẩy họ vào thế thủ. Các nhà lãnh đạo Việt Nam không phải là những kẻ điên rồ vô lý như kiểu Idi Amin[6]. Họ có đầu óc lạnh lùng tính toán, không hề biết động lòng với chính đồng bào mình, nhưng làm phép tính giữa chi phí và lời lãi thu về thì rất nhanh. Chỉ có nguy cơ bị cộng đồng quốc tế ruồng bỏ mới khiến họ phải suy xét lại đường lối hiện tại. Từ giờ đến lúc đó, họ sẽ còn tung ra hàng ngàn người tị nạn mỗi tuần.

Kính thư

Lý Quang Diệu"

Asia Clinic, 17h49' ngày Chúa Nhựt, 05/4/2015

Chủ Nhật, 15 tháng 3, 2015

VẤN ĐỀ HÔM NAY: CÁNH TẢ SUY TÀN

Bài đọc liên quan:
+ Tứ toàn của Tập Cận Bình bất khả thi
+ Tả, hữu và tương lai toàn cầu
+ Công hữu, tư hữu và hình thái xã hội loài người
+ Cáo chung của thế quyền và thần quyền cực đoan
+ Ukraina đừng tưởng bở

Mặc dù niềm tin tiêu dùng của Hoa Kỳ không như mong đợi chỉ đạt 91.2 điểm. Nhưng sau cú tung 60 tỷ Euro của EU thì chỉ tệ đồng đô la Mỹ tăng vọt đến 100.24 điểm. 

Đồng bạc xanh mạnh đã đánh rớt giá dầu rất mạnh ở cuối tuần xuống chỉ còn $44.84/thùng. Sáng đầu tuần hôm nay giá dầu còn giảm tiếp chỉ còn $43.95/thùng. Nhưng chính quyền Việt Nam lại đưa tin vịt rằng, giá dầu thế giới tăng mạnh nhất trong 6 năm qua, để tăng giá xăng dầu hơn 10%, rồi tiếp tục tăng gía điện 7.5% ngay hôm nay, nhằm cứu sụp đổ kinh tế đang đến tận nóc, sẽ làm sụp đổ đảng cầm quyền.

Giá dầu giảm liên tục từ ngày 13/02/2015 từ $52.50/thùng đến ngày 13/3/2015 chỉ còn $44.84/thùng

Vàng cũng cùng chung số phận rớt giá liên tục, hôm nay chỉ còn $1155.20/ounce. Đồng Euro cũng giảm chỉ còn ăn 1.04 đô la Mỹ.

Tình hình giá dầu giảm không biết có là nguyên nhân chính để ông Putin vắng mặt suốt 13 ngày qua hay không, mặc dù đồng Rub Nga vẫn giữ vững ở mức 62.36 Rub ăn 1 đô la Mỹ. 

Xung quanh tin ông Putin mất tích 11 ngày qua là những thông tin đáng sợ hơn là, Kadyrov (tổng thống chính quyền Chechnya thân Putin) trong những ngày gần đây đã có những nỗ lực đàm phán với nhà cầm quyền Jordany để Ramzan Kadyrov cùng gia đình được nhập lãnh thổ Jordany. Đồng thời, theo báo cáo trước đây, thủ trưởng cơ quan an ninh bảo vệ Kadyrov đã đột nhiên ngã bệnh và ông ta cũng ngừng mọi giao tiếp với bên ngoài.

Càng đáng lo ngại hơn nữa cho Putin là, mới đây cố vấn của Putin, ông Vladislav Surkov cùng đã cùng gia đình vội vã đi Hongkong. Tại sao như vậy thì cả thế giới hoàn toàn không hay biết điều gì sẽ xảy ra. Nhưng việc Putin mất tích thì có rất nhiều giả thuyết đã đặt ra, nào thăm bồ nhí sinh con gái cho Putin ở Thụy Sỹ. Nào là bị lật đổ. Nào là đổ bệnh phải an dưỡng, etc.

Dù gì thì tình hình nước Nga và bản thân ông Putin đang rất nguy hiểm, sau cái chết của đối thủ chính trị Boris Nemtsov là điều cần phải quan tâm. Quan trọng hàng đầu là, yếu tố trừng phạt Nga của Hoa Kỳ và phương Tây với nước Nga trong 6 tháng qua mà tôi đã viết một bài - Ukraina đừng tưởng bở - thì cái chết của ông Nemsov mới là điều đáng để liên quan đến sự mất tích của Putin hơn là tất cả những yếu tố khác.

Trong khi nước Nga bấn loạn thì, Trung Hoa cũng không tốt đẹp gì, họ đang họp quốc hội để đưa ý tưởng tứ toàn của ông Tập Cận Bình cứu nước. Nhưng như tôi đã viết, Tứ toàn là bất khả thi.

Chính vì cả 2 anh lớn của cánh tả đang liu xiu nên đàn em cánh tả cũng lo phải đi trước. Bắt đầu là Cu Ba bình thường hóa quan hệ với Hoa Kỳ cách đây 2 tháng. Bây giờ đến Bắc Hàn muốn đổi mới theo kiểu Việt Nam. Nhưng Việt Nam vẫn chậm chân hơn Miến Điện, và hôm nay vẫn loay hoay làm sao thoát cái vòng kim cô mà Trung Hoa đã đặt lên đầu Việt Nam 25 năm qua?

Cách đây 10 năm, khi kinh tế Hoa Kỳ lâm vào khủng hoảng, những gói nới lỏng tín dụng - QE: Quantity Easing - được Fed tung ra làm chỉ tệ đồng đô la rớt dài đến thấp nhất trong lịch sử ở mức 78 điểm. Giá dầu và giá vàng tăng tột đỉnh $140/thùng và vàng $1900/ounce. 

Ông Obama tuyên bố đại khủng hoảng vào năm 2008, một loạt khối ung thư của nền kinh tế Hoa Kỳ phải cắt bỏ. Và chỉ 6 năm sau, ngày nay, kinh tế Hoa Kỳ phụ hồi, kèm theo dầu đá phiến đã làm cho Hoa Kỳ không còn phụ thuộc năng lượng Trung Đông. Giá dầu giảm, cùng với Nga xâm chiếm Crimea ở Ukraina, và kinh tế châu Âu suy thoái.

Giờ đến lúc châu Âu làm lại bài học Hoa Kỳ - nới lỏng tín dụng 1.140 tỷ Euro trong 18 tháng - thì cũng là lúc giá dầu, giá vàng rớt giá, và cánh tả rách ướt tả tơi. Đàn em cánh tả vắt giò lên cổ di tản, ve vản cánh hữu. Liệu chiến lược châu Á Thái Bình Dương - Hoa Kỳ bỏ Trung Đông quay lại Thái Bình Dương sau 40 năm - có là cú đánh quyết liệt cuối cùng để thế giới cộng sản sụp đổ trên toàn thế giới?

Asia Clinic, 8h09' ngày thứ Hai, 16/3/2015

Thứ Hai, 9 tháng 3, 2015

DỰ THẢO BÁO CÁO CHÍNH TRỊ ĐẠI HỘI ĐẢNG XII: CHỆCH HAY KHÔNG CHỆCH HƯỚNG?



Hoa Kỳ không có chủ thuyết, mà Hoa Kỳ chỉ có trường phái. Như tôi đã viết trong nhiều năm qua, ở Hoa Kỳ có 2 trường phái trị quốc và toàn cầu - Dân chủ và Cộng hòa.

Cũng như tôi đã viết, thế giới làm ra chủ thuyết và tư tưởng, nhưng thế giới không áp dụng được các chủ thuyết và tư tưởng ấy, mà nơi áp dụng các chủ thuyết nhuần nhuyễn nhất và hiệu quả nhất lại là Hoa Kỳ.

Nếu năm 1750 khi John Lock của Anh và Nam Tước Monstequieu của Pháp hình thành lý thuyết đa nguyên tản quyền, thì chỉ 16 năm sau quốc gia non trẻ Hoa Kỳ đã ứng dụng ngay một nhà nước đa nguyên tản quyền với 2 trường phái Cộng hòa và Dân chủ. Trong khi châu Âu vẫn còn các quốc gia đang ngụp lặn với hình thái đa nguyên tập quyền hiện nay như Nga.

Nếu năm 1848 Marx và Engels cho ra đời chủ nghĩa cộng sản khoa học, thì trước đó rất lâu, 1790, Hoa Kỳ đã có trường phái Dân chủ - về mặt bản chất là một kiểu cộng sản xa lông - để điều hành đất nước.

Tùy vào hoàn cảnh đất nước và thế giới mà, Hoa Kỳ sẽ chọn Cộng hòa hay Dân chủ để điều hành. Nhưng trên hết là Hoa Kỳ rất hữu hiệu trong áp dụng các tư tưởng và lý thuyết về khoa học xã hội để tạo nên một quốc gia đúng quy luật.

Tức có nghĩa là Hoa Kỳ biết cái khiếm khuyết và ưu điểm của cả tư bản và cộng sản. Họ biết khi nào chuyển điều hành đất nước và toàn cầu theo tư bản, và khi nào theo kiểu cộng sản. Nhưng cả 2 trường phái có một điểm chung là tôn trọng quyền cá nhân tối thượng trên mọi lĩnh vực trong khuôn khổ luật và hiến pháp đã đặt ra.

Nền chính trị Hoa Kỳ luôn có 2 mặt đối lập - Dân chủ và Cộng hòa - trong một thể thống nhất là đưa Hoa Kỳ thành cường quốc số 1 toàn cầu. Đó là quy luật thống nhất các mặc đối lập, và quy luật mâu thuẩn của duy vật luận.

Không những thế, để giảm thiểu sai sót sau 2 mặt đối lập của nền chính trị Hoa Kỳ, họ còn tản quyền với tam đầu chế - lập pháp, hành pháp và tư pháp để kiểm tra lẫn nhau. Chính điều này, công dân Mỹ từ tổng thống đến thường dân đều sống và tuân theo hiến pháp và pháp luật, mà không cần hô khẩu hiệu, hay dán băng rôn nhan nhản khắp đường như ở Việt Nam.

Tản quyền, đa nguyên, đối lập là phương án tốt nhất để triệt tiêu tham nhũng, nhưng ngay cả Hoa Kỳ cũng chưa thể bài trừ được hết tham nhũng. Nhưng đơn nguyên tập quyền như ở Việt Nam thì người ta lại nói lên vấn đề chống tham nhũng, thật sai khoa học. 

Thế thì Hoa Kỳ có nền kinh tế thị trường định hướng hay không? Xin thưa là có. Nhưng kinh tế là chính trị. Nên nền kinh tế chính trị của Hoa Kỳ luôn là nền kinh tế chính trị không những định hướng cho nước Mỹ, mà còn định hướng cả toàn cầu. Vì chỉ một thông tin từ Fed hay từ thống kê của các đại học Hoa Kỳ về tỷ lệ có việc làm ở 2 lĩnh vực nông nghiệp, và phi nông nghiệp, hoặc tỷ lệ tăng trưởng, hoặc dự trữ dầu thô, etc của Hoa Kỳ đều làm kim chỉ Nam cho toàn bộ nền kinh tế toàn thế giới.

Không những có định hướng kinh tế mà Hoa Kỳ còn định hướng cả chính trị toàn cầu.

Dân chủ - hay nói cách khác là cộng sản xa lông - thì định hướng có tính hướng nội, lo xây dựng Hoa Kỳ bằng một nền kinh tế vững mạnh. Chỉ mới chưa đầy 2 nhiệm kỳ mà phe Dân chủ của ông Obama đã kéo Hoa Kỳ ra khỏi Đại khủng hoảng kinh tế, giảm nạn thất nghiệp 2 con số xuống còn 5.7%, và kinh tế tăng trưởng trở lại 3%. Cai quản trong nước và thế giới bằng bàn tay sắt bọc nhung, lấy kinh tế để sai khiến quốc gia và toàn cầu. Chuyện trừng phạt Nga do chiến trường Ukraina đang diễn ra cho thấy rõ. Nói thế không phải dân chủ không dùng vũ lực, nhưng vũ lực khi Dân chủ dùng thì chắc phải thắng và ít tổn thất nhất. Ví dụ, tiêu diệt Bin Laden chỉ bằng 16 quân nhân SEAL và chỉ hư một trực thăng.

Cộng hòa - hay nói đúng là tư bản - thì định hướng có tính hướng ngoại, giao quyền cai quản đất nước cho từng tiểu bang. Đập phá thế giới ở những nơi cần đập phá để phục vụ cho quyền lợi và sức mạnh của Hoa Kỳ. Ưu tiên nhà giàu để tăng đầu tư, thúc đẩy tăng trưởng và tạo công ăn việc làm không chỉ trong nước mà cả trên toàn cầu. Nếu Dân chủ dùng bao vây kinh tế để đánh sụp đối thủ, thì Cộng hòa dùng chạy đua vũ trang cho đến khi đối thủ kiệt quệ, và kích thích khoa học kỹ thuật phát triển phục vụ cho chiến tranh. Sau khi Cộng hòa đập phá để biểu dương và chứng tỏ sức mạnh vai u thịt bắt thì lại đến Dân chủ xây dựng củng cố để phục hồi sức lực, etc.

Cả hai phe Dân chủ và Cộng Hòa như cặp vợ chồng đồng sàng, đồng mộng. Hai trường phái thay nhau để cai trị và xây dựng Hoa Kỳ thành số 1 thế giới tùy theo hoàn cảnh.

Nói thế để quay lại vấn đề kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Mấy hôm nay, vấn đề này được đem ra để soạn thảo, tìm định nghĩa chuẩn bị cho đại hội đảng cộng sản Việt Nam vào quý III năm 2016. Có ý kiến nếu để thị trường đi theo đúng quy luật thì sợ bị chệch hướng với định hướng của đảng cộng sản đang cầm quyền ở Việt Nam.

Nhưng, đã là quy luật khoa học thì là cái chung nhất, không thể bóp méo hay định hướng phi khoa học như những nhà lý luận của Việt Nam hiện nay. Kinh tế thị trường là nền kinh tế tuân theo quy luật cung cầu. Bóp méo và định hướng nó như thị trường bất động sản Việt Nam trong 20 năm qua - theo mô hình kinh tế đổi tài nguyên môi trường lấy cơ sở hạ tầng của Trung cộng - thì bây giờ, cả 2 quốc gia Việt Trung đang chết cứng với nợ công và đóng băng bất động sản, mà chưa có giải pháp để tháo gở.

Trong cuộc họp chính phủ đầu tháng 3/2015 có nhiều ý kiến của các nhà lý luận trung ương sợ đi theo kinh tế thị trường thì sẽ chệch hướng luận cương của đảng cầm quyền.

Ông thủ tướng Việt Nam đã phát biểu đúng trong cuộc họp chính phủ ngày hôm qua: "nền kinh tế phải vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, theo các tiêu chuẩn phổ biến của nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế; bảo đảm tính đồng bộ giữa thể chế kinh tế và thể chế chính trị, giữa Nhà nước và thị trường; Nhà nước đóng vai trò định hướng, sử dụng các nguồn lực của Nhà nước và công cụ, chính sách để định hướng và điều tiết nền kinh tế…" Nhưng do nền chính trị Việt chưa đi đúng quy luật khoa học xã hội, nên cái định hướng của nhà nước Việt vẫn chưa có bộ lọc đối lập đúng nghĩa; tam đầu chế ở Việt Nam chưa tản quyền, nên sẽ có những định hướng có tính sai lệch trong tương lai là điều hiển nhiên.

Vấn đề của Việt Nam trong đại hội đảng lần thứ 12 không phải là vấn đề lý luận tìm ra cái định nghĩa mà người ta không cần định nghĩa, như phải giải cái bổ đề toán học của Giáo Sư Ngô Bảo Châu đã giải, mà hơn nửa thế kỷ trước đã được thế giới công nhận để khoa học thế giới ngày càng phát triển hơn. 

Vấn đề của Việt Nam là phải thay đổi hình thái chính trị để phù hợp với cái gọi là kinh tế thị trường đúng khoa học, chứ không bị định hướng nền kinh tế lẫn chính trị như hiện nay theo quyền lợi của một nhóm người là chệch hướng và phi khoa học với nhân loại.

Asia Clinic, 15h27' ngày thứ Hai, 09/3/2015

Thứ Tư, 4 tháng 3, 2015

BÀN VỀ CƠN SỐT KHỔNG TỬ HIỆN NAY

Một bài viết của Lưu Hiểu Ba - người đang ở trong nhà tù Trung Hoa và được giải Nobel Hòa Bình năm 2010, nhưng không được nhận như Boris Pasternek của Liên Xô cũ không được nhận Nobel Văn chương năm 1958 - về sự bành trướng sức mạnh mềm của Trung Hoa. 

----------------------------

Hôm qua làm chó nhà tang, hôm nay làm chó gác cửa

22 Tháng 11, 2012

Tác giả: Lưu Hiểu Ba

Phan Trinh dịch

Lời giới thiệu của người dịch

1. “Chó nhà tang” và “chó gác cửa” ở đây chỉ Khổng Tử. Đề tài này có thể hơi nhạy cảm với ít nhiều trí thức Việt Nam, vì nó đưa ra một cái nhìn hơi lạ về một người quen, và có lẽ cũng vì trong Văn Miếu Quốc Tử Giám hiện nay vẫn có bệ thờ Khổng Tử.

Thoạt đọc, bài này có vẻ như muốn ‘hạ bệ’ Khổng Tử, nhưng đọc kỹ, người đọc sẽ thấy Lưu Hiểu Ba muốn tìm lại sự thật cho Khổng Tử, và thấy Khổng Tử cũng như nhiều trí thức xưa nay lúc thì bị ruồng rẫy, khi thì được ‘phong thánh’, được gán cho nhiều điều mình không có, và trở thành bao tay nhung che cho bàn tay sắt.

2. Tên của Khổng Tử và Lưu Hiểu Ba trong vài năm qua nhiều lần được nhắc chung. Lưu Hiểu Ba viết bài này về Khổng Tử ngày 18/8/2007. Năm 2010, nhà cầm quyền Trung Quốc vội vã thành lập Giải Khổng Tử để đối trọng với Giải Nobel Hòa Bình vừa được trao cho Lưu Hiểu Ba, vì nỗ lực đấu tranh cho nhân quyền của ông. Cũng nên nhắc lại là vào Lễ Noel 25/12/2009, Lưu Hiểu Ba bị Bắc Kinh kết án 11 năm tù vì tội tuyên truyền chống nhà nước, còn Giải Khổng Tử năm 2011 thì được trao cho Vladimir Putin, lãnh tụ Nga có khuynh hướng độc tài*.

3. Cơn sốt Khổng Tử mà Lưu nói tới vẫn kéo dài đến nay. Viện Khổng Tử (gần như Viện Goethe, Hội Đồng Anh…) công cụ của quyền lực mềm trong tay nhà cầm quyền Trung Quốc, mở cơ sở đầu tiên năm 2004, đến nay đã có hơn 320 Học viện được thành lập trên thế giới, trong đó 1/5 là ở Mỹ **.

4. Đọc bài này, rất có thể người đọc sẽ nêu câu hỏi: Liệu có điểm gì giống nhau giữa Viện Khổng Tử và Viện Trần Nhân Tông, Giải Khổng Tử và Giải Trần Nhân Tông được nhắc tới gần đây với ít nhiều nghi ngại hay không.

5. Bản dịch này dựa trên bản tiếng Anh, có tham khảo bản tiếng Trung. Bản tiếng Anh có tựa “Yesterday’s Stray Dog Becomes Today’s Guard Dog” (Chó hoang hôm qua nay thành chó giữ nhà) do Thomas E. Moran dịch, in trong cuốn No Enemies, No Hatred (Không thù, không ghét) tuyển tập luận văn và thơ Lưu Hiểu Ba, do Perry Link, Tienchi Martin-Liao và Lưu Hà biên tập, xuất bản năm 2012 tại Anh Quốc. Bản tiếng Trung có tựa “昨日丧家狗 今日看门狗 – 透视当下中国的“孔子热”” (Tạc nhật táng gia cẩu, kim nhật khán môn cẩu, thấu thị đương hạ Trung Quốc đích “Khổng Tử nhiệt”), xuất bản lần đầu trên vào ngày 2/9/2007 trên boxun.com.

P.T.
-----------------------------------------------------

Người Trung Quốc hiện rất phấn khích vì nước nhà đang trỗi dậy như một cường quốc. Nhờ kinh tế trỗi dậy nên văn hóa cũng trỗi dậy, nhờ tung tiền khắp nơi nên “quyền lực mềm” cũng được xuất khẩu ra thế giới. Trong nước, người người đua nhau chạy theo cơn sốt đọc cổ văn, cơn sốt thờ Khổng, cơn sốt theo đạo Nho. Chương trình Bách gia Giảng đường của Đài Truyền hình Trung ương Trung Quốc (CCTV) cũng khởi xướng cơn sốt đọc lại Luận ngữ nhằm phục hồi đạo đức truyền thống. Trong khi đó ở ngoài nước, Trung Quốc đầu tư lớn để mở hàng loạt các “Viện Khổng Tử” nhằm lan tỏa quyền lực mềm. Giấc mơ bá chủ thiên hạ của Trung Quốc bị dồn nén hơn thế kỷ nay lại có cơ tái xuất giang hồ. Đức Khổng Tử ở trong và ngoài nước bỗng kết thành một trận tuyến liên hoàn. Cơn sốt Khổng Tử quả là càng lúc càng nóng.

Nhưng, đàng sau cơn phấn khích của đám đông kia, tôi cho rằng không phải là ước muốn khôi phục nền đạo đức cũ, mà là toan tính phục hồi truyền thống sùng bái thánh Khổng, một phần không thể thiếu trong kế hoạch của nhà nước nhằm đẩy mạnh chủ nghĩa dân tộc cực đoan.

Những năm sau biến cố Thiên An Môn [1989], nhà nước một mặt chống lại các nỗ lực đòi hỏi tự do, chống “diễn biến hòa bình”, một mặt lại thổi bùng tình cảm “yêu nước” cực đoan. Chủ nghĩa yêu nước cực đoan này, rường cột cho ý thức hệ mới của nhà cầm quyền Trung Quốc, kết hợp với chiến dịch quảng bá cho cái mà Đảng Cộng sản Trung Quốc gọi là “Thời hoàng kim thịnh vượng” đã làm làn sóng dân tộc chủ nghĩa dâng cao vô tội vạ. Không gì rõ hơn những dòng này ở cuối “Tế văn Vinh danh Khổng Tử, nhân Liên hoan Văn hóa Khổng Tử Quốc tế 2005, tại Khúc Phụ, Trung Quốc”. Tế văn viết những lời có cánh như sau: “Thời hoàng kim vừa đến, nuôi giấc mơ đại đồng; Mừng gặp thời thịnh vượng, và cường quốc vinh quang”. Thật là một bản song tấu rổn rảng điển hình khi chủ nghĩa dân tộc hòa vào ‘Phúc âm’ của “Thời hoàng kim”.

Trong một năm qua, việc cổ xúy văn hóa truyền thống trên chương trình Bách gia Giảng đường của CCTV đã góp phần biến Khổng Tử thành một món hàng thời thượng, hoặc mượn lời của Lỗ Tấn, thành “‘Mô-đen’ Khổng Tử”. (Điều tương tự từng rộ lên cách đây vài năm khi Mao Trạch Đông cũng trở thành một thứ “mốt”.) Hiện sách vở đủ loại về Khổng Tử đang hốt bạc cho các nhà xuất bản, các lớp quốc học và cổ văn cũng mang lại món lợi lớn. Ban Quốc học Đại học Thanh Hoa tính học phí mỗi người 26.000 nhân dân tệ, Đại học Phục Đán lấy mỗi người 38.000 nhân dân tệ, và khóa học cổ văn ngoài giờ cho trẻ em cũng có học phí cao ngất ngưởng.

Chương trình nói trên của CCTV cũng làm tên tuổi Vu Đan trở thành hiện tượng được cả nước biết. Vu Đan rao bán, thay vì rao giảng Khổng Tử bằng một giọng điệu khéo léo, kết hợp những câu chuyện cao đạo về người xưa với những kiến giải có độ sâu sắc chỉ ngang với ca từ nhạc sến. Những suy luận võ đoán, những lý giải nông cạn thường trực của bà về Khổng Tử có tác dụng như một thứ ma túy tinh thần giữa cơn sốt phục hưng đạo Khổng trong văn hóa đại chúng. Cuốn Luận ngữ tâm đắc của Vu Đan mang một thông điệp dễ dãi. Theo giải thích của Vu Đan thì Khổng Tử dạy rằng ai ai cũng có thể sống thoải mái với tâm thế thực dụng, dù gặp gì đi nữa cũng đừng phàn nàn, nếu biết thuận theo hoàn cảnh thì sẽ thích ứng dễ dàng và sống đời hạnh phúc.

Trong khi cơn sốt đọc Khổng Tử do Vu Đan khởi xướng đang ăn khách, thì giáo sư Đại học Bắc Kinh, Lý Linh, xuất bản cuốn sách có tên Chó nhà tang – Tôi đọc Luận ngữ [1]. Bằng nghiên cứu của riêng mình, giáo sư Lý đã trục xuất những điều vớ vẩn được nói về Khổng Tử và trả ông về với hình ảnh nguyên thủy. Giáo sư Lý viết trong lời mở đầu:
“Sách của tôi là thành quả những ý tưởng của riêng tôi về Khổng Tử. Tôi không lặp lại những gì người khác đã nói. Tôi cũng không quan tâm tới những gì Mạnh Tử, Vương An Thạch [2], hoặc bất cứ học giả lớn nhỏ nào đã từng nói về Khổng Tử. Nếu điều gì không có trong văn bản gốc, thì tôi sẽ gạt qua một bên… Nếu muốn biết đích thân Khổng Tử nghĩ gì, hãy tìm đọc văn bản gốc… Tôi không viết để dự phần vào cuộc tranh cãi của các trí thức, cũng không viết để thỏa mãn thị hiếu của đa số.”

Và giáo sư Lý kết luận:
“Sau khi đọc Luận ngữ, tôi thấy tốt nhất không nên đặt Khổng Tử lên bệ thờ, cũng không nên dìm ông xuống bùn, mà chỉ nên nói rằng ông rất giống Don Quixote.”

Qua việc phản đối nạn sùng bái thần thánh và khát khao truy tìm sự thật với thái độ không mị dân, giáo sư Lý đã góp phần đả phá truyền thống thần thánh hóa Khổng Tử đã kéo dài suốt hơn 2000 năm nay. Ông viết:
“Trong cuốn sách này, tôi muốn giải thích cho độc giả rằng Khổng Tử thực ra không phải là một vị thánh. Vị Khổng Tử mà các hoàng đế tôn sùng từ triều đại này qua triều đại khác không phải là Khổng Tử thật, mà là một Khổng Tử “nhân tạo”. Khổng Tử thật không phải là thánh, cũng chẳng phải vua, cũng không là “nội thánh ngoại vương” [trong thánh, ngoài vua] gì cả… Khổng Tử chỉ là người, một người xuất thân bình dân, luôn tin rằng kẻ sĩ cổ đại (những “quân tử” đúng nghĩa) đã định ra chuẩn mực mà mọi người nên noi theo để đối nhân xử thế; một người yêu chuộng những gì cổ xưa, học hành chăm chỉ, không nản chí; một người thầy tận tụy, không mệt mỏi truyền đạt văn hóa người xưa và khích lệ học trò học tập kinh sách cũ; một người không có chức, cũng không có quyền – chỉ có học vấn về đạo đức – nhưng dám can ngăn kẻ cầm quyền; một người đi tứ xứ du thuyết, lao tâm thay cho kẻ cai trị, liều mình khuyến dụ người cải tà quy chính; một người nhiệt tình, ước mơ khôi phục đường lối nhà Chu để thiên hạ thái bình; một người luôn bị giằng xé, hoang mang, nay đây mai đó, giống hành trạng của một con chó vô chủ, lang bạt, không có nhà để về. Đó là Khổng Tử thật.”

Trong cách nghiên cứu và lý giải Luận ngữ của mình, rõ ràng giáo sư Lý đã bỏ rất xa Vu Đan nông cạn và bất cẩn. Quan trọng hơn, ông đồng cảm được với Khổng Tử, người trí thức hơn 2000 năm trước. Ông cho biết chính Khổng Tử cũng tự nhận mình là con chó nhà tang mất chủ ngơ ngáo. Ông viết:
“Khổng Tử tuyệt vọng với quê hương mình, cùng các môn sinh ông đi khắp nơi, làm việc với chư hầu, nhưng cũng chẳng được gì. Cuối đời ông trở về quê hương, sống những năm cuối đời với tâm trạng buồn bã. Trước khi ông qua đời, con trai và hai học trò yêu của ông, Nhan Hồi và Tử Lộ (Trọng Do) cũng mất, ông khóc thương họ cạn nước mắt. Tuy ông mất trong nhà mình, nhưng cũng có thể nói ông không hề có nhà. Những giáo huấn của ông có thể đúng hoặc sai, nhưng dù đúng hay sai, đời ông cũng phản ánh số phận của người trí thức Trung Quốc tiêu biểu.”

Việc giáo sư Lý Linh đưa ra lời bình luận về con chó mất chủ giữa lúc cơn sốt Khổng Tử và văn hóa truyền thống đang lên cao trào, giống như ném một tảng đá to xuống nước: Nó tạo nên những làn sóng phản đối dữ dội từ những tín đồ mới của đạo Khổng. Giáo sư Lý bị đả kích cay độc, bị nguyền rủa, những kẻ bị xúc phạm đã biến bức xúc của mình thành giận dữ. Giáo sư Lý bị tố là phao tin đồn nhảm, và là một “phẫn thanh” [đọc trại sẽ thành 'thằng ăn cứt"], những người chưa đọc sách của giáo sư Lý tự cho mình cái quyền gọi nó là “rác rưởi”. Tất cả những eo xèo này chỉ vì ông dám gọi Khổng Tử là chó nhà tang vô chủ. Điều đó cho thấy lòng sùng kính Khổng Tử của những nhà Nho mới đưa đã đưa Thánh Khổng lên vị trí bất khả xâm phạm, không ai được đụng tới. May mắn là số nhà Nho mới này không có quyền lực chính trị là bao. Nếu có quyền lực, chúng ta chắc đã phải trở về thời đại mà (như Lâm Bưu nói về Mao Trạch Đông) “mỗi lời của ngài đều là chân lý, mỗi chữ của ngài quý hơn ngàn vạn chữ của kẻ khác.”

Giáo sư Lý Linh là một nhà nghiên cứu lịch sử nghiêm túc. Ông viết: “Tôi xem Luận ngữ là một chủ đề nghiên cứu lịch sử, chứ không phải sách thánh.” Khi ông gọi Khổng Tử là chó nhà tang, ông nhắc ta nhớ rằng ở Trung Quốc thời Xuân Thu (770-476 trước CN) tầng lớp trí thức đã phải sống trong bất an, cả trong sợ hãi, tài năng của họ thường không được trọng dụng, và trong hoàn cảnh đó, một “kẻ có lý tưởng nhưng không tìm được quê hương tinh thần của mình” thì chẳng khác gì con chó nhà tang mất chủ ngơ ngáo. Nhưng, theo tôi, giáo sư Lý nói rằng Khổng Tử thiếu “quê hương tinh thần” là đã cho ông hơi nhiều điểm. Sự thật là ông đi khắp đó đây không phải để tìm quê hương tinh thần của mình, mà là tìm một chỗ để làm quan. Mục tiêu lớn của ông là trở thành quân sư, nhưng ông đã thất bại. Ông là con chó nhà tang không chủ, nhưng nếu được kẻ cầm quyền nào tin dùng, thì chú chó không chủ kia đã trở thành chó gác cửa.

Cũng nên biết là giáo sư Lý Linh không phải người đầu tiên gọi Khổng Tử là chó nhà tang. Người xưa đã từng đánh giá ông như thế. Truyện Khổng Tử trong cuốn Sử ký của Tư Mã Thiên (145?-86 trước CN) viết rằng, vào năm 40 tuổi, khi không đạt được gì, Khổng Tử đã than rằng “Ta cùng đường rồi!” và rằng “Chẳng chỗ nào trong thiên hạ dung được ta!” Cũng theo Sử ký, dân chúng thời Khổng Tử đã tả rằng nhìn ông “băn khoăn lo lắng như con chó ở nhà có tang”. Khi đệ tử kể lại cho Khổng Tử nghe lời nhận xét này về mình, ông đã bảo rằng nói như thế là đúng làm sao, đúng làm sao![4] Ngày nay, những kẻ “bảo vệ Đạo lý đích thực” thì cho rằng những lời nói kia của Khổng Tử là những lời tinh tế có ý nghĩa lớn lao về thuật trị quốc và dạy người. Họ bảo Lý Linh gọi Khổng Tử là chó nhà tang như vậy là phạm thượng, phản bội, vô đạo và cuốn sách đó chỉ đáng vứt vào sọt rác. Có bạn ‘phẫn Nho’ còn cho rằng giáo sư Lý “mắc bệnh thần kinh!”

Người tôn thờ Khổng Tử có thể nguyền rủa sách của giáo sư Lý đủ kiểu, nhưng thực ra những gì ông viết về Khổng Tử, nhất là trong lời mở đầu rất thẳng thắn và thu hút, đã vượt xa những gì mà Tương Khánh và những “nhà tư tưởng mới” về Khổng Tử rêu rao. Rất nhiều học giả nổi tiếng đã đánh giá cao cuốn Chó nhà tang của giáo sư Lý.

Trong bài viết có tên “Tính khả thi của Nhân, Nghĩa – Điểm sách Chó nhà tang của Lý Linh”, sử gia Ngô Tư viết: “Giáo sư Lý đã làm rất tốt. Các dự án văn hóa sau này cũng phải được xây dựng trên những văn bản gốc cốt lõi. Theo tôi, những phát hiện của Lý Linh trong cuốn sách nói về Luận ngữ của ông còn hay hơn những gì Chu Hy (1130-1200) nói về Khổng Tử.”

Trong một bài điểm sách tương tự, giáo sư Tiên Lý Quần của Khoa Trung văn Đại học Bắc Kinh viết: “Cách giáo  sư Lý Linh đọc Luận ngữcho thấy một điểm rất lớn đó là sự đồng cảm chân thật, ‘từ trái tim đến trái tim’ với Khổng Tử, sự đồng cảm của một trí thức với một trí thức. Sự đồng cảm này giúp ông nhìn thấy vấn đề được gói ghém trong hình tượng ‘chó nhà tang’ kia là gì. Khi tôi đọc cụm từ ‘chó nhà tang’ tôi cũng thấy có ít nhiều nhạo báng, nhưng quan trọng hơn, tôi cảm được sự trăn trở và nỗi buồn đau của Khổng Tử.”

Trong một cuộc phỏng vấn, ông Lưu Mộng Khê, giám đốc Sở Nghiên cứu Văn hóa Trung Quốc, thuộc Viện Nghiên cứu Nghệ thuật Trung Quốc, đã khen ngợi công phu nghiên cứu văn bản rất có trách nhiệm và cách làm việc nghiêm túc của giáo sư Lý Linh, góp phần giải độc những huyền thoại về Khổng Tử.

Giáo sư Tần Hy tại Đại học Thanh Hoa, trong bài “Làm thế nào Luận ngữ trở thành kinh điển?” đã viết rằng: “Hiện có những kẻ tìm cách nâng Luận ngữ lên thành một thứ Thánh Kinh của đạo Khổng, điều này cũng y như trước đây có kẻ muốn nâng cuốn sách nhỏ mỏng tang có tên Mao tuyển lên thành ‘đỉnh cao’ của chủ nghĩa Mác. Thử hỏi sự phấn khích với Mao tuyển đã làm phong phú chủ nghĩa Mác hay đã phá thối nó? Cũng vậy, sự phấn khích dành cho Luận ngữhôm nay sẽ tôn vinh đạo Khổng hay chỉ làm hỏng nó?”

Trung Quốc vốn có truyền thống sùng thánh lâu đời, và trong mắt những người sùng bái thánh hiền xưa hoặc nay thì Khổng Tử nằm ngoài tầm tra vấn; ông là một vị vua không ngai đáng kính, là người nắm giữ chân lý, là quân sư của các thời đại, ông được tặng danh hiệu “Đại Thành Chí Thánh Văn Tuyên Vương” (“Vị vua và vị thánh tuyệt hảo của văn hóa”, danh hiệu được gán cho ông vào thế kỷ thứ 14) và với danh hiệu ấy, các vị hoàng đế đứng trước ông cũng phải cúi đầu. Đối với Khang Hữu Vy (1858-1927) và Hội Khổng học của mình, Khổng Tử là giáo chủ của một tôn giáo và cũng là một vị thánh; còn đối với những nhà Khổng học ngày nay thì ông là biểu tượng cho văn hóa Trung Quốc. Với họ, mỗi câu trong Luận ngữ đều là những lời giáo huấn thấu tình đạt lý về nghệ thuật trị quốc và tu thân. Nếu thời xưa, lời xưng tụng to tát nhất dành cho Luận ngữ là câu “Chỉ dùng nửa bộ Luận ngữ cũng có thể trị cả thiên hạ”, thì câu tán dương thời nay lại là câu “Giáo huấn của Khổng Tử đã quản thiên hạ 5000 năm trước, nay sẵn sàng để quản thiên hạ 5000 năm sau.” Có kẻ còn nói “Không đọc Khổng Tử không phải là người!” Ngày nay, có những “tín đồ đạo Khổng mới” lại còn ngụy tạo ra những tin tức giật gân, chẳng hạn như chuyện râm ran gần đây, rằng vào năm 1988, 75 người đoạt giải Nobel toàn thế giới đã họp nhau tại Paris để bầu chọn Khổng Tử là nhà tư tưởng vĩ đại nhất trong lịch sử loài người! [5]

Trước cơn ‘tẩu hỏa nhập ma’ vì sùng bái thánh nhân này, tôi xin hỏi các nhà Nho tân thời một câu tầm phào sau: “Trong con mắt các vị thì Khổng Tử đương nhiên là thánh rồi, thế nhưng, ngài cũng chỉ là người, vậy ngài có đánh rắm phun hương không?!”

Sự sùng bái kia khiến người ta mất khả năng phân biệt đâu là người đâu là thánh, đâu là lời nói đời thường đâu là lời phán của trời. Họ gán cho những lời dạy thông thường trong Luận ngữ những ý nghĩa thâm thúy, cao siêu. Chẳng hạn như hai câu mở đầu của Luận ngữ“Học nhi thời tập chi, bất diệc thuyết hồ? Hữu bằng tự viễn phương lai, bất diệc lạc hồ?” (Học mà mỗi buổi mỗi tập, chẳng cũng thích ư? Có bạn ở xa nghe tiếng mà tìm lại, chằng cũng vui ư?)[6] Thử hỏi sự thâm thúy cao siêu trong câu này nằm ở đâu mà thiên hạ phải khổ công chú giải suốt suốt 2000 năm qua cho đến tận bây giờ?

Chu Tố Nhân (1885-1967) trong cuốn Luận ngữ tiểu ký đã nói đúng: “Luận ngữ chỉ cách tu tập để thành người tốt và cách ứng xử với đời… Đó có thể là một cẩm nang hữu ích cho hậu thế, nhưng dứt khoát không được xem đó là những chân lý không bao giờ thay đổi hoặc những chuẩn mực đạo đức. Càng không nên nghĩ rằng nó chứa đựng những triết lý chính trị sâu sắc có thể trị quốc và mang lại hòa bình cho thiên hạ.” Ngay G.W.F. Hegel, triết gia lớn của Đức, cũng chỉ xemLuận ngữ như một cuốn sách ghi chép những đạo lý thường thức, không hơn không kém.

Chính Hán Vũ Đế (156-87 trước CN) người ra quyết định “độc tôn Nho thuật” đã hóa phép cho Khổng Khâu trở thành đức Khổng Phu Tử. Con chó nhà tang chết còn bộ xương, nay bộ xương bỗng chốc phục sinh và trở thành con chó gác cửa cho các triều đại quân chủ chuyên chế Trung Hoa.

Vì đạo Nho tỏ ra có ích cho quyền thống trị của vua chúa chuyên chế, nên địa vị của con chó giữ cửa được chăm sóc, củng cố, một khi ngồi vào chỗ rồi là nó cứ ngồi đó suốt hai ngàn năm. Và khi thần tượng của giới có học được triều đình thổi lên đến tận trời xanh, thậm chí biến thành tượng thờ giát vàng trong tổ miếu hoàng gia, thì đó là lúc trí thức Trung Hoa có tư tưởng tiến bộ bị đầy xuống địa ngục, biến thành nữ tì phục vụ quyền lực. Một trường hợp điển hình là Tư Mã Đàm (165-110 trước CN) cha của Tư Mã Thiên. Hai cha con đều phục vụ triều đình nhà Hán trong tư cách những thái sử. Khi Tư Mã Thiên vì dám can ngăn Hán Vũ Đế mà bị xử thiến, ông đã bi phẫn than rằng:
Cha ta cũng chẳng đạt được gì đáng ghi tên vào sổ sách triều đình. “Nghề viết văn, viết sử, xem sao, xem lịch thì cũng gần với bọn thầy bói, thầy cúng. Chúa thượng vẫn đùa bỡn nuôi như bọn con hát, còn thế tục vẫn coi thường.”[7]

Đến thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, khi các cường quốc Tây phương ép Trung Quốc mở cửa cho thế giới thì hệ thống quyền lực và ý thức hệ cũ lập tức suy vong nhanh chóng. Năm 1911, khi Cách mạng Tân Hợi kết liễu đế chế truyền thống thì Đạo Khổng, hệ ý thức của vua chúa độc tài, cũng mất hẳn chỗ dựa. Một lần nữa, “chó giữ cửa” lại trở thành “chó nhà tang” lang thang xó chợ. Mặc dù Viên Thế Khải (1859-1916) đã xoay sở để trở thành hoàng đế vào tháng 1 năm 1916 và cố phục hồi nghi lễ Đạo Khổng, nhưng cũng chẳng được bao lâu. Chỉ sáu tháng sau, Viên Thế Khải chết. Sự sụp đổ toàn diện của những định chế truyền thống và ý thức hệ cũ đã diễn ra, không thể nào tránh khỏi.

Theo tôi, khi các nhà Nho truyền thống mất chỗ dựa quyền lực thì đó là nỗi bất hạnh của họ, con chó gác cửa cung đình lại trở thành con chó lang bạt. Nhưng, nếu nhìn cách khác thì đây lại là một vận may lớn, là cơ hội để giới có học ở Trung Quốc có thể trở thành người trí thức hiện đại, có thể vứt bỏ những bệ đỡ của quyền lực độc tài mà họ vẫn dựa vào, có thể nuôi dưỡng và phát huy tinh thần phê phán độc lập. Cơ hội đã đến dù họ muốn hay không.

Nhưng rủi thay, thời kỳ “chó lang” bất đắc dĩ này chỉ kéo dài khoảng 50 năm. Khi Cộng sản Trung Quốc thiết lập chế độ cực quyền trên toàn quốc thì người trí thức cũng chẳng còn được thoải mái làm chó hoang nữa. Phần lớn bị đàn áp, truy đánh, dập dụa như “bầy chó mắc mưa”, một số gặp thời biến thành “chó giữ cửa” cho chính quyền Mao Trạch Đông. Quách Mạt Nhược (1892-1978) là một ví dụ điển hình, trong thời kỳ dân quốc ông còn dám mắng cả Tưởng Giới Thạch, nhưng sau năm 1949 thì ông chẳng khác nào con sâu nhũn gọi dạ bảo vâng trong tay Mao Trạch Đông.

Số phận của Khổng Tử trong thế kỷ 20 có lẽ sẽ khiến chính Khổng Tử choáng váng. Hai lần ông trở thành mục tiêu của những cuộc vận động chính trị chống lại mình. Lần đầu là trong phong trào Ngũ Tứ Vận động khởi đầu năm 1919, và lần kế tiếp là trong phong trào “phê Lâm [Bưu], phê Khổng [Tử]” do Mao Trạch Đông phát động năm 1974. Những năm sau vụ Thiên An Môn [1989], giới trí thức có khuynh hướng chống lại những gì được cho là cấp tiến, và họ xem cả hai phong trào Ngũ Tứ Vận động lẫn Phê Lâm Phê Khổng của Mao Trạch Đông là như nhau và bác bỏ cả hai. Nhưng làm như thế là họ không thấy hai cuộc vận động đánh đổ nhà Khổng này thực ra hoàn toàn khác nhau.

Trước hết, hai cuộc vận động có điểm xuất phát khác nhau. Ngũ Tứ là cuộc vận động văn hóa tự phát từ dưới lên. Người tham gia chủ yếu là những trí thức đô thị đã hấp thu tư tưởng mới, giá trị mới, và phương pháp mới du nhập từ phương Tây, và họ dùng những chuẩn mực phương Tây để hiểu vì sao Trung Quốc lạc hậu. Họ bất mãn với quan điểm vào cuối thế kỷ 19 cho rằng việc bắt kịp phương Tây chỉ là vấn đề kỹ thuật, hay thay đổi hình thức chế độ. Họ đi đến kết luận rằng thay đổi cốt lõi phải là thay đổi văn hóa. Ngược lại, phong trào “phê Lâm, phê Khổng” vào năm 1974 là một màn vận động chính trị từ trên xuống của Mao Trạch Đông, kẻ có quyền lực tuyệt đối và muốn đưa Tư tưởng Mao lên vị trí độc tôn và không tư tưởng nào khác trong hay ngoài nước được phép có mặt.

Thứ hai, tính chất của hai cuộc vận động này cũng khác hẳn nhau. Đối tượng mà các trí thức cách tân của Ngũ Tứ Vận động chống đối không phải là Khổng Tử thời Tiên Tần, lúc trăm nhà đua tiếng vào thế kỷ thứ năm trước CN, mà là Đức Thánh Khổng của Hán Vũ Đế, người đã đưa đạo Khổng lên vị trí độc tôn. Họ muốn đánh đổ sự độc quyền tư tưởng của đạo Khổng, của con “chó gác cửa”. Ngược lại, chiến dịch của Mao Trạch Đông chống lại Khổng Tử không liên quan gì đến nỗ lực cải tổ văn hóa, và cũng chẳng liên quan gì đến Khổng Tử. Cuộc vận động chỉ là công cụ giúp Mao cạnh tranh quyền lực với nhóm chóp bu của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Mục tiêu cuối cùng của Mao là hạ bệ Lâm Bưu và cảnh cáo nhà “đại nho” Chu Ân Lai.

Nói cách khác, hai cuộc vận động chống Khổng Tử có bản chất khác nhau. Một bên là những nhà trí thức không quyền lực một bên là kẻ nắm quyền lực tuyệt đối chẳng khác gì một Tần Thủy Hoàng kiểu mới. Một bên là cuộc cách mạng văn hóa tự phát từ dưới lên, một bên là cuộc vận động chính trị từ trên xuống. Một bên cố tìm lối thoát cho văn hóa Trung Quốc, một bên chỉ mong củng cố quyền lực độc tôn.

Đó là lý do đến nay tôi vẫn tán đồng nỗ lực chống ảnh hưởng của Đạo Khổng như Ngũ Tứ Vận động chủ trương, và tiếp tục chống đối cuộc vận động chống Đạo Khổng của thời kỳ Cách mạng Văn hóa.

Trong luận văn viết năm 1935 “Khổng Phu Tử của Trung Quốc hiện đại”, khi Lỗ Tấn gọi Khổng Tử là thánh nhân “mô-đen” là ông có ý phê phán truyền thống tôn sùng thánh nhân của chế độ chuyên chế Trung Quốc. Ông viết: “Những kẻ đặt Khổng Tử lên bàn thờ, thánh hóa ông chính là những kẻ cầm quyền, hoặc những kẻ muốn nắm quyền. Việc này hoàn toàn không phải là việc của dân chúng bình thường.”

Theo tôi thì tệ sùng bái thánh nhân ở Trung Quốc là một công trình văn hóa giả tạo cực lớn do các đời vua chúa cùng bọn văn nhân cung đình phối hợp tạo nên. Vị Khổng Tử mà các vua chúa và quần thần “phong thánh” đã đánh mất hoàn toàn mọi mối liên quan với vị Khổng Tử đích thực, và đáng được xem như một món hàng giả vô cùng nguy hiểm.

Thực ra, nếu đọc kỹ các triết gia Tiên Tần, sẽ không khó nhận ra rằng tư tưởng của Khổng Tử cũng chỉ là những lời thuyết giáo đạo đức bình thường. So với Trang Tử (369-286 trước CN), Khổng Tử không có cái siêu thoát, nhẹ nhàng, tự nhiên, cũng không có trí tưởng tưởng đẹp đẽ kỳ vĩ, hoặc ngôn ngữ trôi chảy bất tận, cũng không có khả năng hòa quyện tri thức triết học với vẻ đẹp văn học thoát tục, hoặc tỉnh táo mà nhìn thấu đáo bi kịch của con người. So với Mạnh Tử (372-289 trước CN), Khổng Tử không có được cái khí phách của một trang nam tử, hoặc tầm nhìn rộng lớn, đó là chưa kể đến khả năng đối diện với quyền lực với thái độ đầy tự trọng, hoặc sự quan tâm thật lòng tới dân đen. Chính Mạnh Tử là người đã nói “dân vi trọng, xã tắc thứ chi, quân vi khinh”.  So với Hàn Phi Tử (281-233 trước CN), Khổng Tử còn có vẻ hư ngụy, giả dối, không thẳng thắn, thiếu sắc bén, cũng không có khả năng châm biếm tài hoa. So với Mặc Tử (470-391 trước CN) Khổng Tử không lấy bình đẳng làm lý tưởng và tính thiện tự nhiên, đạo đức tự giác làm nền tảng cho một chủ nghĩa mới như chủ nghĩa kiêm ái, cũng không có một hệ thống lý luận cụ thể rõ ràng nào.

Ngược lại, những lời giáo huấn của Khổng Tử chỉ là trí thông minh nhỏ, không chứa đựng trí tuệ lớn. Những chỉ dạy ấy cực kỳ thực dụng, khôn khéo, nhưng không có tính thẩm mĩ hoặc triết lí thâm thúy. Ông cũng không có nhân cách cao quý hoặc tầm nhìn khoáng đạt. Ban đầu ông lang bạt tứ xứ muốn được làm quan, sau thất bại bèn trở thành thày dạy đạo đức. Danh hiệu vị thầy chăm chỉ, và “dậy người không mệt mỏi” dành cho ông thực ra cũng chỉ phản ảnh ước muốn viển vông xuất phát từ một nhân cách nông cạn. Nguyên tắc nổi danh của ông “thịnh thế tắc nhập, loạn thế tắc ẩn” (thời thịnh trị thì dấn thân, thời loạn lạc thì ở ẩn), nếu nhìn kĩ sẽ thấy đó chính là cái đạo xử thế khôn lanh, thể hiện tính vô trách nhiệm và cơ hội chủ nghĩa. Thật hoài phí và tổn hại cho dân tộc Trung Hoa biết bao khi chính nhà tư tưởng này, nhà tư tưởng thực dụng hết mực, khôn lanh hết mực, và đời thường hết mực này, đức Khổng Tử, kẻ tránh né trách nhiệm xã hội và không biết cảm thông với đồng bào thọ nạn này, đã trở thành vị thánh và là mẫu mực cho họ noi theo. Dân tộc nào thì thánh nhân nấy, và thánh nhân nào thì dân tộc nấy. Tôi e rằng toàn bộ tính nô lệ trong lòng người dân Trung Quốc bắt nguồn từ đây, một thứ siêu di truyền văn hóa kéo dài từ xưa và tiếp tục đến ngày nay.

Ngoài việc truy tìm ý nghĩa đích thực của Luận ngữ, giáo sư Lý Linh còn muốn nhắm tới chủ nghĩa dân tộc cực đoan hiện nay của Trung Quốc. Giáo sư Lý thách thức những trào lưu thời thượng như cơn sốt đọc cổ văn, cơn sốt thờ Khổng Tử, và gián tiếp đặt vấn đề về sự trỗi dậy của Trung Quốc như một cường quốc. Việc Lý Linh ám chỉ Khổng Tử như con chó lang thang “không một quê hương tinh thần” cũng là để phê phán các nhà Nho mới đang ra sức cổ vũ cho Khổng Tử như vị cứu tinh của thế giới. Giáo sư Lý cho rằng: “Tôi chẳng hứng thú gì khi người ta cắm ngọn cờ Khổng Tử trên toàn thế giới. Khổng Tử không thể cứu Trung Quốc, cũng chẳng thể cứu thế giới.”

Mục tiêu thứ hai mà Lý Linh nhắm tới là truyền thống phò quyền lực của giới trí thức Trung Quốc. Lời chỉ trích này rất thức thời vì giới Nho gia mới hiện đang tranh thủ lấy lòng giới cầm quyền. Họ độc tôn đạo Khổng, hô hào cho đạo Khổng, không phải vì muốn dùng đạo Khổng phục hồi đạo đức nước nhà, mà là họ chú trọng đến công năng chính trị “tu, tề, trị, bình” của đạo Khổng, họ muốn thống nhất chính trị và tôn giáo. Họ muốn Khổng Tử  trở thành “quân sư” hoặc giữ địa vị “quốc sư”. Họ muốn Nho giáo trở thành “quốc giáo”, và họ muốn nhà cầm quyền luật hóa các mục tiêu này. Khi làm việc này, rõ ràng những nhà Nho mới đang cho thấy tham vọng trở thành “quân sư” cho các đế vương hiện đại – hoặc trở thành một dạng “vua triết gia” theo kiểu Plato, thực sự nắm quyền lực trong tay. Khi tân trang hình ảnh cho Khổng Tử, họ thực ra đưa Trung Quốc ngược trở lại với thời Hán Vũ Đế. Họ muốn tái lập thời đại mà trong đó tư tưởng đa dạng của cả trăm nhà đều bị bãi bỏ, để độc tôn duy nhất đạo Khổng, họ muốn phục hồi tệ sùng bái “thần thánh” truyền thống.

Giáo sư Lý Linh nhận ra rằng trong lịch sử Trung Quốc, giới trí thức, vốn mang trong đầu rất nhiều điều không tưởng, chỉ thực sự hữu dụng khi nằm ngoài quyền lực và giữ vai trò phê phán nhà cầm quyền. Khi có quyền lực trong tay họ sẽ trở nên nguy hiểm, thậm chí thảm họa, cho quốc gia. Giáo sư Lý viết: “Giới trí thức, với mắt bén, đầu sáng, có thể trở nên độc tài hơn bất cứ ai. Đặt gươm đao phủ vào tay họ, thì kẻ đầu tiên mất mạng sẽ chính là những trí thức khác.” Điều này xảy ra vì thói quen của giới trí thức Trung Quốc tự cho rằng mình có trí tuệ tối ưu, đạo đức tối ưu, lí tưởng tối ưu, và sự hiểu biết tối ưu, cao hơn bất cứ ai. Họ tự cho mình cái quyền “Lo trước cái lo của thiên hạ, vui sau cái vui của mọi người”, và tin rằng họ còn có thế cứu vớt mọi người thoát vòng tai ương và kiến tạo thiên đường trên mặt đất. Trương Tải (1020-1077 trước CN) đời nhà Tống tóm tắt mục tiêu của người trí thức Trung Quốc trong bốn câu sau đây: “Vì trời đất lập đạo, vì dân sinh lập mệnh, vì thánh nhân xưa mà truyền thụ giáo huấn, vì muôn đời mà mang lại thái bình.” Ngày nay nhiều trí thức Trung Quốc vẫn mang não trạng này, cho thấy truyền thống tự mãn và cuồng vọng của trí thức Trung Quốc đã trở nên thâm căn cố đế, khó thay đổi.

Giáo sư Lý Linh muốn kêu gọi giới trí thức Trung Quốc hôm nay học lại bài học lịch sử, biết giữ khoảng cách với nhà cầm quyền, từ bỏ mộng trở thành quân sư, chấm dứt việc biến kinh sách truyền thống thành công cụ chính trị, phải giữ tính độc lập trong tri thức, tư tưởng, học thuật, phát huy tinh thần sáng tạo của người trí thức. Ở đoạn cuối lời giới thiệu sách, giáo sư Lý viết:
“Hãy bình tâm mà đọc Luận ngữ, đừng chính trị hóa, đạo đức hóa, giáo phái hóa Luận ngữ. Mục tiêu duy nhất là tìm cho được con người Khổng Tử thật, giữa một thời đại mà, mượn chính lời Khổng Tử, lễ nhạc đã suy đồi.”

Nếu giới trí thức Trung Quốc bỏ qua lời khuyên này, số mệnh của họ sẽ chẳng khác gì những kẻ đi trước, sẽ chỉ là những con chó chạy quẩn quanh phục vụ kẻ khác, đến khi không được ai công nhận thì trở thành chó nhà tang lang thang xó chợ đầu đường, gặp vận may được cưng chiều thì làm chó gác cửa.

Theo tôi, đại bi kịch của lịch sử văn hóa Trung Quốc không phải là việc Tần Thủy Hoàng (259-210 trước CN) “đốt sách chôn nho”, mà chính là việc Hán Vũ Đế “bãi truất trăm nhà, độc tôn đạo Nho”. Từ chủ trương này, Đổng Trọng Thư (175-105 trước CN) đã sửa đổi học thuyết của Khổng Tử, biến những đế chế vốn dĩ được thiết lập dựa trên bạo lực trở thành biểu hiện của đạo trời. Nguyên lý của Đổng Trọng Thư, ghi trong cuốn Lịch sử Tiền Hán, cho rằng “trời không đổi gì thì không gì phải đổi” (“thiên bất biến đạo diệc bất biến”) là căn cứ để khẳng định tính hợp pháp của chế độ, rằng sự trường tồn của các triều đại là việc đã được vũ trụ an bài. Lập luận này khoác lên mình chế độ bạo lực toàn trị một lớp áo nhân trị êm ái. Đương nhiên các đế vương thấy ngay tác dụng của lớp áo ngoài này, nên đã tiếp tục lập đạo Khổng thành một ý thức hệ chính thống độc tôn và trở thành con đường chính thức để kẻ có học lập thân, có nghĩa là trở thành “đầy tớ ngoan ngoãn” cho kẻ cầm quyền. Chính Mao Trạch Đông cũng định vị thân phận của giới trí thức rất rõ ràng  khi dùng câu nói “da [kẻ cầm quyền] không còn, thì lông [trí thức] bám vào đâu?”

Trách nhiệm lớn nhất của giới trí thức Trung Quốc hôm nay không phải là bảo vệ truyền thống sùng thánh mà quyền lực độc tài chủ xướng, mà là thoát khỏi sự lệ thuộc và vị thế phục dịch cho quyền lực độc tài kia. Chúng ta cần kế thừa và phát huy truyền thống Ngũ Tứ, mà giáo sư Trần Dần Khác (1899-1969) đã tóm tắt bằng câu “tư tưởng tự do, nhân cách độc lập”.

Lưu Hiểu Ba
Bắc Kinh, 18/8/2007
Xuất bản lần đầu trên vào ngày 2/9/2007 trên boxun.com.

Ghi chú của người dịch

** Xem “Khổng giáo, công cụ của quyền lực mềm“: Con số 320 Viện Khổng Tử được The Economist nhắc tới vào đầu năm 2011, trong khi ký giả Carrie Gracie của BBC gần đây lại nói có tới con số gần 1.000, đây là con số đáng ngờ, vì ngay cả phía Trung Quốc cũng chỉ dự định đạt được con số 1.000 Viện Khổng Tử vào năm 2020. Hình ảnh minh họa cho bài của Carrie Gracie cũng không chính xác vì bức tượng Khổng Tử tuy được khánh thành long trọng tại Thiên An Môn vào tháng 1/2011, nhưng đến tháng 4/2011 thì bức tượng cao 9 mét này đã được âm thầm dời đi trong đêm. Nghe nói tượng hiện được đặt trong vườn tượng thuộc Viện Bảo tàng Quốc gia. Nguồn các thông tin này xem tại: The Economist, 20/1/2011, BBC Việt ngữ 10/10/2012, Tân Hoa Xã (tiếng Anh), 10/2/2006.
——————————————
[1] Táng Gia cẩu: Ngã độc Luận ngữ 丧家狗:我读《论语》, Lý Linh, NXB Nhân Dân Sơn Tây, Trung Quốc, 2007

[2] Trong nguyên bản, Lưu Hiểu Ba dùng cụm từ “nhị thánh nhân, tam thánh nhân” để chỉ hai vị, dịch giả T. E. Moran nêu danh tính hai vị là Mạnh Tử và Vương An Thạch để độc giả phương Tây dễ hiểu. Ở nhiều đoạn khác, T. E. Morgan cũng ghi thêm ngày sinh, ngày mất bên cạnh tên tác giả để độc giả phương Tây dễ tham khảo.

[3] Quan điểm chỉ dùng Luận ngữ để tìm hiểu tư tưởng của Khổng Tử cũng là quan điểm của học giả Nguyễn Hiến Lê, vì có chứng cớ xác thực cho thấy Khổng Tử là người viết ra Luận ngữ, trong khi các tác phẩm khác lại không phải. Nguyễn Hiến Lê viết: “Từ xưa tới nay hầu hết các học giả viết về học thuyết Khổng tử đều dùng cả tứ thư lẫnKinh Thư, Kinh Lễ, Kinh Dịch, Khổng Tử Gia ngữ v.v… làm tài liệu, như vậy theo tôi không phải là tìm hiểu Khổng Tử mà tìm hiểu Khổng giáo trong suốt thời Chiến Quốc, vì trong những sách dẫn trên, ngoài bộLuận ngữ là bộ đáng tin nhất, còn thì bộ nào cũng chứa nhiều tư tưởng của người sau, không phải của Khổng Tử.

Tôi lấy thí dụ cuốn Đại học của Tăng Tử (một môn sinh được trực truyền) ngay trong đoạn đầu nói về việc tu thân để tề gia, trị quốc…, cũng đã có một ý tôi cho không phải của Khổng tử mà của Tăng Tử, tức “tri tri tại cách vật”, vì trong Luận ngữ ông không hề nói tới sự cách vật.

Sách Trung dung của Tử Tư, cháu nội Khổng Tử, cũng có những tư tưởng siêu hình, mà Khổng tử tránh phần siêu hình.

Rồi những câu “cương nhu tương thôi nhi sinh biến hóa”, “nhất hạp nhất tịch vi chi biến, vãng lai bất cùng vi chi đạo” (trong Kinh Dịch – Hệ từ thượng) mà nhiều người dẫn (chẳng hạn Trần Trọng Kim trongNho giáo) và cho là quan niệm về thiên lý, về đạo của Khổng Tử, thì sao tôi thấy có màu sắc của Lão giáo quá.

Ngay như Lễ kí, thiên Tăng Tử Vấn (Tiểu Đái kí) phần lớn không tin được vì xuất hiện sau Khổng Tử bảy trăm năm (thế kỷ II sau Tây Lịch) và do người đời Hán viết.
Căn cứ vào những bộ đó thì không khác gì tô xanh tô đỏ lên học thuyết của Khổng Tử, còn đâu chân diện mục của nó nữa. Từ lâu tôi vẫn bất mãn về điều đó và chỉ thấy mỗi một học giả ở Pháp, ông Etiemble, trong cuốn Confucius (Gallimard 1966) là không dùng phương pháp đó mà chỉ căn cứ vào mỗi hệ Luận ngữ mà thôi.”
(Trích từ Lời nói đầu, Nguyễn Hiến Lê viết ngày 1/7/1978, in trong cuốn Khổng Tử, NXB Văn Hóa, Hà Nội, 1992, trang 7-8).

[4] Đoạn nói về “chó nhà tang” được Tư Mã Thiên ghi trong Sử ký như sau:
“Khổng Tử đến nước Trịnh, thày trò lạc nhau. Khổng Tử đứng một mình ở phía đông cửa thành. Có người nước Trịnh bảo Tử Cống:
- Ở cửa phía đông có một người trán giống Nghiêu, cổ có vẻ Cao Dao, vai ông ta giống Tử Sản, nhưng từ lưng trở xuống thì kém vua Vũ ba tấc, có vẻ băn khoăn lo lắng như con chó ở nhà có tang.
Tử Cống nói thực với Khổng Tử. Khổng Tử mừng rỡ cười mà rằng:
- Hình dáng bên ngoài là việc vụn vặt, nhưng nói “giống như con chó của nhà có tang” thì đúng làm sao! Đúng làm sao!”
(Trích Sử ký – Tư Mã Thiên, Phan Ngọc dịch và giới thiệu, NXB Văn Học, Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây, Hà Nội, 1999, trang 163-164)

[5] Trong cuốn Khổng Tử – Luận ngữ với cuộc sống hiện đại, do Dương Minh Hào sưu tầm và biên dịch, NXB Thanh Niên, Hà Nội, 2012, phần Lời mở đầu của Dương Minh Hào cũng ghi một “tin giật gân” tương tự, xin trích nguyên văn:
“Năm 1991 trong tuyên ngôn đại hội những người nhận giải thưởng Nôben toàn cầu tại có câu: ‘Nếu nhân loại muốn được tiếp tục sinh tồn ở thế kỷ 21, thì cần phải trở lại hơn hai ngàn năm trăm năm trước để hấp thu lấy những trí tuệ cũa Khổng Tử.’
Các nhà khoa học trên toàn thế giới đều đã nhất trí cao với nhận thức này.”

[6] Trích Luận ngữ, Nguyễn Hiến Lê chú dịch và giới thiệu, NXB Văn Học, năm 1994, trang 25.

[7] Trích từ Sử ký – Tư Mã Thiên, bản dịch của Phan Ngọc, sđd, trang 5-6.

Thứ Bảy, 28 tháng 2, 2015

TỨ TOÀN CỦA TẬP CẬN BÌNH BẤT KHẢ THI

Ông Tập Cận Bình và tấm áp phích quảng cáo về Giấc Mộng Trung Hoa - Ảnh của AFP.

Bài đọc liên quan:

Từ lý thuyết Tam Cương của Khổng Khâu, mấy ngàn năn trước Trung Hoa đã được thống nhất 2 lần: Nhà Hán và nhà Tần. Nền Cộng hòa non trẻ được Tôn Dật Tiên đặt nền móng sau khi hạ bệ hoàng đế cuối cùng của nhà Thanh, khi mà đất nước Trung Hoa bị chia cắt do phương Tây. 

Lần thứ 3 Trung Hoa được thống nhất trở lại gần đây 1949, là do Mao. Nhưng Mao đã phá hủy nền Cộng hòa non trẻ mà Tôn Dật Tiên đã xây dựng sau khi hạ bệ nhà Thanh, để mang Trung Hoa trở lại chế độ phong kiến xưa cũ dưới hình thức cộng sản mang màu sắc Trung Hoa.

Hoàn cảnh chính trị Trung Hoa hiện nay cũng giống như Pháp vào thế kỷ XVIII, khi Nã Phá Luân kéo nước Pháp trở lại nền quân chủ chuyên chế sau khi nền Cộng hòa non trẻ ra đời năm 1789.

Quy luật của triết học đã khẳng định: "kinh tế quyết định chính trị, và chính trị sẽ tác động đến kinh tế". Một nền chính trị đơn nguyên tập quyền như Trung Hoa chỉ là chiếc áo chật khoát trên mình của một gả khổng lồ về kinh tế. 

Vì thế cho nên cách đây 2 năm ông Lý Khắc Cường - thủ tướng Trung Hoa đã đưa ra Chiến lược kinh tế - Likonomics. Likonomics gồm 3 mục tiêu - Không kích thích kinh tế - No stimulus; Giảm nợ - Deleveraging; và Cải cách cơ cấu - Structural Reform. 

Theo tổng kết của World Bank năm 2013 nợ công của Trung Hoa chiếm 121% GDP, nhưng chỉ 1 năm sau, vào cuối 2014, thì theo McKinsey Global Institute khối nợ công này tăng thêm hơn gấp đôi tương đương với 282% GDP Trung Hoa. 

Từ thời loài người có mặt trên trái đất, và biết sống thành cộng đồng đến nay, các hình thái chính trị xã hội loài người thi nhau ra đời. Từ đơn nguyên tập quyền, đến đa nguyên tập quyền, rồi đa nguyên tản quyền, chưa có hình thái xã hội nào tiêu diệt được tham nhũng cường quyền, mà chỉ có đa nguyên tản quyền làm giảm thiểu tối đa tham nhũng cường quyền mà thôi.

Nền chính trị đơn nguyên tập quyền là mảnh đất màu mỡ nhất để nuôi dưỡng tham nhũng cường quyền. Theo Business Insider, chỉ trong 2 năm đả hổ diệt ruồi của ông Tập Cận Bình đã làm cho các quan tham tuồn ra khỏi Trung Hoa đến 1250 tỷ đô la để tìm quê hương mới.

Với những con số trên, sau 2 năm hoạt động Likonomics xem như phá sản, không thể kéo kinh tế Trung Hoa đang đi xuống chưa thấy đáy như tôi đã tiên liệu 2 năm trước trong bài Likonomic tiến thoái lưỡng nan.

Trung Hoa đang chuẩn bị cuộc họp quốc hội để đưa ra chính sách và pháp luật mới cho thời kỳ mới, trong lúc kinh tế lẫn chính trị Trung Hoa đang rối ren. Cách đây 3 hôm, ngày 25/02/2015, Nhân dân nhật báo Trung Hoa giới thiệu một bài xã luận trên trang nhất 2000 chữ, về chiến lược chính trị của ông Tập Cận Bình - Tứ Toàn: Four Comprehensives - nhằm nâng đở kinh tế đang trên đà thất bại của Chiến lược kinh tế của thủ tướng Lý Khắc Cường. 

Tứ toàn là gì? Nó có nghĩa là bốn cải cách toàn diện về kinh tế chính trị để nhằm khôi phục kinh tế Trung Hoa. Bốn toàn diện đó là: Xây dựng thành công xã hội khá giả toàn diện; Cải cách sâu sắc toàn diện; Quản lý đất nước theo pháp luật toàn diện; Quản lý đảng nghiêm ngặt toàn diện, nhằm thực hiện "Giấc mộng Trung Hoa" như lời ông Tập khi đọc diễn văn nhậm chức.

Tất cả những cái gọi là Tứ Toàn của ông Tập đều là những câu khẩu hiệu có tính tuyên truyền hơn là hiện thực. Còn nhớ cách đây gần 20 năm, khi ông cựu thủ tướng Chu Dung Cơ đã từng tuyên bố, nếu chủ tịch Giang Trạch Dân tham nhũng thì ông cũng bắt bỏ tù. Nhưng ông Chu Dung Cơ cũng chỉ ngồi ghế hành pháp của mình chỉ đúng một nhiệm kỳ từ 1998 đến 2003, là về vườn, giờ chỉ ngồi làm thơ dạy đời nói bóng gió, tham nhũng ở Trung Hoa ngày càng tăng.

Gần đây lại có thông tin các tham quan đang đoàn kết lại, đặt mua súng trường bắn tỉa để thủ tiêu ông Tập. Vấn đề thủ tiêu ông Tập không phải là dễ dàng. Nó cũng giống như chuyện ông Tập không thể diệt được tham nhũng ở một nền chính trị đơn nguyên tập quyền.

Không thể có một nền tư pháp đúng nghĩa trong một nền chính trị đơn nguyên tập quyền, vì không thể có tam quyền phân lập, nên cái tam toàn của ông Tập - Quản lý đất nước theo pháp luật toàn diện - là hoàn toàn phá sản khi nó vừa thoát ra khỏi cửa miệng của ông. Chỉ mới đây thôi, ngày 26/02/2015, Tân Hoa Xã đã đưa tin Tòa án nhân dân tối cao Trung Hoa khuyến cáo các nhà tư pháp cao cấp Trung Hoa hãy tránh xa mô hình tư pháp độc lập, thì làm gì có pháp luật ở Trung Hoa?

Cái tứ toàn - Quản lý đảng nghiêm ngặt toàn diện - cũng phá sản khi chưa ráo mực 2000 chữ trên tờ Nhân dân nhật báo Trung Hoa, khi quyền quản lý ấy lại thuộc về đảng cầm quyền. Hay nói cách khác chính đảng cộng sản ở Trung Hoa là đảng độc nhất nắm mọi quyền quản lý và cái trị thì lấy cái gì để quản lý lại đảng cộng sản ở Trung Hoa?

Nhất toàn - Xây dựng thành công xã hội khá giả toàn diện - chỉ là ý tưởng của ông Hồ Cẩm Đào, xã hội văn minh hài hòa. Điều này thì có thể, nhưng cũng chỉ như hiện nay. Nó chỉ dành cho tham quan và chính khách, người dân Trung Hoa không thể có quyền sống, đừng nói đến quyền mưu cầu hạnh phúc.

Nhị tòan - Cải cách toàn diện sâu sắc - chẳng khác nào là một câu chém gió của thế giới ảo internet. Cải cách cái gì, nếu không là đa nguyên tản quyền cho nền chính trị Trung Hoa? Từ 1949 đến nay, nền chính trị Trung Hoa vẫn là đa nguyên, nhưng giả hiệu, vì các đảng phái khác chỉ để làm kiểng, và cũng do đảng viên cộng sản ở Trung Hoa nắm và hoạt động theo cương lĩnh và nghị quyết của đảng cộng sản.

Tóm lại, tứ toàn của Tập Cận Bình bất khả thi, nếu Trung Hoa không chuyển mô hình chính trị từ đơn nguyên tập quyền sang đa nguyên tản quyền.

Asia Clinic, 15h47' ngày thứ Bảy, 28/02/2015