nha ban quan tan binh | mua nha quan tan binh
Hiển thị các bài đăng có nhãn Trung hoa. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Trung hoa. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 11 tháng 3, 2015

SỰ ĐỔ VỠ ĐANG ĐẾN VỚI TRUNG HOA


Bài viết của Dr. Shambaugh hiện là Giáo sư về Quan hệ Quốc tế đồng thời giữ chức vụ Giám đốc chương trình Chính sách Trung Quốc tại Đại học George Washington, ông cũng là cộng tác viên cao cấp của Viện Brookings. Những cuốn sách của ông về Trung Quốc gồm “ ĐCS Trung Quốc : sự hao mòn và sự thích ứng”(“China’s Communist Party: Atrophy and Adaptation” and, most recently,) và gần đây nhất là cuốn “ Trung Quốc toàn cầu hóa : một thế lực cục bộ”(“China Goes Global: The Partial Power.”).


GS Divid Shambaugh là một trong số vài chục học giả think tank của Hoa Kỳ, ông cùng với các quan chức phục vụ trong Bộ Quốc phòng Mỹ, CIA, Bộ Ngoại giao, và Hội đồng an ninh quốc gia, làm ra chính sách của Mỹ đối với châu Á, và đặc biệt là đối với Trung Quốc.


Hôm trước mình có đưa nó lên facebook, nay thấy Vietstudy có bài dịch của ông Phạm Gia Minh, nên mang về lưu lại trên blog để bà con đọc chơi nhen. Há há,




Ván bài cuối cùng của ĐCS Trung Quốc đã bắt đầu khi mà những biện pháp tàn nhẫn của Tập Cận Bình chỉ có thể đưa đất nước tiến gần tới tình huống nguy kịch.

Hôm thứ năm tuần này Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc thường niên vừa nhóm họp theo nghi thức đã trở nên quen thuộc. Ước chừng 3 000 đại biểu “ được bầu chọn” trên khắp mọi miền đất nước – từ những nhóm thiểu số trang phục sặc sỡ tới các tỷ phú lịch lãm sẽ gặp mặt trong thời gian một tuần để thảo luận về tình hình đất nước và dường như điều này tạo ra ấn tượng rằng họ đang tham gia vào đời sống chính trị của quốc gia.

Một số người nhìn nhận cuộc tụ họp đầy ấn tượng này là một chỉ dấu cho sức mạnh của hệ thống chính trị Trung Quốc, tuy nhiên thực chất nó lại che dấu những điểm yếu nghiêm trọng. Các chiêu trò chính trị ở Trung Quốc xưa nay thường được ngụy trang dưới lớp vỏ đầy kịch tính với những sự kiện dàn dựng trên sân khấu cho thấy dường như Quốc hội trao quyền lực bền vững cho ĐCS Trung Quốc. Cán bộ nhà nước cũng như dân thường đều biết rằng họ phải tuân thủ những nghi thức đó, tức là phải vui vẻ tham gia và nhắc lại như vẹt các khẩu hiệu chính thức. Lối hành xử như vậy ở Trung Quốc có cái tên là "biểu thái" (biaotai – biểu lộ thái độ), thực ra nó có ý nghĩa chỉ hơn một chút hành động phục tùng mang tính tượng trưng. 

Nếu không để ý tới vẻ bên ngoài thì về thực chất ĐCS Trung Quốc đang rất suy yếu và không ai biết điều này hơn chính Đảng. Con người đầy quyền lực của Trung Hoa - Tập Cận Bình đang hy vọng rằng các biện pháp trừng trị thẳng tay bất đồng chính kiến và tham nhũng sẽ giúp chống đỡ một sự sụp đổ vai trò lãnh đạo của Đảng.  Tập Cận Bình xác định rằng phải tránh trở thành một Gorbachov của Trung Hoa bởi lẽ Gorbachov đã điều hành sự tan rã của Đảng CS LX. Thế nhưng thay vì trở thành nhân vật tương phản với Gorbachov, Tập Cận Bình kết cục có thể lại tạo ra cùng một hậu quả. Sự chuyên quyền của họ Tập gây sang chấn nghiêm trọng toàn bộ hệ thống xã hội Trung Quốc và đang đưa đất nước tới gần tình huống nguy kịch.

Dự đoán sự ra đi của các chế độ chuyên chế luôn là việc đầy rủi ro, phi phỏng. Một số chuyên gia Phương Tây nhìn trước sự sụp đổ của Liên Xô trước khi nó xảy ra vào năm 1991; tuy nhiên CIA lại hoàn toàn bỏ qua việc này. Sự tan rã của các quốc gia cộng sản Đông Âu hai năm trước đó cũng đã từng bị chế nhạo như một suy nghĩ mơ mộng của những kẻ chống cộng cho tới khi việc này trở thành hiện thực. Các cuộc “cách mạng màu” trong thời kỳ hậu Liên Xô ở Gruzia, Ucrain và Kyrgyzstan từ năm 2003 tới 2005 cũng như cuộc nổi dậy mùa Xuân Ả Rập năm 2011 đều bùng nổ ngoài mọi dự đoán.

Các nhà quan sát tình hình Trung Quốc đang rất để ý tới những dấu hiệu có tính chất làm lộ chân tướng mục ruỗng và suy đồi của chế độ đang diễn ra kể từ khi xảy ra sự kiện trên quảng trường Thiên An Môn năm 1989, khi mà chế độ đã trên bờ suy vong. Từ thời điểm đó đến nay một số nhà Trung Hoa học đã đánh cược uy tín nghề nghiệp của mình khi khẳng định rằng sự sụp đổ của ĐCS Trung Quốc trong vai trò lãnh đạo là không thể tránh khỏi. Những người khác thì tỏ ra thận trọng hơn, trong đó có tôi. Thế nhưng thời thế ở Trung Quốc đã thay đổi và những phân tích của chúng ta cũng cần bám sát thời cuộc.

Ván bài cuối cùng với sự lãnh đạo của ĐCS Trung Quốc đã bắt đầu, tôi tin là như vậy và điều này đã tiến triển xa hơn cái mức mà nhiều người suy nghĩ. Tất nhiên chúng ta không biết con đường đi từ nay cho tới khi nó kết thúc sẽ có hình dạng ra sao. Có thể nó sẽ rất không ổn định và lộn xộn nhưng cho tới khi hệ thống bắt đầu tháo gỡ các nút thắt một cách rõ ràng,rành mạch thì các yếu tố nội tại vẫn tiếp tục đóng vai trò và vì vậy chúng sẽ ảnh hưởng tới bộ mặt của sự ổn định.

Sự cầm quyền của ĐCS Trung Quốc khó có thể kết thúc một cách êm ả. Một sự kiện đơn lẻ khó có thể gây nên sự khép lại hòa bình của một chế độ. Điều dễ xảy ra hơn đó là sự ra đi của nó sẽ kéo dài, hỗn độn và bạo lực. Tôi không loại trừ khả năng Tập Cận Bình bị hạ bệ trong cuộc tranh giành quyền lực hoặc bởi một cú đảo chính cung đình (un coup d’état). Chiến dịch chống tham nhũng hăng hái của họ Tập đã trở thành tiêu điểm tuần này của Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc cho thấy ông đang dùng quá đà sở đoản của mình và chọc tức một cách sâu sắc các cử tri là những nhân vật chủ chốt trong Đảng, Nhà nước, quân đội và giới kinh doanh.

Người Trung Hoa có câu ngạn ngữ, waiying, neiruan- ngoài cứng, trong mềm. Tập Cận Bình là một nhà lãnh đạo quả thực là mạnh mẽ, tràn đầy sức thuyết phục và tự tin. Thế nhưng nhân cách cứng rắn đó lại đi ngược với hệ thống Đảng và chính trị vốn hết sức mong manh trong nội bộ. Chúng ta hãy cùng xem xét 5 dấu hiệu có tính thuyết phục thể hiện tính dễ tổn thương của chế độ và yếu kém của hệ thống Đảng CS Trung Quốc. 

Thứ nhất, giới tinh hoa của nền kinh tế Trung Quốc đang đặt một chân bên ngoài cửa nhà và họ luôn sẵn sàng rời bỏ hàng loạt nếu như hệ thống thực sự bắt đầu sụp đổ. Năm 2014 Viện nghiên cứu Hurun ở Thượng hải chuyên theo dõi vấn đề người giàu Trung Quốc đã kết luận rằng 64% người có của Trung Quốc đã di cư hoặc đang lên kế hoạch di cư khỏi Trung Quốc. Người giàu Trung Quốc gửi con cái đi học ở nước ngoài với con số kỷ lục (bản thân sự việc này đã là một cáo trạng về chất lượng của hệ thống Đại học Trung Quốc).

Ngay trong tuần này báo chí đăng tin các đặc vụ Liên bang đã lục soát một số địa điểm ở Nam California nơi mà chính quyền Mỹ khẳng định rằng chúng có liên quan tới loại hình kinh doanh du lịch đạt giá trị nhiều triệu USD nhằm đưa hàng ngàn sản phụ Trung Quốc sang sinh con tại Mỹ để rồi sau đó quay trở lại Trung Quốc với đứa con là công dân Hoa Kỳ.

Người giàu Trung Quốc còn mua bất động sản ở nước ngoài ở quy mô và mức giá kỷ lục, họ chuyển tài sản ra nước ngoài, thường là những nơi được coi là dễ trốn thuế và mượn các công ty làm bình phong.

Trong khi đó, Bắc kinh đang nỗ lực đưa về nước số lượng lớn những kẻ chạy trốn mang tiền ra sống ở nước ngoài. Một khi mà giới tinh hoa của đất nước – trong đó có nhiều đảng viên CS rời bỏ tổ quốc với số lượng lớn thì chính nó đã cho thấy dấu hiệu xác đáng về sự mất lòng tin vào chế độ và tương lai của đất nước.

Thứ hai, khi lên cầm quyền năm 2012 Tập Cận Bình đã mạnh mẽ tăng cường làn sóng trấn áp chính trị vốn đã được khởi động từ năm 2009 trên khắp Trung Quốc. Mục tiêu hay đối tượng được ngắm tới là báo chí, truyền thông xã hội, phim ảnh, văn hóa - nghệ thuật, các nhóm tôn giáo, Internet, các nhà trí thức, người Tây Tạng và Uighur, những nhân vật bất đồng chính kiến, luật sư, các tổ chức phi chính phủ, sinh viên Đại học và lĩnh vực sách giáo khoa. Ban chấp hành Trung ương ĐCS đã ra một chỉ thị hà khắc được biết tới dưới cái tên Văn kiện số 9 phổ biến trong toàn hệ thống ĐCS từ trên xuống dưới năm 2013, yêu cầu mọi đơn vị phải truy tìm cho ra những biểu hiện tán đồng “ các giá trị phổ quát của phương Tây “ dù còn manh nha, đó là nền dân chủ pháp trị, xã hội dân sự, tự do báo chí và trào lưu kinh tế Tân-tự do (Neoliberal Economics).

Một nhà nước yên ổn và tự tin sẽ không phải tiến hành trấn áp, cấm đoán như vậy. Đó chính là triệu chứng của sự bất an và lo sợ của lãnh đạo ĐCS. 

Thứ ba, cho dù nhiều người trung thành với chế độ vẫn hành động xu thời nhưng khó bỏ qua những biểu hiện giả tạo mang tính diễn kịch đang lan khắp bộ máy chính trị trong mấy năm gần đây.

Mùa hè vừa qua, tôi là một trong số ít khách ngoại quốc (và cũng là người Mỹ duy nhất) tham dự cuộc hội thảo về “ Giấc mơ Trung Hoa” theo luận thuyết của Tập Cận Bình tại một cơ quan nghiên cứu của ĐCS Trung Quốc ở Bắc kinh. Chúng tôi ngồi suốt hai ngày, đầu óc bị tê liệt vì phải nghe liên tục hơn hai chục học giả của Đảng đọc tham luận, tuy nhiên bộ mặt của những người thuyết trình đều lạnh lùng vô cảm, ngôn ngữ cơ thể cho thấy một sự cứng nhắc và nỗi ngán ngẩm của họ rất dễ cảm nhận được từ bên ngoài. Họ làm ra vẻ phục tùng Đảng và những câu thần chú cuối cùng của lãnh đạo nhưng rõ ràng là công tác tuyên truyền đã mất hiệu lực cho nên Hoàng đế bây giờ chẳng còn y phục trên người.

Tháng 12, tôi trở lại Bắc kinh để dự cuộc hội thảo của trường Đảng trung ương, một định chế cao nhất của ĐCS trong việc đưa ra những chỉ đạo mang tính học thuyết. Và một lần nữa các quan chức cao cấp nhất của đất nước cùng các chuyên gia về chính sách đối ngoại lại đọc thuộc lòng kho khẩu hiệu, chính xác tới từng từ. Có lần trong bữa trưa, tôi ghé thăm gian hàng sách của trường, một địa chỉ dừng chân quan trọng để biết các cán bộ lãnh đạo Trung Quốc ngày nay được đào tạo điều gì. Những cuốn tuyển tập trên giá sách từ “các tác phẩm chọn lọc của Lê Nin” tới hồi ký của cựu ngoại trưởng Hoa Kỳ Condoleezza Rice và trên bàn ngay cửa ra vào, những cuốn sách nhỏ của Tập Cận Bình quảng bá cho chiến dịch của ông ta về “ Công tác quần chúng” - hay mối liên hệ giữa Đảng với nhân dân được xếp cao chất ngất. Tôi hỏi, “ sách này bán thế nào ?” Cô bán hàng trả lời “ Ô, không bán được nhiều, chúng tôi lại mang chúng đi ấy mà”“. Độ cao của chồng sách đã cho thấy khó có thể tin được cuốn sách đó thu hút độc giả.

Thứ tư, nạn tham nhũng làm thối nát bộ máy ĐCS, chính quyền và quân đội cũng đã thâm nhập vào toàn bộ xã hội Trung Quốc ngày nay. Chiến dịch chống tham nhũng của Tập Cận Bình kéo dài được lâu và cũng khốc liệt hơn những đợt trước đây nhưng không một chiến dịch nào có khả năng loại trừ vấn nạn này vì nó đã bắt rễ một cách ngoan cố vào hệ thống độc Đảng, vào mạng lưới người bảo trợ - khách hàng (mang tính Mafia – ND) và một nền kinh tế hoàn toàn thiếu vắng sự minh bạch cùng một bộ máy truyền thông do Nhà nước quản lý không mang tính thượng tôn Pháp luật.

Hơn thế nữa, chiến dịch chống tham nhũng, hối lộ của Tập Cận Bình được đưa ra nhằm thanh lọc có lựa chọn, chủ yếu nhắm vào các đồng sự và chiến hữu của cựu Chủ tịch Trung Quốc Giang Trạch Dân. Năm nay đã 88 tuổi họ Giang vẫn được đánh giá như Thái thượng Hoàng trong nền chính trị Trung Quốc. Truy quét mạng lưới đặt dưới sự bảo trợ của họ Giang trong khi ông ta còn sống là một sự mạo hiểm lớn đối với Tập Cận Bình, đặc biệt là khi ông có vẻ chưa tập hợp được phe phái gồm những chiến hữu trung thành tới mức đủ mạnh để củng cố quyền lực. Một vấn đề khác nữa là Tập Cận Bình là con trai của thế hệ đầu tiên các nhà cách mạng Trung Quốc, là một trong những “ Thái tử “ cho nên các mối liên hệ chính trị của ông ta chủ yếu được mở rộng đối với các “ Thái tử” khác. Thế hệ thứ 2 này đang bị xỉ vả công khai hiện nay ở Trung Quốc. 

Cuối cùng, nền kinh tế Trung Quốc dưới con mắt của phương Tây là một cỗ xe Gia Ga nát không thể dừng lại (thần thoại Ấn độ có chuyện chiếc xe chở vị Thánh tên Giaganat diễu trên phố và những người cuồng tín thường đổ xô vào xe để xe cán chết – ý bóng chỉ lực lượng khủng khiếp đi đến đâu gây chết chóc đến đó – ND). Nền kinh tế đó đang bị sa lầy trong một chuỗi những cái bẫy mang tính hệ thống mà không dễ thoát ra. Tháng 11/2013 Tập Cận Bình chủ tọa Hội nghị Trung ương 3 ĐCS Trung Quốc, Hội nghị đã công bố những chương trình cải cách kinh tế đồ sộ nhưng cho tới nay chúng vẫn còn nằm yên trên bệ phóng. Vâng, các khoản chi cho tiêu dùng có tăng, nạn thảm đỏ có giảm cùng với một số cải cách thuế được thực hiện nhưng nhìn chung các mục tiêu đầy tham vọng của Tập Cận Bình đã chết yểu. Chương trình cải cách đã thách thức các nhóm lợi ích hùng mạnh, cố thủ ở nơi thâm căn cố đế - đó là những doanh nghiệp nhà nước và đội ngũ quan chức Đảng ở địa phương và họ đã không úp mở ngăn cản việc thực thi cải cách.

Năm vết rạn nứt hiển hiện và ngày một gia tăng trong hệ thống quản lý Trung Quốc chỉ có thể khắc phục thông qua cải cách chính trị. Cho tới khi và chỉ khi Trung Quốc nới lỏng việc quản lý hà khắc hệ thống chính trị, quốc gia này mới có thể trở nên một xã hội sáng tạo và một nền “kinh tế tri thức” như mục tiêu cải cách mà Hội nghị trung ương 3 đã đặt ra. Chính hệ thống chính trị hiện nay mới là trở ngại chủ yếu đối với các cải cách chính trị và xã hội Trung Quốc. Nếu như Tập Cận Bình và các lãnh đạo ĐCS Trung Quốc không nới lỏng sự kìm kẹp thì họ chắc chắn sẽ phải đối mặt với số phận mà họ không mong muốn.

Trong mấy thập niên sau khi Liên Xô tan rã, giới lãnh đạo của Trung Quốc luôn bị ám ảnh bởi sự sụp đổ của người đồng chí cộng sản khổng lồ này. Hàng trăm bài phân tích của giới nghiên cứu Trung Quốc đã mổ xẻ các nguyên nhân dẫn tới sự tan rã đó.

“Giấc mơ Trung Hoa” của Tập Cận Bình trên thực tế đang cố gắng tránh cơn ác mộng Liên Xô. Vài tháng trước nhiệm kỳ lãnh đạo của mình, họ Tập đã có một bài phát biểu nội bộ về sự sụp đổ của Liên Xô, lên án sự phản bội của Gorbachov và cho rằng Moscow thiếu “ một người đàn ông đích thực” có khả năng chống lại người lãnh đạo cuối cùng mang tư tưởng cải tổ đó. Làn sóng đàn áp do Tập Cận Bình khởi xướng và chỉ đạo hiện nay cho thấy ông ta chống lại đường lối cải tổ và minh bạch kiểu Gorbachov. Thay vì cởi mở, Tập Cận Bình lại tăng cường kiểm soát tư tưởng, nền kinh tế và cả những đối thủ cạnh tranh trong nội bộ Đảng.Tuy vậy phản công và đàn áp chưa phải là lựa chọn duy nhất của họ Tập.

 Những người tiền nhiệm của ông ta như Giang Trạch Dân và Hồ Cẩm Đào lại rút ra những bài học rất khác từ sự sụp đổ của Liên Xô. Từ năm 2000 tới 2008 họ đã thể chế hóa một số chủ trương nhằm nới lỏng và cởi mở hệ thống cùng với việc thực hiện cải cách chính trị một cách thận trọng và có giới hạn. Họ đã củng cố các cấp ủy ở địa phương và đưa vào thử nghiệm việc bầu vị trí bí thư Đảng với nhiều ứng viên. Hai ông cũng đã thâu nạp nhiều doanh nhân và trí thức vào Đảng, mở rộng hiệp thương giữa Đảng và các nhóm ngoài Đảng đồng thời làm cho các biên bản họp Bộ chính trị thêm minh bạch. Họ đã cải thiện cơ chế phản hồi trong Đảng, thực thi nhiều hơn các tiêu chí tuyển chọn nhân tài để đánh giá và đề bạt, thiết lập hệ thống đào tạo ủy nhiệm cán bộ trung cấp cho toàn bộ 45 triệu người được quy hoạch nguồn. Các ông cũng đã làm cho có hiệu lực những quy chế về hưu trí, luân chuyển công chức và sĩ quan quân đội 2 năm một lần.

Trên thực tế họ Giang và họ Hồ đã suy nghĩ để quản lý sự thay đổi thay vì chống lại nó. Tuy nhiên Tập Cận Bình không chấp nhận một điểm nào cả. Kể từ năm 2009 (khi mà nhà lãnh đạo có đầu óc cởi mở trước đây là Hồ Cẩm Đào đã thay đổi đường lối và bắt đầu chính sách khẩn cấp), chính quyền Trung Quốc ngày càng trở nên bất an nên đã cho ngừng thực thi các cải cách chính trị (trừ việc cải cách đào tạo cán bộ). Những cải cách này đã được một thủ túc chính trị của Giang Trạch Dân đạo diễn, đó là Phó Chủ tịch Trung Quốc Tằng Khánh Hồng (Zeng Qinghong). Ông này đã nghỉ hưu từ 2008 nhưng hiện đang bị nghi vấn tham nhũng trong chiến dịch “ đả hổ diệt ruồi “ của họ Tập. Điều này cho thấy Tập Cận Bình thù địch với các biện pháp cải cách nhằm giảm nhẹ con bệnh của một hệ thống đang đổ nát.

Một vài chuyên gia cho rằng chiến thuật tàn nhẫn của họ Tập sẽ báo trước một xu hướng cải cách cởi mở hơn trong những năm sau này trong nhiệm kỳ của ông. Riêng tôi thì không đồng tình bởi lẽ nhà lãnh đạo này và chế độ của ông ta luôn quan niệm chính trị là một cuộc chơi có tổng bằng 0 (tức là hoặc thắng hoặc thua chứ không có tình thế cả hai cùng thắng Win- Win – ND). Do vậy nới lỏng sự quản lý theo họ, chắc chắn sẽ là một bước tiến tới sự sụp đổ của cả hệ thống trong đó có họ.

Họ còn có quan điểm theo thuyết âm mưu cho rằng Hoa Kỳ đang nỗ lực hành động nhằm lật đổ sự lãnh đạo của ĐCS Trung Quốc. Do vậy không có chỉ dấu nào cho thấy những cải cách sẽ quay trở lại ở Trung Quốc.  
Chúng ta không thể đoán trước khi nào thì chủ nghĩa cộng sản ở Trung Quốc sẽ sụp đổ nhưng cũng không khó để kết luận rằng chúng ta đang làm chứng cho giai đoạn cuối cùng của nó. ĐCS Trung Quốc đứng thứ 2 trên thế giới về thời gian cầm quyền (chỉ sau có Bắc Triều Tiên) và không có đảng chính trị nào có thể cầm quyền mãi.

Nhìn về phía trước, những nhà quan sát Trung Quốc cần phải tập trung sự chú ý vào các công cụ của chế độ phục vụ việc cai trị và những người được giao phó sử dụng các công cụ đó. Một số lớn công dân và đảng viên CS Trung Quốc đã lựa chọn bằng đôi chân để rời bỏ tổ quốc hoặc thể hiện hành động giả dối của mình bằng cách làm ra vẻ tuân thủ các chỉ thị của Đảng.

Chúng ta cần quan sát cái ngày mà những nhân viên tuyên truyền của chế độ và bộ máy an ninh nội bộ sẽ trở nên không nghiêm chỉnh hoặc lỏng lẻo trong việc thực thi các lệnh của Đảng - thảng hoặc khi mà họ bắt đầu trở nên đồng cảm với những kẻ bất đồng chính kiến như nhân viên an ninh Đông Đức trong cuốn phim “ Những cuộc đời của người khác”  khi anh này thông cảm với chính đối tượng bị theo dõi của mình.

Một khi sự thấu cảm của con người đã manh nha chiến thắng bộ máy cầm quyền cứng nhắc, giáo điều thì ván bài cuối cùng của chủ nghĩa cộng sản Trung Quốc mới thực sự bắt đầu.

Phạm Gia Minh dịch từ The Coming Chinese Crackup 
Wall Street Journal (WSJ 6-3-14)
Đã đăng trên Vietstudy: http://viet-studies.info/kinhte/ChinaCrackup_Shambaugh.htm 
Thăng long - Hà nội 8 tháng 3 /2015.

Thứ Bảy, 28 tháng 2, 2015

TỨ TOÀN CỦA TẬP CẬN BÌNH BẤT KHẢ THI

Ông Tập Cận Bình và tấm áp phích quảng cáo về Giấc Mộng Trung Hoa - Ảnh của AFP.

Bài đọc liên quan:

Từ lý thuyết Tam Cương của Khổng Khâu, mấy ngàn năn trước Trung Hoa đã được thống nhất 2 lần: Nhà Hán và nhà Tần. Nền Cộng hòa non trẻ được Tôn Dật Tiên đặt nền móng sau khi hạ bệ hoàng đế cuối cùng của nhà Thanh, khi mà đất nước Trung Hoa bị chia cắt do phương Tây. 

Lần thứ 3 Trung Hoa được thống nhất trở lại gần đây 1949, là do Mao. Nhưng Mao đã phá hủy nền Cộng hòa non trẻ mà Tôn Dật Tiên đã xây dựng sau khi hạ bệ nhà Thanh, để mang Trung Hoa trở lại chế độ phong kiến xưa cũ dưới hình thức cộng sản mang màu sắc Trung Hoa.

Hoàn cảnh chính trị Trung Hoa hiện nay cũng giống như Pháp vào thế kỷ XVIII, khi Nã Phá Luân kéo nước Pháp trở lại nền quân chủ chuyên chế sau khi nền Cộng hòa non trẻ ra đời năm 1789.

Quy luật của triết học đã khẳng định: "kinh tế quyết định chính trị, và chính trị sẽ tác động đến kinh tế". Một nền chính trị đơn nguyên tập quyền như Trung Hoa chỉ là chiếc áo chật khoát trên mình của một gả khổng lồ về kinh tế. 

Vì thế cho nên cách đây 2 năm ông Lý Khắc Cường - thủ tướng Trung Hoa đã đưa ra Chiến lược kinh tế - Likonomics. Likonomics gồm 3 mục tiêu - Không kích thích kinh tế - No stimulus; Giảm nợ - Deleveraging; và Cải cách cơ cấu - Structural Reform. 

Theo tổng kết của World Bank năm 2013 nợ công của Trung Hoa chiếm 121% GDP, nhưng chỉ 1 năm sau, vào cuối 2014, thì theo McKinsey Global Institute khối nợ công này tăng thêm hơn gấp đôi tương đương với 282% GDP Trung Hoa. 

Từ thời loài người có mặt trên trái đất, và biết sống thành cộng đồng đến nay, các hình thái chính trị xã hội loài người thi nhau ra đời. Từ đơn nguyên tập quyền, đến đa nguyên tập quyền, rồi đa nguyên tản quyền, chưa có hình thái xã hội nào tiêu diệt được tham nhũng cường quyền, mà chỉ có đa nguyên tản quyền làm giảm thiểu tối đa tham nhũng cường quyền mà thôi.

Nền chính trị đơn nguyên tập quyền là mảnh đất màu mỡ nhất để nuôi dưỡng tham nhũng cường quyền. Theo Business Insider, chỉ trong 2 năm đả hổ diệt ruồi của ông Tập Cận Bình đã làm cho các quan tham tuồn ra khỏi Trung Hoa đến 1250 tỷ đô la để tìm quê hương mới.

Với những con số trên, sau 2 năm hoạt động Likonomics xem như phá sản, không thể kéo kinh tế Trung Hoa đang đi xuống chưa thấy đáy như tôi đã tiên liệu 2 năm trước trong bài Likonomic tiến thoái lưỡng nan.

Trung Hoa đang chuẩn bị cuộc họp quốc hội để đưa ra chính sách và pháp luật mới cho thời kỳ mới, trong lúc kinh tế lẫn chính trị Trung Hoa đang rối ren. Cách đây 3 hôm, ngày 25/02/2015, Nhân dân nhật báo Trung Hoa giới thiệu một bài xã luận trên trang nhất 2000 chữ, về chiến lược chính trị của ông Tập Cận Bình - Tứ Toàn: Four Comprehensives - nhằm nâng đở kinh tế đang trên đà thất bại của Chiến lược kinh tế của thủ tướng Lý Khắc Cường. 

Tứ toàn là gì? Nó có nghĩa là bốn cải cách toàn diện về kinh tế chính trị để nhằm khôi phục kinh tế Trung Hoa. Bốn toàn diện đó là: Xây dựng thành công xã hội khá giả toàn diện; Cải cách sâu sắc toàn diện; Quản lý đất nước theo pháp luật toàn diện; Quản lý đảng nghiêm ngặt toàn diện, nhằm thực hiện "Giấc mộng Trung Hoa" như lời ông Tập khi đọc diễn văn nhậm chức.

Tất cả những cái gọi là Tứ Toàn của ông Tập đều là những câu khẩu hiệu có tính tuyên truyền hơn là hiện thực. Còn nhớ cách đây gần 20 năm, khi ông cựu thủ tướng Chu Dung Cơ đã từng tuyên bố, nếu chủ tịch Giang Trạch Dân tham nhũng thì ông cũng bắt bỏ tù. Nhưng ông Chu Dung Cơ cũng chỉ ngồi ghế hành pháp của mình chỉ đúng một nhiệm kỳ từ 1998 đến 2003, là về vườn, giờ chỉ ngồi làm thơ dạy đời nói bóng gió, tham nhũng ở Trung Hoa ngày càng tăng.

Gần đây lại có thông tin các tham quan đang đoàn kết lại, đặt mua súng trường bắn tỉa để thủ tiêu ông Tập. Vấn đề thủ tiêu ông Tập không phải là dễ dàng. Nó cũng giống như chuyện ông Tập không thể diệt được tham nhũng ở một nền chính trị đơn nguyên tập quyền.

Không thể có một nền tư pháp đúng nghĩa trong một nền chính trị đơn nguyên tập quyền, vì không thể có tam quyền phân lập, nên cái tam toàn của ông Tập - Quản lý đất nước theo pháp luật toàn diện - là hoàn toàn phá sản khi nó vừa thoát ra khỏi cửa miệng của ông. Chỉ mới đây thôi, ngày 26/02/2015, Tân Hoa Xã đã đưa tin Tòa án nhân dân tối cao Trung Hoa khuyến cáo các nhà tư pháp cao cấp Trung Hoa hãy tránh xa mô hình tư pháp độc lập, thì làm gì có pháp luật ở Trung Hoa?

Cái tứ toàn - Quản lý đảng nghiêm ngặt toàn diện - cũng phá sản khi chưa ráo mực 2000 chữ trên tờ Nhân dân nhật báo Trung Hoa, khi quyền quản lý ấy lại thuộc về đảng cầm quyền. Hay nói cách khác chính đảng cộng sản ở Trung Hoa là đảng độc nhất nắm mọi quyền quản lý và cái trị thì lấy cái gì để quản lý lại đảng cộng sản ở Trung Hoa?

Nhất toàn - Xây dựng thành công xã hội khá giả toàn diện - chỉ là ý tưởng của ông Hồ Cẩm Đào, xã hội văn minh hài hòa. Điều này thì có thể, nhưng cũng chỉ như hiện nay. Nó chỉ dành cho tham quan và chính khách, người dân Trung Hoa không thể có quyền sống, đừng nói đến quyền mưu cầu hạnh phúc.

Nhị tòan - Cải cách toàn diện sâu sắc - chẳng khác nào là một câu chém gió của thế giới ảo internet. Cải cách cái gì, nếu không là đa nguyên tản quyền cho nền chính trị Trung Hoa? Từ 1949 đến nay, nền chính trị Trung Hoa vẫn là đa nguyên, nhưng giả hiệu, vì các đảng phái khác chỉ để làm kiểng, và cũng do đảng viên cộng sản ở Trung Hoa nắm và hoạt động theo cương lĩnh và nghị quyết của đảng cộng sản.

Tóm lại, tứ toàn của Tập Cận Bình bất khả thi, nếu Trung Hoa không chuyển mô hình chính trị từ đơn nguyên tập quyền sang đa nguyên tản quyền.

Asia Clinic, 15h47' ngày thứ Bảy, 28/02/2015

Thứ Sáu, 17 tháng 10, 2014

HỐ ĐEN TO LỚN CỦA TRUNG HOA

Bài viết của The Economist: The Great Hole of China

Nợ của Trung Hoa sẽ không kéo nền kinh tế thế giới đi xuống, nhưng nó có nguy cơ biến hệ thống tài chính của đất nước này trở thành một thây ma di động.

Có nhiều điều mà các nhà đầu tư đang lo lắng trên toàn thế giới là, giá dầu giảm mạnh, bóng ma suy thoái và giảm phát ở châu Âu, trong đó một trong những quan trọng nhất, và người ta hiểu rõ nhất, là nợ của Trung Hoa. Trong vài năm qua, Trung Hoa đã ghi dấu ân thế giới về nợ công. Tổng số nợ của các khoản tiền của chính phủ, doanh nghiệp và hộ gia đình vay đã tăng vọt 100% GDP từ năm 2008, và bây giờ là 250% GDP; chỉ ít hơn một chút so với các quốc gia giàu có, nhưng cao hơn so với bất kỳ thị trường mới nổi khác (xem bài viết). 

Nguyên do của khủng hoảng tài chính trước đó là bởi sự gia tăng điên cuồng trong việc vay mượn - theo tư duy của Nhật Bản vào đầu những năm 1990, Hàn Quốc và các nền kinh tế mới nổi khác vào cuối năm 1990, và Mỹ và Anh trong năm 2008, nó có vẻ như hợp lý để lo ngại rằng Trung Hoa có thể đang đi vào một cuộc sụp đổ kinh tế. Còn hơn thế nữa, vì tốc độ tăng trưởng danh nghĩa(nominal growth), tổng sản lượng thực tế và lạm phát đã giảm mạnh, từ mức trung bình 15% một năm trong những năm 2000 xuống còn 8,5% hiện nay, và có vẻ có khả năng tiếp tục giảm khi lạm phát đạt mức thấp nhất trong 5 năm chỉ 1,6% trong tháng Chín 2014. Tăng trưởng danh nghĩa chậm làm hạn chế khả năng của con nợ trả các hóa đơn của họ, nó là niềm năng làm ra một cuộc khủng hoảng nợ. 

Hợp lý, nhưng sai. Trung Hoa có một vấn đề lớn về nợ. Nhưng nó không có khả năng gây ra một cuộc khủng hoảng đột ngột hoặc thổi cuộc khủng hoảng của nó vào nền kinh tế thế giới. Đó là bởi vì Trung Hoa, không giống như hầu hết các nước khác về 2 việc quan trọng là, kiểm soát các ngân hàng của mình và có các phương tiện để giải cứu chúng. Thay vào đó, rủi ro lớn nhất là sự tự mãn: các quan chức của Trung Hoa đã không nổ lực để làm sạch hệ thống tài chính, trong khi đó áp lực đè nặng nền kinh tế rơi tự do trong nhiều năm qua là từ các công ty ma và nợ mất khả năng chi trả. 

Một nửa số nợ của Trung Hoa đang nợ của các công ty, và hầu hết trong đó, là nợ của doanh nghiệp nhà nước và các nhà phát triển bất động sản. Khi nền kinh tế chậm lại và giá nhà đất giảm, nhiều khoản vay này mất khả năng chi trả. Các ngân hàng báo cáo rằng các khoản nợ xấu chỉ là 1% tài sản của họ, và kiểm toán viên của họ nhấn mạnh rằng các ngân hàng không được nói dối, nhưng các nhà đầu tư giá cổ phiếu ngân hàng hiểu rằng con số nợ xấu thực sự là gần 10%. 

Ngay cả khi một khu vực rộng lớn của các khoản vay xấu đi, hậu quả là không phải là một sự sụp đổ tài chính kiểu như Lehman. Điều này chúng ta phải cảm ơn chính quyền Trung Quốc về hệ thống tài chính của họ đã không làm ảnh hưởng đến kinh tế toàn cầu. Hầu hết các khoản cho vay là do các ngân hàng nhà nước kiểm soát, phần lớn trong số đó cũng chính là các công ty của nhà nước. Nếu nó phải đối mặt với một cuộc khủng hoảng tín dụng toàn nền kinh tế, chính phủ sẽ (vì nó đã được giải quyết trong quá khứ) chỉ đơn giản là buộc các ngân hàng phải cho vay nhiều hơn nữa. Đồng thời dự trữ ngoại hối khổng lồ của nước này, có nghĩa là Trung Hoa không cần phải lo lắng về một suy thoái đột ngột mà cần phải tăng vốn nước ngoài, đó là sự khác biệt của  nguyên nhân chính của nhiều cuộc khủng hoảng nền kinh tế mới nổi khác với Trung Hoa. 

Sự kết hợp này kiểm soát và giảm sốc cho phép Trung Hoa có thời gian và khoảng không cần thiết để giải quyết vấn đề nợ. Thật không may, là chính nó đã làm cho chính quyền Trung Hoa tự mãn. Mặc dù, các quan chức đã bắt đầu nói về việc giải quyết nợ trong năm 2010, và họ đã thực hiện một vài bước nhỏ hướng tới làm sạch mọi thứ: một đạo luật ngân sách mới, có hiệu lực vào năm tới, cung cấp cho chính quyền trung ương nhiều quyền lực hơn để giám sát các khoản vay của chính phủ địa phương. Tuy nhiên, trong thực tế, quá nhiều cán bộ đã cho qua các khoản nợ xấu; có quá nhiều quan chức thích gói cứu trợ vỡ nợ. Đầu năm nay, trong bối cảnh nhiều hỗn loạn, Công ty Chaori chuyên sản xuất về pin năng lượng mặt trời là công ty Trung Hoa đầu tiên đã vỡ nợ trên sàn chứng khoán. Trong tháng này các chủ nợ đã được giải cứu bằng tiền cung cấp của ngân hàng nhà nước tung ra. 

Đêm dài của sự sống của con nợ

Mở rộng tín dụng cho các công ty sụp đổ và không hiệu quả là, tiền trình tạo ra một cuộc khủng hoảng nợ chậm đi đến sụp đổ, nó được đánh dấu bằng sự trì độn và phân bổ sai nguồn vốn. Nhật Bản là một tấm gương cho một tiền lệ buồn trong cách giải quyết này từ thập niên 1990, cho đến nay vẫn còn dai dẳng. Nền kinh tế Nhật đã không được làm sạch sau khi bong bóng tài sản xảy ra vào đầu những năm 1990, chính quyền Nhật Bản tự an ủi mình rằng, các công ty có thể trả được nợ, và ngân hàng là dung môi làm tan những khoảng nợ xấu. Kết quả là các công ty xác chết của Nhật, các ngân hàng ma quái và nhiều năm trì trệ và giảm phát cho nền kinh tế Nhật. 

Các quan chức của Bắc Kinh thề rằng, họ sẽ không lặp lại tình trạng bất ổn của Nhật Bản. Để làm được điều đó họ phải quyết đoán và phải để cho các công ty phá sản: văn hóa phá sản nên được thay thế cho sự trì trệ an toàn bằng cách cho vay vô dụng của ngân hàng nhà nước dựa vào dự trữ ngoại tệ. Các nhà đầu tư nghĩ rằng nhà nước sẽ bù lỗ của họ, họ sẽ nghĩ ra những trò tinh ranh để moi tiền ngân sách, và các vấn đề tệ hại sẽ phát triển. Không chỉ có vậy mà còn là một sự lãng phí rất lớn của tiền; thậm chí sự hùng mạnh Trung Hoa không thể cứ được bù lỗ mãi mãi.

Asia Clinic, 15h 27' ngày thứ Sáu, 17/10/2014

Thứ Sáu, 20 tháng 6, 2014

TRUYỀN THÔNG TRUNG CỘNG: TẠI VIỆT NAM HỌ DƯƠNG ĐÃ GỌI "ĐỨA CON HOANG" QUAY VỀ VỚI GIA ĐÌNH

BS Hồ Hải chuyển ngữ.

Bài viết của Shannon Tiezzi trên The Diplomat

Bài viết gốc: Chinese Media: In Vietnam, Yang Calls 'Prodigal Son' to Return Home

Phương tiện truyền thông Trung Cộng đã mô tả chuyến đi Dương Khiết Trì đến Việt Nam như là một chiến thắng ngoại giao và đạo đức đối với Trung Cộng.

Phương tiện truyền thông nước ngoài (bao gồm cả The Diplomat) không tìm thấy nhiều hy vọng về một bước đột phá trong quan hệ Trung Cộng-Việt Nam trong chuyến đi của Dương Khiết Trì tới Hà Nội trong tuần này. Theo tờ New York Times thì,  "Đối với Việt Nam và Trung Cộng, không thể giải quyết căng thẳng,". BBC thì nhấn mạnh "Bế tắc tại các cuộc đàm phán Trung Cộng-Việt Nam", còn Reuters thì chạy cái tít "Trung Cộng mắng Việt Nam đã 'thổi phồng' Biển Đông bằng giàn khoan dầu."

Trong khi đó, phương tiện truyền thông Trung Cộng đã có một cách tiếp cận một cách dứt khoát khác nhau, lạc quan hơn rất nhiều. "Trung Cộng, Việt Nam đồng ý xử lý đúng đắn các vấn đề song phương nhạy cảm", trong một cái tít bằng tiếng Anh của Tân Hoa Xã. "Bắc Kinh, Hà Nội thề hành động trong sự xích mích," China Daily nhấn mạnh. Một đoạn video về chuyến đi của họ Dương do CCTV - đài truyền hình trung ương Trung Cộng - tập trung vào tuyên bố của Dương Khiết Trì rằng, ngay cả khi mối quan hệ Trung Cộng-Việt Nam là tồi tệ hơn nhiều so với hiện nay, hai bên vẫn sẽ phải nghĩ ra một cách để nhanh chóng giải quyết vấn đề. Dựa trên các báo cáo phương tiện truyền thông Trung Cộng, có vẻ như các cuộc họp Dương Khiết Trì với lãnh đạo Việt Nam là một bước tiến quan trọng trong việc giải quyết cuộc khủng hoảng về sự kiện giàn khoan dầu HD-981.

Điều đó không phải để nói rằng Trung Cộng sẵn sàng thỏa hiệp. Ngược lại, mỗi bài viết chứa đựng sự khẳng định Trung Cộng đặt các giàn khoan dầu là chuyện rất bình thường riêng tư của Trung Cộng, và rằng Việt Nam nên ngừng quấy rối bất hợp pháp cho hoạt động của giàn khoan. Thay vào đó, các bài viết của Trung Cộng ngụ ý rằng, Hà Nội đã làm thay đổi vị trí của giàn khoan. Trong khi đó, không có bài báo cáo, cũng như phương tiện truyền thông Việt Nam và phương Tây nói về vấn đề này, Việt Nam nhấn mạnh Trung Cộng nên loại bỏ các giàn khoan dầu. Thay vào đó, bài viết từ Tân Hoa Xã nhấn mạnh rằng Việt Nam và Trung Cộng đã đồng ý để "xử lý đúng đắn các vấn đề song phương," không quốc tế hóa tranh chấp Biển Đông, và không để cho căng thẳng trên biển trở thành can thiệp rộng lớn hơn với quan hệ song phương.

Tất nhiên, nếu Việt Nam đã thực sự đồng ý "xử lý đúng đắn các vấn đề song phương" theo quan điểm của Trung Cộng, thì chắc chắn cuộc khủng hoảng giàn khoan dầu sẽ thực sự tốt hơn. Thay vào đó, Hà Nội có một ý tưởng rất khác nhau về cái gọi là "xử lý thích hợp" - theo giải thích của Việt Nam thì, Trung Cộng đã hành động "không đúng" vi phạm chủ quyền trên biển của Việt Nam. Bằng cách bỏ qua đề cập đến việc giải thích vì sao Việt Nam cho rằng Trung Cộng vi phạm vùng biển Việt Nam, phương tiện truyền thông của Trung Cộng kêu gào khi Việt Nam tiếp tục phản đối các giàn khoan dầu.

Phương tiện truyền thông Trung Cộng cũng miêu tả chuyến thăm của họ Dương không chỉ là một chiến thắng ngoại giao, mà còn là một bài dạy đạo đức. Tân Hoa Xã nhấn mạnh rằng chuyến đi của họ Dương đến Hà Nội tự nó đã chứng minh rằng Trung Cộng đang chủ động tìm kiếm để giải quyết vấn đề. Tân Hoa Xã cho biết, chuyến thăm của họ Dương, là một cuộc thể hiện của Trung Cộng về "sự chân thành trong mong muốn giải quyết vấn đề thông qua đối thoại và là lòng hào hiệp sức mạnh vĩ đại của Trung Cộng." Đài truyền hình trung ương Trung Cộng nói rằng, họ Dương đến giúp "trở lại mối quan hệ Trung Cộng-Việt Nam đi đúng quỹ đạo của những ngày đầu ban giao của 2 nước. "

Giọng điệu của những bài viết này tô vẽ họ Dương như một cái gì đó giống như một giáo viên kiên nhẫn đối phó với một học sinh cá biệt ngoan cố. Thái độ này thể hiện rõ nét nhất ở các phương tiện truyền thông quốc gia Thời báo Hoàn Cầu - Huanqui (đối tác ngôn ngữ Trung Cộng của Global Times). Huanqiu mô tả chuyến thăm của họ Dương như một món quà từ Trung Cộng, ban phát Việt Nam có một cơ hội để "tự kiềm chế trước khi quá muộn." Nhiệm vụ của họ Dương tại Hà Nội là để "làm rõ đáy của cuộc khủng hoảng và những ưu và khuyết điểm" của tình hình. Huanqiu cho biết, Trung Cộng nói chuyện với Việt Nam là để "đôn đốc" đứa con hoang đàng quay về với gia đình. "Căn cứ vào cách giải thích này, có vẻ như họ Dương không phải là đến Hà Nội cho một cuộc đối thoại thực sự, mà chỉ đơn giản là để dạy một bài học.

Mặc dù tích cực, nhưng các phương tiện truyền thông Trung Cộng đã được thiết kế để cho thấy Trung Cộng cũng trong tình trạng căng thẳng vẫn tiếp tục cháy âm ỉ. Chỉ câu chuyện nhấn mạnh quấy rối của Việt Nam ở những giàn khoan dầu của Trung Cộng, và sự kiên nhẫn và khoan dung của Trung Cộng trong việc đối phó với các hành động khiêu khích bằng cách gửi họ Dương đến Việt Nam để đàm phán. Câu chuyện cũng nhấn mạnh đến sự đồng thuận trong các cuộc họp; những lời lẽ sẽ được sử dụng để chống lại Hà Nội nếu cuộc khủng hoảng tiếp tục như hiện tại. Phương tiện truyền thông của Trung Cộng đã gửi một thông điệp mạnh mẽ rằng, bây giờ Việt Nam phải đáp ứng một cách chính xác đề nghị của Trung Cộng là phải kết thúc khủng hoảng bằng cách can thiệp làm ngưng các cuộc biểu tình trên đất liền, và quấy rối tại các giàn khoan dầu trên biển của Trung Cộng. Vì vậy, trang Huanqiu đã kết thúc với một cảnh báo cho cộng đồng quốc tế là, sẽ thấy Việt Nam phải tuân lệnh bằng hành động hợp tác sau bài học họ Dương đã dạy.

Tư Gia, 22h50' ngày thứ Sáu, 20/6/2014

Thứ Tư, 22 tháng 1, 2014

CHỐNG THAM NHŨNG KIỂU PHONG KIẾN

Bài đọc liên quan:
+ Đơn nguyên, đa nguyên với tập và tản quyền
+ Công hữu, tư hữu và hình thái xã hội loài người
+ Về mặt lý luận, hình thái chính trị xã hội của Việt Nam đang ở đâu?

Giá trị to lớn của một quốc gia dù nhỏ, hay lớn là giá trị vô hạn, mà không thể nào tính được. Khi một quốc gia đã hình thành, nó không chỉ có giá trị tài nguyên thiên nhiên, mà còn giá trị sức người, địa chính trị, v.v... Cho nên, nếu quốc gia nào có nền chính trị tốt, thì chính khách là công bộc của dân. Ngược lại, quốc gia nào có nền chính trị chưa tốt thì, chính khách là những thành viên của hội đồng quản trị quốc gia có cổ đông ăn chia quốc gia đó, và điều này được gọi là các nhóm lợi ích - hay là các nhóm tham nhũng.

Vào năm 1920 là năm mà Hoa Kỳ bắt đầu áp dụng nữ quyền. Họ, những người phụ nữ được xác định quyền ứng và bầu cử, mà trước đó, họ không có bất kỳ quyền công dân nào trong lĩnh vực này. Cũng vào thập niên 1920, tại Hoa Kỳ, các nhóm mafia như Luciano, Al Capone, v.v... thao túng chính trường Hoa Kỳ bằng những cú lobby chính trị để phục vụ buôn lậu rượu và heroin, mà bất kỳ ai hiểu biết cũng biết rõ điều này.

Mới đây, Tổ chức Liên Hiệp các Nhà Báo Điều tra Quốc tế -  The International Consoritium of Investigative Journalists: ICIJ - công bố một danh sách những quý tộc đỏ và các tư bản thân hữu với chính khách chóp bu Trung Cộng mở những tài khoản ngân hàng ở nước ngoài để rửa tiền qua những công ty ngoài lãnh thổ - Offshore Company.

Nhóm quý tộc đỏ của Trung Hoa có dính máu mủ với các lãnh đạo Trung Cộng, kể cả ông Tập Cận Bình đương kiêm quyền lực số 1 hiện nay tại Trung Cộng, Đặng Tiểu Bình, Hồ Ca63mj Đào, Giang Trạch Dân, Ôn Gia Bảo, v.v... - Hình của The International Consoritium of Investigative Journalists

Khoảng một thế kỷ sau, tại các quốc gia cộng sản - đặc biệt là mô hình của Trung Hoa và các chư hầu của Trung Hoa - tình trạng tham nhũng không chỉ đơn thuần như nước Mỹ ở thập niên 1920, mà còn hơn một bậc, là ngoài những tư bản đỏ - The Wealthy - như Luciano, Al Capone thì Trung Hoa có một thế hệ làm giàu được gọi là quý tộc đỏ - Red Nobility - kiểu phong kiến.

Các tư bản đỏ của Trung Hoa cũng không khác gì các quý tộc đỏ. Họ cũng có dây mơ rễ má với các quan chức triều đình, và quyền lực đã giúp họ giàu lên mà không ai có thể chạm tới được.

Các tư bản đỏ của Trung Hoa có thân thế với các quan chức triều đình Trung Cộng - Hình của The International Consoritium of Investigative Journalists

Ngày ông Ôn Gia Bảo và ông Hồ Cẩm Đào còn tại vị, những hô hào chống tham nhũng chỉ là lý thuyết suông, vì đã có con cháu, anh em ăn xôi chùa nên phải ngậm miệng. Nay ông Tập lên ngai, cũng hô nhào chống tham nhũng, nhưng thực chất là thanh trừng nội bộ, chặt vây cánh của các nhóm lợi ích khác có thể gây nguy hiểm cho mình - như Bạc Hy Lai. Một kiểu mà lâu nay, ở Trung Hoa và các chư hầu vẫn thường lập đi, lập lại mỗi khi chuyển giao quyền lực cho thế hệ kế tục của một chế độ phong kiến kiểu mới.

Không phải bây giờ mới có cái gọi là chống tham nhũng ở các nước cộng sản, mà nó đã có từ những ngày đầu các chế độ cộng sản có mặt trên thế giới. Vì tham nhũng ở đâu cũng có, ở đâu chỉ cần có con người hoặc động vật sống là ở đó có tham nhũng. Nhưng khác nhau giữa cộng sản và tư bản giãy chết là, tư bản có hình thái chính trị đa nguyên tản quyền để làm giảm thiểu tham nhũng đến thấp nhất. Còn với cộng sản, với hình thái đơn nguyên tập quyền, nên nó giúp cho tham nhũng ngày càng phình to ra từ một cá nhân trở thành một tập thể cướp, giết và hiếp nhân dân, tài nguyên của quốc gia.

Chuyện chống tham nhũng ở các quốc gia có hình thái chính trị đơn nguyên, tập quyền - cộng sản - về mặt bản chất, chỉ là việc chuyển đổi cơ cấu thành viên hội đồng quản trị quốc gia, từ thế hệ trước sang cho thế hệ sau nào biết bảo vệ an toàn nhất cho thế hệ trước tiếp tục ăn chia tài sản của quốc gia. Điều này làm tôi nhớ đến câu ông Đặng Tiểu Bình nói với ông Giang Trạch Dân: "Chú làm việc anh rất an tâm!'.

Chế độ phong kiến nào dù cường thịnh cũng phải tàn. Vì đơn nguyên và tập quyền sẽ dạy cho giai cấp cầm quyền những điều xấu xa nhất của nhân loại. Kết cục của sự suy tàn là do mất lòng dân, và sự hũ hóa của giai cấp cầm quyền. Điều này không ai mà không thấy được chỉ với chương trình lịch sử ở cấp học phổ thông.

Asia Clinic, 13h48' ngày thứ Năm, 23/01/2014

Thứ Hai, 25 tháng 11, 2013

NHỮNG CẢI CÁCH MỚI CỦA TRUNG HOA: LÝ THUYẾT VÀ THỰC TẾ

Bài dịch của Chu Giang Sơn gửi cho blog.

Bài đọc liên quan:


Bài viết của William H. Overholt, ông  là nghiên cứu viên cao cấp của  Fung Global Institute  và trung tâm châu Á của Đại học Harvard.

HONGKONG - Vào ngày 12 tháng 11, hội nghị trung ương 3 khóa 18 của ủy ban trung ương đảng cộng sản Trung Hoa đã phát đi thông báo chính thức tiến đến các chính sách kinh tế thị trường là: thả nổi lãi suất và tự do hóa tiền tệ, cải tổ hệ thống ngân hàng và doanh nghiệp nhà nước, làm rõ ràng hơn về quyền sở hữu đất đai của người nông dân, và đơn giản hóa các thủ tục hộ khẩu cho người nhập cư vào các đô thị.

Dấu ấn đằng sau quyết định này là một cuộc khủng hoảng tiềm tàng. Sự thành công của Trung Hoa đến từ xuất khẩu giá rẻ dựa trên lao động giá rẻ, cơ sở hạ tầng được xây dựng bởi các doanh nghiệp nhà nước với nguồn vốn từ các quỹ tín dụng lãi suất thấp, và ngân sách nhà nước thu được  từ bán đất. Nhưng lao động sẽ không rẻ nữa, việc xây dựng những con đường để kết nối các thành phố lớn sẽ nhường cho việc xây dựng các trung tâm thương mại lớn trong các đô thị nhỏ, và việc bán đất từ việc cướp đất của dân đã đạt đến giới hạn không thể cho phép cả về khía cạnh kinh tế và sự chấp thuận của người dân.

Việc neo giá Nhân Dân tệ rẻ mạt cùng với các nhà đầu tư nhỏ đã thổi lên nguy cơ bong bóng tài sản và dư thừa hàng hóa công nghiệp. Nếu không có những thay đổi căn bản, Trung hoa sẽ đối mặt với tăng trưởng kinh tế chậm hơn, mất khả năng tạo công ăn việc làm, không có khả năng cải tổ và bong bóng vỡ.

Giải pháp là Trung hoa phải chuyển dịch nhanh chóng từ mô hình tăng trưởng dựa trên xuất khẩu sang mô hình tăng trưởng dựa trên tiêu dùng nội địa; từ đầu tư cơ sở hạ tầng chuyển sang tiêu thụ; từ sở hữu các tập đoàn kinh tế nhà nước cỡ lớn chuyển sang các doanh nghiệp tư nhân vừa và nhỏ, từ công nghiệp chuyển sang dịch vụ, và rộng hơn, là từ quản lý tập trung có chỉ huy của nhà nước chuyển sang quản lý theo sự điều chỉnh của thị trường.

Tất cả các nước châu Á thành công đã thực hiện sự chuyển đổi  này. Hàn quốc và Đài Loan là những hình mẫu. Nhưng sự thay đổi này đòi hỏi phải có những đau đớn mạnh mẽ. Các tập đoàn kinh tế nhà nước sẽ mất đi lợi thế về vốn tín dụng giá rẻ, mất đi ưu đãi được cấp đất, mất đi sự bảo vệ của một chế độ chuyên chế và đặc quyền nhà xưởng. Đảng và các nhóm lợi ích nhà nước sẽ mất dần quyền lực và ăn chia.

Hầu hết các chính quyền địa phương trong tình trạng đặc biệt thất vọng. Họ đang mang một núi nợ khổng lồ, mà chỉ được trả dần bằng việc cướp đất của dân để nâng giá và bán để trả nợ. Dù đã ép giá bất động sản và đàn áp để cướp đất, nhưng giờ đây, họ phải đối mặt với lãi suất cao, thuế bất động sản, nông dân đòi hỏi quyền lợi mạnh mẽ hơn, và các yêu cầu cao hơn cho các dịch vụ xã hội đối với người mới đến định cư. Sự thất vọng của quan chức địa phương và giám đốc điều hành các doanh nghiệp nhà nước đã tạo ra sự cản trở lớn cho cải cách.

Trong một báo cáo tổng thể của các nhà lãnh đạo của Trung hoa đang theo đuổi cải cách còn đầy mâu thuẫn. Theo một chuyên gia kinh tế, khi được hỏi về những cản trở trước hội nghị quan trọng thì ông nói rằng, “Vào phút cuối hội nghị các lãnh đạo của chúng tôi đều hiểu các con số, ý nghĩ  của các con số rất rõ ràng”.

Thông báo các nghị quyết của hội nghị lần thứ trung ương 3 đã lấy khuôn mẫu của một báo cáo với nhiều nguyên tắc chung chung, nó làm nhiều nhà quan sát lo ngại vì thiếu tính chi tiết. Nhưng vai trò của Đảng cộng sản Trung hoa chỉ là thiết lập sự định hướng cho chính sách, thực thi các nghị quyết này là nhiệm vụ của chính phủ. Và  Đảng cũng thành lập Ủy ban an ninh quốc gia và Tiểu ban cải cách kinh tế Trung ương để phối hợp và thực thi các nghị quyết này. 

Khi thực hiện sẽ là cuộc đấu tranh lâu dài, với sự  cản trở có phần dữ dội, các cải tổ chủ yếu đã thực hiện rồi. Kế hoạch 5 năm lần thứ 12 hiện thời đã thực thi tăng lương hàng năm với mức trung bình là 13,4%, năm nay, lương cũng sẽ tăng lên ở mức trung bình là 18%, nó sẽ đào thải các ngành công nghiệp có tính lỗi thời hay dư thừa. Hơn thế nữa, chiến dịch chống tham nhũng của chính phủ đang  tập trung vào một vài trong nhóm lợi ích ở các ngành công nghiệp mạnh nhất, như nhóm dầu khí, như vậy sẽ làm yếu đi sự kháng cự của họ để cải tổ.

Quan trọng nhất, các kết quả kinh tế ngày càng trở lên phù hợp với các mục tiêu của nhà cầm quyền. Ngành dịch vụ đã chiếm một tỷ trọng nhiều hơn về sản phẩm và lao động so với công nghiệp - chẳng hạn như, công ty mạng Alibaba đã thu hút lượng  khách hàng cả cá nhân lẫn doanh nghiệp nhỏ với một tỷ lệ khó tưởng tượng so với trước đây, và tăng trưởng gần đây thì tiêu dùng  nội địa đã nhiều hơn một chút so với xuất khẩu. Cải tổ không chỉ còn là một kế hoạch mà nó đang diễn ra.

Nền kinh tế mở của Trung Á và Đông Nam Á (đặc biệt là Việt Nam) đang vận hành tốt, và cải cách sẽ là mở cửa sâu rộng hơn với quốc tế. Các nghị quyết của hội nghị trung ương 3 của đảng cộng sản Trung Hoa tiếp theo sau các giải pháp của khu vực thương mại  tự do Thượng Hải vào tháng 9, nó đã mở ra một thời kỳ mới cho đầu tư nước ngoài và cho phép các giao dịch tài chính và dòng vốn lớn. Sự tự do hóa dòng vốn được dự định sẽ trở thành một chính sách quốc gia, thông qua các trung tâm tài chính tin cậy ở Thượng hải.

Đối với giao thương hàng hóa, khu mậu dịch tự do mới được dự định sẽ thành lập trực tiếp toàn diện với Singapore và Hong Kong. Trung Quốc lo ngại sẽ phụ thuộc vào các trung tâm trung chuyển này trong trường hợp xảy ra xung đột. Đối với các nhà đầu tư nước ngoài, chính sách này sẽ mở rộng cơ hội đầu tư của họ đồng thời giảm bớt sự kiểm soát nước ngoài; các công ty nước ngoài đối với nền kinh tế Trung Hoa, chẳng hạn, các công ty nước ngoài có thể chỉ nắm giữ cổ phần thiểu số trong các lĩnh vực viễn thông, khi đó thì công ty nước ngoài chi phối như Monsanto sẽ đối diện với khó khăn.

Chủ tịch Tập Cận Bình phải đối mặt với nhiệm vụ chính trị đầy  thách thức trong việc thúc đẩy nhiều chương trình cải cách quan trọng của đảng cộng sản Trung Hoa trước sự đối lập khốc liệt của các nhóm lợi ích trong đảng cầm quyền trong khi kinh tế đang trì trệ. Tăng cương vào sự kiểm soát của Đảng - thông qua kiểm soát các doanh nghiệp Nhà nước, thanh tra chính phủ, và các phản biện của các cơ quan truyền thông và học viện. Ông Tập đang phát huy tất cả khả năng của mình để thúc đẩy cải tổ kinh tế, đồng thời giảm thiểu tối đa rủi ro của thách thức từ các lực lượng chống đối.

Với tất cả điều trên, ông Tập đã xác định để tránh tình trạng bi kịch như đã xảy ra trước đây của các nhà lãnh đạo Trung Hoa như Hồ Diệu Bang  và Triệu Tử Dương, những người đã mất hết sự nghiệp sau cuộc thanh trừng lớn trước các đối thủ của họ vì tin tưởng rằng cải cách kinh tế và chính trị sẽ hủy hoại sự kiểm soát của Đảng. Bởi vậy, ít nhất ở thời điểm này, Trung Hoa sẽ chỉ tập trung vào mặt khác của một con sóng dữ, đó là cải cách kinh tế, còn cải tổ chính trị chỉ được giới hạn ở các cơ quan chức năng của chính quyền để gia tăng hiệu quả và nỗ lực giảm thiểu tham nhũng. (Đã có một vài động thái hướng đến cải cách, trong đó có một quyết định loại bỏ sự kiểm soát của chính trị địa phương đối với các thẩm phán tòa án).

Nhưng Trung hoa sẽ ngày càng khó khăn khi trì hoãn việc đưa ra các biện pháp mạnh mẽ hơn để có thể xoa dịu các đòi hỏi của dân chúng vì sự công bằng, trong đó bao gồm cả việc thành lập một hệ thống tư pháp độc lập với đảng cầm quyền, nó có thể chứng minh được rằng nó không kém phần quan trọng hơn việc tái cấu trúc nền kinh tế. Mặt khác, các nhà lãnh đạo hoặc là phải chấp nhận trao đổi thông tin với dân chúng nhiều hơn so với việc ngăn chặn và kiểm soát hoặc là phải ngày càng tăng cường các cuộc đàn áp đẫm máu tốn kém như lâu nay.

Những hy vọng cho phần cải cách chính trị là có thể diễn ra ở nhiệm kỳ thứ hai của ông Tập Cận Bình, khi có sự tham gia của những lãnh đạo cấp cao có xu hướng cải cách như thành viên ủy ban thường vụ trung ương Đảng Uông Dương hay phó chủ tịch Lý Nguyên Triều. Còn bây giờ, dĩ nhiên, Trung Hoa vẫn phải tập trung vào một mặt trận lớn khác là cải cách kinh tế.

Asia Clinic, 13h11' ngày thứ Ba, 26/11/2013

Thứ Bảy, 9 tháng 11, 2013

KẾ HOẠCH 383 CỦA TRUNG HOA CHỈ LÀ MỴ DÂN VÀ THẾ GIỚI

Bài đọc liên quan:

Với bẫy thu nhập trung bình, và tình trạng hủy hoại tài nguyên, thiên nhiên đã buộc chính quyền mới của Trung Hoa phải cải cách. Hội nghị lần thứ 3 đang diễn ra tại Bắc Kinh trong 3 ngày 9 đến 12/11/2013 đã đưa ra một đề án gọi là 383. Với mộng ước tăng gấp đôi thu nhập trung bình từ hơn 6.000USD/đầu người lên đến 12.616USD/đầu người trong vòng 10 năm tới cho hơn 1,3 tỷ dân, để chiếm vị trí quán quân của cường quốc kinh tế số 1 toàn cầu cho giấc mộng Trung Hoa.

Vậy kế hoạch 383 có những gì về mặt bản chất và hiện tượng chúng ta cần nghiên cứu để nhìn thấy tư tưởng của thế hệ thứ 6 Trung Hoa đang muốn gì? Họ sẽ làm gì? Và tương lai kinh tế, chính trị của Trung Hoa, khu vực và toàn cầu sẽ bị ảnh hưởng ra sao. Đó là 3 câu hỏi cần nên giải quyết trong ngắn và dài hạn đối với các cường quốc và nước nhỏ, không chỉ trong khu vực và trên toàn thế giới.

Với 383, đầu tiên, nó mô tả mối quan hệ giữa ba thành phần chính của nền kinh tế Trung Quốc: Chính phủ, doanh nghiệp, và thị trường. 

Thứ hai, nó xác định 8 lĩnh vực quan trọng của cải cách: quản lý, chính sách cạnh tranh, đất đai, ngân hàng tài chính, tài chính công, tài sản nhà nước, đổi mới, và tự do hóa thương mại và tài chính quốc tế. 

Thứ ba, nó làm nổi bật ba mục tiêu tương quan: giảm bớt áp lực bên ngoài cho thay đổi chính sách trong nước, xây dựng toàn diện xã hội thông qua một chương trình an sinh xã hội cơ bản, và giảm tình trạng không hiệu quả, bất bình đẳng, và tham nhũng thông qua cải cách ruộng đất ở nông thôn.

Về hiện tượng, đây là một sự cải cách to lớn nhất, mà chính quyền Trung Hoa đang tuyên truyền rằng kể từ năm 1978, sau khi Đặng Tiểu Bình đưa Trung Hoa có 3 thập kỷ tăng trưởng thần kỳ. Nhưng, thực chất là, họ Đặng dễ dàng thành công hơn thế hệ hiện tại. Vì chuyển đổi từ nền kinh tế tự cung, tự cấp với dân số đông nhất thế giới, giá nhân công rẻ, sang nền kinh tế thị trường định hướng mang màu sắc văn hóa phong kiến Trung Hoa, giao lưu mở cửa đầu tư với toàn cầu, sẽ dễ dàng hơn việc mà thế hệ hiện nay sẽ làm.

Về mặt bản chất, cái mà chính quyền hiện nay ở Trung Hoa hoàn toàn không cải cách gì. Về kinh tế, họ vẫn khẳng định sở hữu công tư liệu sản xuất. Về chính trị để bảo vệ quyền lợi của giai cấp cầm quyền tiếp tục tham nhũng, và độc quyền kinh tế ăn chia, họ tiếp tục giữ một chế độ chính trị đơn nguyên tập quyền phong kiến kiểu mới.

Dưới cái nhìn triết học, thế hệ thứ 6 đang cai trị ở Trung Hoa dưới hiện tượng của màu cờ cộng sản, nhưng bản chất là tư bản hoang dã, một kiểu rượu cũ, nhưng bình mới.

Cũng dưới cái nhìn triết học, thế hệ thứ 6 đang cầm quyền của Trung Hoa đang giơ ra chiêu bài mỵ dân và cả thế giới là cải cách, nhưng đó chỉ là hiện tượng, còn bản chất thì họ vẫn giữ nguyên bản chất của một tập đoàn phong kiến kiểu mới để tiếp tục ăn chia tài nguyên, mồ hôi nước mắt của nhân dân Trung Hoa như các thế hệ trước đây.

Qua Trung Hoa, chúng ta cũng dễ dàng thấy 2 việc lớn đối với Việt Nam nói riêng, và khu vực và thế giới nói chung như sau:

Thứ nhất là, các chuyến công du của lãnh đạo mới của Trung Hoa, trong đó có Việt Nam là ý đồ xoa dịu, và áp đặt ý muốn cai trị của họ đến các quốc gia láng giềng, và trên toàn cầu. Điều này thể hiện qua, hiến pháp Việt Nam hầu như không thay đổi gì, dù đã tốn tiền bạc, sức người trong 1 năm qua, mà quốc hội Việt Nam đang tốn kém của cải đóng thuế của dân để bàn chuyện ngoài lề luật pháp như: bác sỹ Cát Tường hủy xác bệnh nhân sau tai biến; chuyện phù thủy giả danh ăn chia tiền chính sách đi tìm liệt sỹ; v.v...

Thứ hai là, các quốc gia láng giềng của Trung Hoa cần phải cảnh giác về giấc mộng bá chủ châu Á, và đi đến bá chủ toàn cầu trong sự trổi dậy trong hung hãn của Trung Hoa.

Asia Clinic, 9h24' Chúa nhựt, 10/11/2013

Chủ Nhật, 20 tháng 10, 2013

6 ĐỜI CHỦ TỊCH QUÂN ỦY TRUNG ƯƠNG TRUNG HOA

Bài đọc liên quan:

Với tự tưởng: "Họng súng đẻ ra chính quyền", Mao Trạch Đông đã biến Trung Hoa thành một chế độ phong kiến tập quyền kiểu mới. Khi ông đã một mình thâu tóm quân đội, chỉ cần làm chủ tịch đảng cộng sản ở Trung Hoa, mà không cần giữ chức vị chủ tịch nước. Mà thực ra ông chả cần giữ chức nào cả ngoài chủ tịch quân ủy trung ương. Với nó, ông làm mưa làm gió, muốn giết bất kỳ ai, bỏ tù hay đày họ đi tù khổ sai. Nó là tiền đề để thấy 6 đời chủ tịch quân ủy trung ương Trung Hoa là cái để đáng nghiên cứu nhà nước Trung Hoa hơn bất kỳ lĩnh vực nào.

Có thể nói, trong 6 đời chủ tịch quân ủy trung ương Trung Hoa chỉ sáng giá có 2 đời là Mao Trạch Đông và Đặng Tiểu Bình. Bốn đời còn lại chỉ là những người làm theo, cố bảo vệ sự đoàn kết giả tạo trong đảng cộng sản ở Trung Hoa, hơn là có bất kỳ một tư tưởng mới nào để giúp Trung Hoa như hôm nay.

Đời thứ nhất là Mao, ông có 3 phần công lớn. Thống nhất và bành trướng lãnh thổ Trung Hoa hôm nay gấp 3 lần so với thời cuối nhà Thanh. Tân Cương, Nội Mông và Tây Tạng là 3 vùng đất được Mao quan tâm và xâm lược ngay sau khi nắm quyền vào ngày 01/10/1949.

Chiếm chỗ của Đài Loan tại 5 thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc. Thúc đẩy giới khoa học Trung Hoa bằng mọi giá phải có bom hạt nhân để bảo vệ quyền lực Trung Hoa trường tồn là công lao to lớn thứ hai của Mao.

Giết chết toàn bộ thành phần trí thức, kể cả dân chúng cùng đồng cam cộng khổ với Mao trong Vạn lý Trường chinh, chỉ để lại thành phần vai u thịt bắp trong chính quyền trung ương, để thực hiện trọn vẹn một thể chế chính trị phong kiến tập quyền kiểu mới ở Trung Hoa.

Ba tư tưởng của Mao: Giữ lấy súng để nắm quyền lực tuyệt đối. Hai cái phàm là để tạo sự trung thành và đoàn kết giả tạo trong đảng hòng ăn chia. Thâu tóm truyền thông hòng ngu dân và tiêu diệt bất kỳ ai trong chính quyền và ngoài chính quyền, để thực hiện mọi "sáng kiến" bệnh hoạn của Mao, như Đại nhảy vọt và Đại cách mạng văn hóa.

Có thể tóm lược đời chủ tịch quân ủy trung ương của Mao có công đặt nền tảng cho nhóm lợi ích của đảng cộng sản ở Trung Hoa, và cộng sản thế giới, giúp Trung Hoa và các đảng cộng sản còn sót lại đứng vững. Trung Hoa có tiếng nói với những cường quốc trong Hội đồng Bảo an Liên Hiệp quốc, nhưng có tội với nhân dân Trung Hoa.

Đời thứ hai là Hoa Quốc Phong, chỉ nắm chức này trong 4 năm, và mờ nhạt dưới cái bóng của ông Đặng Tiểu Bình. Tuy đóng vai trò trung gian, nhưng ông Hoa Quốc Phong đã có công lớn, khi ưng thuận để ông Đặng tiêu diệt bè lũ 4 tên: Giang Thanh, Trương Xuân Kiều, Diêu Văn Nguyên, và Vương Hồng Văn. Tứ nhân bang này là những con chó trung thành của Mao dùng cho những kế hoạch bệnh hoạn của ông ta. Nhưng Mao cũng rất sáng suốt khi giết sạch thành phần trí thức muốn cho Trung Hoa nhân bản và tự do dân chủ, đồng thời cũng để sống họ Đặng để thực hiện kế sách lâu dài của mình. Mao cũng sáng suốt khi để lại di chúc đưa Hoa Quốc Phong lên kế vị, hòng làm bước đệm để tiêu diệt tứ nhân bang và ủng hộ Đặng.

Đời thứ ba Đặng Tiểu Bình, sau khi tiêu diệt Tứ nhân Bang, Đặng đã ép Hoa Quốc Phong về vườn và nắm quyền bính. Đặng có hai tư tưởng lớn và kế thừa 3 tư tưởng của Mao. Năm tư tưởng này được 3 đời sau thực hiện như là kim chỉ Nam cho đảng cộng sản ở Trung Hoa.

Tư tưởng mèo trắng mèo đen, mèo nào bắt được chuột thì dùng. Nó đã giúp Trung Hoa có 30 năm phát triển kinh tế thần kỳ, mà lịch sử nhân loại chưa bao giờ ghi nhận được bất kỳ một xã hội nào có được sự thần kỳ này. Nhưng, những gì Đặng tuân theo 3 tư tưởng của Mao đã để lại một vết nhơ lịch sử trong vụ Thiên An Môn 1989.

Tư tưởng thứ hai của Đặng là lời di chúc để lại cho thế hệ mai sau - thâu quang dưỡng hối: ẩn mình chờ thời cơ - nhưng khi Hồ Cẩm Đào tưởng rằng Trung Hoa đủ sức mạnh để bá chủ châu Á và tiến đến soán ngôi Hoa Kỳ để cai trị thế giới, sau khi Trung Hoa trở thành nền kinh tế lớn thứ 2 thế giới, chiếm tổng sản lượng xuất khẩu 30% toàn cầu, thì di chúc này của Đặng đã bị xao nhãng. Hôm nay Trung Hoa đang bị cái bong bóng đầu tư công, chạy theo tỷ lệ tăng trưởng giả tạo làm giảm tăng trưởng bắt buộc, thì tư tưởng này được họ Tập tuân thủ nghiêm ngặt.

Đời thứ tư là Giang Trạch Dân, ông là chiếc bóng của Đặng từ trước sự kiện Thiên An môn đến hết thời kỳ ông nhậm chức. Ông chỉ làm và thực hiện đúng 5 tư tưởng của Mao và Đặng đã đẻ ra.
Nên trước khi qua đời, Đặng có một câu nói rất thân tình với ông là, chú làm việc tôi rất yên tâm. Để trả ơn cho Đặng, ông Giang đã bỏ qua tội tham nhũng 20 triệu đô la Mỹ của con trai Đặng với các tập đoàn lớn của phương Tây vào làm ăn với Trung Hoa. Mặc dù, thủ tướng Chu Dung Cơ quyết làm ra ánh sáng vụ này, nhưng Giang nghe lời khuyên của Dương Thượng Côn, vuốt mũi phải nễ mặt, và nên cho chìm xuồng để giữ sự đoàn kết trong đảng. Đây là tiền đề để tham nhũng trở thành quốc nạn của Trung Hoa hiện nay. Dù sao thì Giang cũng đã thực hiện được di nguyện của Đặng chọn một người xuất sắc, thế hệ có học bài bản, và có thực tiễn quản lý như Hồ Cẩm Đào thuộc phái Đoàn hệ lên kế vị.

Đời thứ năm là Hồ Cẩm Đào, ông thuộc phái đoàn hệ, xuất thân là kỹ sư thủy lợi, đi lên bằng chính năng lực của bản thân, có kinh nghiệm quản lý ở Tân Cương, ... Ông đã đẩy mạnh phát triển đầu tư công trên khắp Trung Hoa, và bành trướng thị trường thương mại, xây dựng toàn cầu. Ông quyết chiếm lĩnh nguồn nước châu Á, bằng việc xây dựng điên cuồng những đập thủy điện khắp các con sông có nguồn nước ngọt từ cao nguyên Tây Tạng. Vì Tây Tạng chiếm giữ 80% nguồn nước ngọt ở các dòng sông châu Á. Bằng 2 cách chiếm lĩnh thị trường và nguồn nước này ông muốn nắn gân các quốc gia láng giềng. 

Về đối nội, ông Hồ Cẩm Đào đưa ra sách lược mỵ dân với tư tưởng, xã hội hài hòa. Nhưng xã hội Trung Hoa là một thùng thuốc súng, khó lòng hòa hợp và hòa bình chung sống giữa dân với đảng cộng sản đang ngày một thoái hóa biến chất thành một đảng xấu xa nhất của lịch sử nhân loại, vì cơ chế tập quyền đơn nguyên của nó. Văn hóa suy đồi, chính trị bất an, mất lòng hầu hết toàn cầu, kinh tế đang khủng hoảng, loạn sắc tộc là những gia tài mà 3 đời trước của các chủ tịch quân ủy trung ương Trung Hoa để lại cho thế hệ thứ sáu hiện nay phải giải quyết. Một bài toán vô cùng khó khăn cho thế hệ Thái tử đảng.

Đời thứ sau là Tập Cận Bình - Thái tử đảng. Sở dĩ cần đến thế hệ thái tử đảng là nhằm củng cố lại quyền
lực theo tư tưởng của Mao - súng đẻ ra chính quyền. Ông Hồ Cẩm Đào không là thế hệ của Vạn lý Trường chinh, nên dù là chủ tịch quân ủy trung ương, nhưng quyền nắm quân đội của ông không được trọn vẹn. Nếu ai có đọc những bài viết trên tạp chí Tiên Tiêu ở Hongkong vào nhiệm kỳ sau của ông Hồ Cẩm Đào, thì sẽ thấy việc làm ăn, triệt hạ nhau trong quân đội cấp cao của các tướng lĩnh vùng có xuất thân từ Thái tử đảng, mà không cần quan tâm đến ý kiến của Hồ Cẩm Đào, sẽ thấy tại sao Trung Hoa cần một chủ tịch quân ủy trung ương xuất thân từ Thái tử đảng.

Hai Thái tử đảng được chọn, là Tập Cận Bình đi từ sự cơ cấu từ trên xuống, và Bạc Hy Lai được uy tín từ cơ sở đi lên như Hồ Cẩm Đào. Nhưng họ Bạc đã thua ván cờ tàn, khi một tỉnh Tứ Xuyên không thể cứu ông ta so với những cựu lãnh đạo đã chọn họ Tập.

Tập cũng không có gì mới trong tư tưởng. Sau khi ngồi vào ghế nóng, Tập làm một vòng công du toàn cầu từ Phi sang Âu, đến Mỹ và về Á để vỗ về, để thực hiện việc thâu quang dưỡng hối mà Đặng để lại. Với đối nội, Tập vỗ an đảng viên cao cấp rằng, chỉ có chó săn và chó kéo xe mới chết trong đợt chống tham nhũng của ông ta, chó kiểng không bao giờ chết, hòng ru ngủ dân chúng đang cùng khổ.

Vấn đề cam go nhất của Tập không phải là vấn đề đối nội và đối ngoại ngoài đảng, mà vấn đề của Tập là sách lược đổi mới chính trị và cải tổ kinh tế Trung Hoa làm sao cho các đảng cùng ăn chia với ông ta không mất lòng. 

Nhưng với những gì Tập đã làm trong gần 1 năm qua cho thấy, Tập đang quay về ôn 3 cái cũ  của Mao và 2 cái ý tưởng của Đặng để thực hiện hết nhiệm kỳ của mình. Cũng đúng thôi, xuất thân từ một người lính, sau đó được cơ cấu bằng lý lịch, và sau khi có chức tước mới có bằng cấp thì Tập làm sao có được khả năng tư duy tầm cho một quốc gia to lớn cả về lịch sử, văn hóa, dân số và diện tích cũng như vị thế của Trung Hoa? 

Có lẽ 2 nhiệm kỳ của Tập cũng chỉ là đi lại lối mòn mà Mao và Đặng đã vạch ra. Tương lai của 1/4 nhân loại của Trung Hoa, và của các chư hầu của Trung Hoa vẫn còn cùng khổ, dưới những gì mà Tập không thể có khả năng thay đổi.

Asia Clinic, 13h33' ngày thứ Hai, 21/10/2013

NHỮNG TRANH CÃI VỀ CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA TRUNG HOA

Bài dịch của Chu Giang Sơn


Vương Chính(Zheng Wang: 王 正) là một học giả về chính sách công ở trung tâm quốc tế Woodrow Wilson. Ông cũng là phó giáo sư tại John C Whitehead School of Diplomacy and International Relations thuộc Seton Hall University, tiểu bang New Jersey. Ông ấy cũng là nghiên cứu sinh của Jennings Randolph Senior ở viện nghiên cứu hòa bình của Hoa Kỳ và là thành viên của ủy ban quốc gia  về quan hệ Hoa  kỳ  - Trung hoa.


Tập Cận Bình có thể đã tỏa sáng ở hội nghị cấp cao APEC, nhưng Trung hoa vẫn cần phải giải quyết vài vấn đề về chính sách ngoại giao. 

Vừa mới đây, Tổng thống Obama đã hủy bỏ cuộc tham dự hội nghị APEC ở Indonesia, hội nghị Đông Á ở Brunei, và kế hoạch thăm Philippine và Malaysia. Ngược lại, Chủ tịch Trung hoa Tập Cận Bình đã có chuyến thăm thành công đến Indonesia và Malaysia, và tham dự hội nghị APEC. Với  sự vắng mặt của tổng thống Obama, sự hiện diện của Tập Cận Bình ở hội nghị đã trở nên long trọng hơn.

Chuyến đi đến các nước Đông Nam Á là chuyến đi ngoại giao thứ 4 của Tập Cận Bình kể từ khi ông nhậm chức chủ tịch nhà nước Cộng hòa nhân dân Trung hoa. Cùng trong tháng, ông đã đến thăm Liên bang Nga, Tanzania, Nam phi và Công gô. Trong quá trình dừng thăm Nam Phi, ông có tham dự hội nghị BRICS - Brasil, Rusia, India, China và South of Africa, thành viên 5 nước mới nổi - ở Durban. Vào cuối tháng 5 và đầu tháng 6, ông ấy đến Mehico, Costa Rica và Trinidad and Tobago. Và vào phút chót của chuyến đi, ông ấy đã gặp Obama ở California. Sau đó, cuối tháng, ông ấy đến Kazakhstan, Uzebekistan, Kurdistan và Turkmenistan và tham dự hội nghị Tổ chức hợp tác Thượng Hải. Tổng cộng tất cả các chuyến đi này, Tập Cận Bình đã có 36 ngày ở hải ngoại kể từ tháng 3 năm nay.

Rõ ràng, Tập Cận Bình đã chú ý nhiều đến chính sách ngoại giao, và đã sử dụng một phần đáng kể thời gian của ông ấy cho đối ngoại. Vậy chính sách đối ngoại của Tập là gì, và nó khác với những người tiền nhiệm,  như chủ tịch Hồ Cẩm Đào như thế nào?

Mặc dù các nhà quan sát Trung hoa đã thảo luận các vấn đề này, nhưng có lẽ vẫn là quá sớm để có câu trả lời rõ rang. Trên thực tế, Trung hoa đang ở một ngã rẽ để đưa ra một số quyết định có tính chiến lược quan trọng và  điều chỉnh về chính sách ngoại giao, và có nhiều cuộc tranh cãi nội bộ chủ yếu trên các câu hỏi này. Mặc dù các tranh cãi kiểu này đã xảy ra rồi, chúng vẫn là về vấn đề hiển nhiên. Ngược lại, ngày nay, các  tranh cãi kiểu này không những ảnh hưởng đến các vấn đề cụ thể mà còn là tâm điểm của  nhận định cơ bản, nội dung và bản chất chính là chính sách đối ngoại của Trung hoa. Hiểu được bối cảnh và hậu trường cuộc tranh cãi này là cần thiết để thấu hiểu được những nỗ lực ngoại giao của Tập và bất kỳ một sự điều chỉnh về đối ngoại trong nhiệm kỳ của Tập Cận Bình.

Một điều kỳ lạ, thời gian này, khắp Trung Hoa đã có những tư tưởng khá thay đổi trên các vấn đề đối ngoại quan trọng. Chẳng hạn, một số ít người nhận định rằng Trung hoa sẽ từ bỏ Bắc Triều Tiên trong khi một số khác lại cho rằng Trung hoa sẽ làm gần gũi  hơn mối quan hệ và cung cấp chế độ an ninh tổng hợp,phòng  vệ, thậm chí là cả sự bảo vệ hạt nhân. Một vài dự đoán rằng Trung hoa sẽ giảng hòa và tìm một giải pháp hòa bình cho các tranh chấp trên Biển Đông, trong khi một số khác vẫn tin tưởng mạnh mẽ rằng Trung hoa sẽ giữ một lập trường quyết đoán hơn về lợi ích quốc gia bao gồm cả việc sử dụng quân sự. Các cuộc tranh cãi về các vấn đề riêng biệt  này thể hiện bởi những quan điểm khác nhau trên vài chủ đề chính hoặc các vấn đề cơ bản mà dẫn dắt chính sách đối ngoại của quốc gia. 

Một trong những tranh cãi chính là có hay không việc Trung hoa sẽ tiếp tục đường lối của Đặng Tiểu Bình, cụm từ “taoguangyanghui”, được diễn nghĩa là”ẩn dấu sức mạnh, chờ thời cơ”.  Đại tướng Hùng Quang Khải, Cựu giám đốc cục tình báo của quân giải phóng Trung quốc, cũng thừa nhận  rằng một sự hiểu chính xác hơn về cụm từ sẽ là” không phô trương  sức mạnh mà sẽ giấu mình dưới thế yếu”.

Một số khác tin tưởng rằng,  Trung hoa sẽ tiếp tục chính sách này, và đồng ý rằng  một thế yếu trong đối ngoại sẽ là mục tiêu sâu hơn của Trung hoa để tập trung phát triển kinh tế và giải quyết vấn đề nội địa. Tuy nhiên, một số khác cho rằng, đây là lúc Trung hoa từ bỏ đường lối này khi Trung hoa đã là siêu cường toàn cầu, và bởi vậy quốc gia này sẽ tham gia vai trò toàn cầu nhiều hơn. Trung Hoa sẽ không rụt rè sử dụng sức mạnh để theo đuổi và bảo vệ các lợi ích quốc gia của nó. Một vài học giả tham khảo chính sách ngoại giao tích cực của tổng thống V. Putin như là một minh chứng cho chính sách đối ngoại của Trung hoa đi theo.

Một tranh luận  khác là các chuẩn mực và giá trị mà Trung hoa sẽ hướng  đến trong chính sách đối ngoại. Vài học giả Trung hoa chỉ trích chính sách ngoại giao hiện nay của chính phủ là thiếu thực chất và nguyên tắc, chỉ  là chủ nghĩa thực dụng thuần túy về  các vấn đề đối ngoại. Họ đồng ý rằng sự thiếu vắng các chuẩn mực và giá trị sẽ làm cho chính phủ bế tắc trong việc tìm một chính sách ngoại giao. Sự thiếu vắng một giá trị làm định hướng, họ cũng nhận định rằng, chính phũ Trung Hoa sẽ trở lên do dự và bối rối, như là với các trường hợp mùa xuân Arab, Bắc Triều Tiên và trong suốt khủng hoảng ở Syria gần đây.

Với triết lý cộng sản và những nguyên tắc của chiến tranh lạnh, cụ thể là năm nguyên tắc cùng tồn tại hòa bình - không còn nhiều thực tế cho chính phủ, Bắc Kinh cần có một nguyên tắc khác, và định hướng cho chính sách ngoại giao. Nội dung của các chuẩn mực và nguyên tắc này sẽ là  rào cản chính cho Trung hoa khi  tham gia vào các vấn đề quốc tế.

Những tranh cãi về nội dung của các chuẩn mực này cũng bao hàm các tranh cãi về việc có hay không Trung hoa sẽ đi theo các chuẩn mực và nguyên tắc của phương Tây hơn là xây dựng một thứ của riêng nó, và có hay không một chuẩn mực và nguyên tắc mà tất cả các quốc gia nên chấp hành. Các cuộc tranh cãi này thể hiện  một khủng hoảng rõ rệt về thể chế và nhà nước Trung hoa. Bắc Kinh vẫn cần thời gian để quen với vị thế siêu cường mới trên toàn cầu của nó và  định hình một chính sách ngoại giao. Nó chưa sẵn sàng để đảm nhiệm một vai trò lớn hơn và chưa rõ ràng cách thứcsử dụng sức mạnh mới của mình. Đó cũng  là lý do tại sao bài nói chuyện về giấc mơ Trung hoa của Tập Cận Bình, hiện thời vẫn được xem  là chủ yếu cho người dân trong nước hơn là cho cộng đồng quốc tế. 

Kể từ khi Tập Cận Bình lên làm nguyên thủ, ông ấy đã nói về chính sách ngoại giao trong một số dịp và các trợ lý ngoại giao của ông ấy cũng đã viết một số bài báo giới thiệu về chính sách ngoại giao mới. Một vài nhà theo dõi Hoa Kỳ cũng đã đồng thuận rằng, thế hệ lãnh đạo mới đã theo một hướng tiếp cận chủ nghĩa dân tộc nhiều hơn trong chính sách ngoại giao. Mặc dù, dường như là đúng, chính phủ vẫn đưa ra những tuyên bố mạnh mẽ, chính sách ngoại giao của quốc gia vẫn phải được xem xét trên cơ sở các hành động hơn là các phát biểu của nó. Khẩu hiệu và định hướng chung chung không thể thay thế các hành động thực tế. Vì lẽ đó, Bắc Kinh không có được một chính sách tốt trên nhiều vấn đề. Nó cũng không đưa ra một sự giải thích rõ ràng và cụ thể  về định hướng chính sách ngoại giao của chính quyền mới. Và cũng không có một dấu hiệu rõ ràng cho thấy chính phủ đã có những điều chỉnh cụ thể cho các thách thức đối ngoại chính, ví dụ như là các tranh chấp trên biển Đông, sự tranh chấp quyết liệt với Nhật bản trên biển Nhật Bản, hay là các vấn đề về Triều Tiên.

Các tranh cãi gần đây về quan hệ đối ngoại cũng có mối liên hệ gần gũi với các vấn đề chính trị trong nước. Sự trỗi dậy chủ nghĩa dân tộc của Trung hoa, đã tạo ra một bối cảnh mới cho chính sách ngoại giao của Tập Cận Bình. Bắc Kinh cũng đã phải đương đầu với một tình thế khó xử về chủ nghĩa dân tộc, ấy là, trong khi chủ nghĩa dân tộc là hữu ích để gắn kết nội bộ, thì nó lại cản trở khả năng của Trung hoa để theo đuổi một chính sách ngoại giao thuận lợi.

Một câu hỏi chủ yếu cho Tập Cận Bình là cách nào để duy trì sự cân bằng này giữa nền chính trị trong nước, và các mối quan hệ bên ngoài. Cũng vậy, nhìn lại lịch sử ngoại giao Trung Hoa, sự điều chỉnh các chính sách chủ yếu đều đến  sau khi có  những thay đổi lớn về chính trị. Theo chiều hướng  này, các chính sách ngoại giao của Tập Cận Bình sẽ trở nên rõ ràng hơn sau phiên họp toàn thể lần thứ ba của Đại hội 18, vào tháng 11/2013 này, khi Đảng Cộng Sản Trung hoa sẽ công bố các quyết định quan trọng về chính sách quốc gia và  phát triển kinh tế cho bốn năm sắp tới. 

Asia Clinic, 18h22 ngày Chúa Nhựt, 20/10/2013