nha ban quan tan binh | mua nha quan tan binh
Hiển thị các bài đăng có nhãn ngoại giao. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn ngoại giao. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 20 tháng 11, 2014

ĐIỀU ĐÁNG SỢ ĐÃ ĐƯỢC NÓI RÕ Ở QUỐC HỘI

Bài đọc liên quan:

Mỗi kỳ họp quốc hội gần đây có nhiều phát biểu của các đại biểu thẳng thắng và trung thực hơn. Kỳ họp quốc hội lần này cũng vậy, điều đáng sợ là sự lệ thuộc vào Trung Hoa không thể thoát ra được.

Trong bài phát biểu của ông Trương Trọng Nghĩa của Sài Gòn đã nói lên điều đáng sợ nhất của Việt Nam hiện thời. Trong tất cả các cái đáng sợ là nợ tài chính không dám công khai để rồi mọi việc bị trói buộc, mà không thể gở ra. 

Có phải chăng tiến trình Hội Nghị Thành Đô 1990 đã và đang trở thành hiện thực, mà người dân bán tín, bán nghi rằng, nước Việt đã là một thuộc địa của Trung Hoa, nhưng tới giờ này, chưa có bất kỳ văn bảng bạch hóa về vấn đề này. Gần đây lại lòi ra nhiều dự án đáng lo ngại hơn cả bauxite Tây Nguyên như các dự án ở đèo Hải Vân - Huế.

Người phát biểu đúng thì bấm chuông không cho phát biểu, kẻ hô khẩu hiệu bằng phát biểu vuốt đuôi thì chiếm hết cả thì giờ tốn tiền của dân.

Tôi xin lưu lại youtube phát biểu của đại biểu Trương Trọng Nghĩa như là một bằng chứng lịch sử cho mai hậu trong bài viết ngắn này.



Asia Clinic, 16h59' ngày thứ Năm, 20/11/2014

Thứ Ba, 28 tháng 10, 2014

"HẬU QUẢ TAI HẠI CỦA HỘI NGHỊ THÀNH ĐÔ"


Dương Danh Dy
Nhà nghiên cứu Trung Quốc

Các ông Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Văn Linh và Đỗ Mười

...Hơn 20 năm sau Hội nghị Thành Đô, nay có dịp nhìn lại vấn đề, người ta sẽ thấy “ngộ” ra được một số điều mà ngay từ khi được phổ biến kết quả của Hội nghị, những người quan tâm đến tình hình đất nước lúc đó đã ít nhiều biểu thị sự không đồng tình.

Bước đầu, xin mạnh dạn công khai một số yếu kém của phía chúng ta, cũng như xin thẳng thắn đề cập tới một vài tác hại của những “quyết đoán” sai lầm khi đó đối với đất nước.

Nêu ra một số việc, không phải là muốn truy cứu trách nhiệm chính trị, hoặc nhằm bôi xấu, hạ thấp uy tín của một ai mà chỉ nhằm một mục đích: nếu không thấy hết những dại khờ, non yếu của chúng ta, không vạch trần những mưu ma chước quỷ của kẻ mà cho đến tận giờ phút này trong chúng ta vẫn còn có không ít ngưòi lầm tưởng họ là những đồng chí cộng sản, những người đang cùng chúng ta xây dựng chủ nghĩa xã hội thì sẽ là một nguy hại to lớn, lâu dài, tiềm ẩn đối với dân tộc.

Ngoài những nhân nhượng vô nguyên tắc về Campuchia như đã trình bày ở bài trước, phía Việt Nam đã không hề (hay không dám) đề cập tới nguyên nhân tạo ra bất đồng trong quan hệ Việt Trung trong hơn 10 năm qua nhất là cuộc Chiến tranh Biên giới tháng 2 năm 1979 do Ban lãnh đạo Bắc Kinh cố tình, chủ động gây ra.

Phía Việt Nam đã hoàn toàn cho qua vấn đề sau khi nghe Giang Trạch Dân nói trong diễn văn: quan hệ hai nước từ nay “hãy gác lại quá khứ, hướng tới tương lai”.

Đó là những điều ngưòi viết bài này thu nhận được sau khi đã hỏi kỹ đồng chí phiên dịch và nói chuyện nghiêm túc nhiều lần với đồng chí Hồng Hà khi đồng chí còn sống tại một số cuộc họp và tại phòng làm việc của đồng chí tại số 2 Nguyễn Cảnh Trân và tại nhà riêng của tôi do đồng chí chủ động tới gặp.

Không dám hé một lời

Chúng ta không đòi Trung Quốc phải bồi thường chiến tranh trong khi đã nêu vấn đế Mỹ bồi thường chiến tranh là điều kiện tiên quyết để bình thường hoá quan hệ hai nước nhưng tại sao trong đàm phán bí mật lại không dám nói dù chỉ là một lời với Trung Quốc về cuộc chiến tranh tàn ác đó và buộc họ chí ít phải nói ra câu 'lấy làm tiếc' về hành động phi nghĩa của mình?

Nhượng bộ vô nguyên tắc này của Việt Nam đã làm cho Trung Quốc dường như giành được 'vị thế chính nghĩa' trước dư luận quốc tế và nhất là trong đông đảo nhân dân Trung Quốc dù họ mang hơn 60 vạn quân chính quy xâm lược, giết hại nhiều đồng bào ta, tàn phá nhiều cơ sở vật chất của ta tại vùng sáu tỉnh biên giới Việt Nam.

Làm cho một bộ phận người trên thế giới cho rằng những vu cáo bịa đặt của Trung Quốc: 'Việt Nam xua đuổi người Hoa', 'Việt Nam xâm lược Campuchia'… là đúng, việc thế giới 'lên án, bao vây cấm vận Việt Nam' là cần thiết, việc Trung Quốc 'cho Việt Nam một bài học' là phải đạo…trong khi chính chúng ta mới là ngườì có công lớn trong việc đánh tan bọn Khơme Đỏ, cứu nhân dân Campuchia khỏi nạn diệt chủng. Tóm lại là đã làm cho khá nhiều người trong thời gian khá dài hiểu lầm, ác cảm với Việt Nam.

Cho tới khi đặt bút viết những dòng này mặc dù đã mất nhiều công sức tìm hiểu, người viết vẫn chưa biết ai là người đề xuất chủ trương cấm không được nói lại chuyện cũ với Trung Quốc, khiến cho trong hơn 20 năm qua, trên các phương tiện truyền thông của Việt Nam không hề có một tin tức nào động chạm tới Trung Quốc. Ngay cả tên tuổi, nghĩa trang của các liệt sĩ hy sinh trong cuộc đấu tranh yêu nước thần thánh trên cũng bị cố tình lảng tránh không dám công khai nói tới, thậm chí bị lãng quên.

Cuộc chiến tranh biên giới năm 1979 bị quên đi

Cần phải nói ra đây một sự thực là trong khi đó, báo, mạng chính thống của Trung Quốc vẫn ra sức tung hoành, không hề bị một sự cấm đoán, hạn chế nào, ngày ngày tìm hết cách để bôi xấu, xuyên tạc Việt Nam về mọi mặt, đến nỗi phần lớn người dân Trung Quốc bình thường khi được hỏi về Việt nam cũng thốt lên, Việt Nam là 'vô ơn bội nghĩa, là kẻ ăn cháo đá bát'...

Theo tài liệu chính thức của Trung Quốc trong một cuộc điều tra công khai, đã có tới “80% dân mạng Trung Quốc - tức khoảng 300 triệu ngưòi-chủ yếu là thanh niên và người có học - tán thành dùng biện pháp vũ lực với Việt Nam tại Biển Đông.

Cảm tình, ấn tượng tốt đẹp của đa số nhân dân Trung Quốc về một nước Việt Nam anh dũng trong chiến đấu, cần cù trong lao động, hữu nghị với Trung Quốc trước đây dường như không còn nữa. Hậu quả tai hại này chưa biết bao giờ mới xoá bỏ được.

Chấp nhận yêu sách trắng trợn của phía Trung Quốc gạt bỏ mọi chức vụ trong và ngoài đảng đồng chí Nguyễn Cơ Thạch, Uỷ viên Bộ Chính trị, Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam, rồi lợi dụng mọi cơ hội đế đến Đại hội 8 Đảng Cộng sản Việt Nam chính thức làm được việc đó khi đồng chí là một trong số rất ít người lãnh đạo có tư duy sáng tạo, am hiểu tình hình quốc tế, có sức khoẻ dồi dào, có uy tín quốc tế, nhất là đối với các nước Phương Tây là một việc làm thể hiện sự yếu kém về bản lĩnh và sự tha hoá về tình nghĩa cộng sản, là một việc làm dại dột “vác đá tự ghè chân mình”...

Có thể nói mà không sợ quá mức rằng, nếu Nguyễn Cơ Thạch còn trong ban lãnh đạo cấp cao Đảng ta một nhiệm kỳ nữa thì việc bình thường hoá quan hệ Việt Mỹ và việc Việt Nam gia nhập Asean chắc chắn không phải mãi đến năm 1995 mới thực hiện, chậm hơn việc bình thường hoá quan hệ với Trung Quốc tới gần 5 năm.

Ban lãnh đạo Bắc Kinh các thế hệ, lo sợ ảnh hưởng của Nguyễn Cơ Thạch tới mức, mặc dù ông buộc phải nghỉ hưu và mất đã khá lâu mà hơn hai mươi năm sau ngày bình thưòng hoá quan hệ Việt Trung, tại Đại hội lần thứ XI ĐCSVN tháng 1 năm 2011 họ còn không muốn để con trai ông làm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Việt Nam (lời nguời lãnh đạo đảng ta lúc đó nói, tôi được nguyên đại sứ Việt Nam tại Trung Quốc Nguyễn Trọng Vĩnh trực tiếp cho biết)

Cần nói thêm, việc ngoan ngoãn chấp hành yêu sách gạt bỏ đồng chí Nguyễn Cơ Thạch đã tạo điều kiện để từ sau đó, Bắc Kinh can thiệp ngày càng sâu hơn vào công tác cán bộ, nhân sự chủ chốt của đảng và nhà nước ta qua mấy kỳ đại hội Đảng (IX, X, và XI) nhằm có người thân Trung Quốc trong cơ cấu lãnh đạo cấp cao.

Việc tỏ ý không muốn thấy con trai đồng chí Nguyễn Cơ Thạch nêu trên chỉ là một ví dụ gần đây nhất.
Quan hệ Việt Trung trải qua nhiều bước thăng trầm

Đây là việc chưa từng có trong Đảng ta. Chúng ta đều biết thời Bác Hồ, trong Đảng ta tuy có người này kẻ kia thân Liên Xô, thân Trung Quốc nhưng ngưòi nào cũng phải nghiêm chỉnh chấp hành đường lối của Đảng, thời đồng chí Lê Duấn là người lãnh đạo chủ yếu đã không duy trì được nếp chung sống đó, nhưng bất kể là ai hễ thân Liên Xô, thân Trung Quốc trong đảng đều bị loại trừ.

Có thể nhận định thế này thế nọ về hiện tượng trên nhưng có một điều có thể khẳng định, thời đó nước ngoài và nhất là Trung Quốc, không thể trực tiếp thò tay can thiệp vào nội bộ Đảng ta nhất là vê công tác nhân sự tổ chức.

Nhưng từ năm 1991 đến nay, việc Trung Quốc can thiệp vào nội bộ ta đã hầu như đã diễn ra thường xuyên và chưa hề bị lên án. Phải chăng đã xuất hiện 'Nhóm lợi ích thân Trung Quốc' trong Đảng ta? Không giải quyết được tình trạng này thì hậu hoạn khôn lường.

Bài học bị dắt mũi nhớ đời

Không thể dùng các từ ngữ thông thưòng để đánh giá các hậu quả trên mà phải dùng từ “cái giá phải trả bằng xương máu” mới phản ánh đúng bản chất của vấn đề.
Hội nghị Thành Đô đã, đang và sẽ còn mang lại cho đất nước chúng những hậu quả to lớn, cay đắng, nhục nhã...

Vì vậy một vấn đề cũng quan trọng không kém mà người viết xin mạnh dạn khởi đầu trước: từ những cái giá phải trả đó chúng ta cần rút ra những bài học gì? Cần ghi nhớ những bài học nào?

1. Những ngưòi lãnh đạo chủ chốt của Đảng ta lúc đó hầu như không nắm được những thay đổi, những diễn biến lớn trên trường quốc tế, nhất là về các nước XHCN Đông Âu, tình hình Liên Xô, tình hình Mỹ cũng như tình hình đối thủ trực tiếp của mình lúc đó là Trung Quốc. Từ đó đã có những nhận định rất sai lầm để rồi đưa ra những quyết định rất sai lầm.

Lãnh đạo Việt Nam đã nhận định sai về vị thế quan hệ Trung - Xô

Thắng lợi của Công đoàn Đoàn kết tại Ba Lan, sự kiện Bức tường Berlin bị nhân dân Đức xoá bỏ, việc Yeltsin giành chiến thắng trong cuộc bầu cử tại Liên bang Nga, Gorbachev từ bỏ chủ nghĩa xã hội và đảng cộng sản… đã không làm cho một số ngưòi trong ban lãnh đạo chúng ta thấy rằng chủ nghĩa xã hội đã không còn được nhân dân ở chính ngay những nước đó ưa thích, theo đuổi, sự sụp đổ của họ là lẽ tất nhiên.

Trong tình hình như thế mà lại chủ trương 'bình thường hoá quan hệ với Trung Quốc để bảo vệ chủ nghĩa xã hội, chống đế quốc', 'Mỹ và Phương Tây muốn cơ hội này để xoá cộng sản'.

"Nó đang xoá ở Đông Âu. Nó tuyên bố là xoá cộng sản trên toàn thế giới. Rõ ràng là nó là kẻ thù trực tiếp và nguy hiểm. Ta phải tìm đồng minh. Đồng minh này là Trung Quốc.” (trích Hồi ký Trần Quang Cơ)

Cần thấy rằng, trước đó Liên Xô là chỗ dựa về nhiều mặt của Việt Nam, tuy vậy phải nói thẳng ra rằng, so với Cuba thì Việt Nam tương đối ít lệ thuộc hơn. Thế nhưng trong khi Cuba phụ thuộc nặng nề vào Liên Xô, lại ở ngay sát nách Mỹ đã không tỏ ra hoảng hốt khi Liên Xô tan rã, và các bạn ấy vẫn hiên ngang đứng vững từ đó đến nay, Mỹ không dám can thiệp… thì Việt Nam đã phải vội vã quay sang tìm đồng minh ngay với kẻ đang là đối thủ nguy hiểm trực tiếp của mình chỉ vì cái đại cục chung chung, chỉ vì sợ mất chỗ dựa, sợ có thể mất chủ nghĩa xã hội, mất Đảng.

Không thấy hết những khó khăn trong ngoài nước của Trung Quốc lúc đó. Trong nước họ vừa xảy ra sự kiện Thiên An Môn, Triệu Tử Dương bị cách chức Tổng Bí thư, nội bộ lãnh đạo cấp cao bất đồng sâu sắc, một bộ phận nhân dân bất mãn với Đảng Cộng sản Trung Quốc.

Do đàn áp đẫm máu học sinh sinh viên, Trung Quốc bị các nước Phương Tây chủ yếu cấm vận về chính trị, kinh tế, quân sự, có hạng mục như xuất khẩu kỹ thuật cao trong quân sự đến nay vẫn chưa huỷ bỏ.

Họ ở vào thế không có lợi nhiều mặt khi bình thường hoá quan hệ với ta, nhưng do mấy nhà lãnh đạo chúng ta lúc đó đánh giá không đúng tình hình nên không những không sử dụng được lợi thế của mình, mà còn bị Trung Quốc 'dắt mũi' kéo theo, thiệt đơn thiệt kép trong xử lý quan hệ cũ và trong giai đoạn bình thường quan hệ mới, cho tới tận bây giờ và cả trong tương lai nữa.

Lãnh đạo Việt Nam năm 1990 đã đánh mất bản lĩnh và trở nên sợ địch

Không thể không đề cập tới một vấn đề nữa là trong hơn 10 năm đối kháng, nhà nước Xã hội chủ nghĩa Trung Quốc, Đảng Cộng sản Trung Quốc đã không từ thủ đoạn nào trong đối xử với nước ta, không những thế thái độ của họ trong đối xử với Liên Xô, trong đối xử với nước Ấn Độ láng giềng đồng tác giả với họ trong đề xướng 5 nguyên tăc chung sống hoà bình những năm trước đó.

Chẳng lẽ Ban lãnh đạo Việt Nam lúc đó lại không thấy chút nào?

2. Bằng những thoả thuận tại Hội nghị Thành Đô, mấy nhà lãnh đạo chủ yếu của Đảng ta lúc đó đã tự đánh mất bản lĩnh kiên cường, bất khuất, không sợ địch mà nhiều thế hệ lãnh đạo đã nêu cao, để sẵn sàng nhận sai về phần mình trước kẻ thù, tuỳ tiện đổ lỗi cho người tiền nhiệm.

Người viết bài này không hiểu vì sao, người đại diện cho Đảng ta, một nhân vật có tinh thần sáng tạo lớn với ý chí kiên cường đã tích cực phát triển đường lối cải cách và Đổi mới và chỉ đạo toàn Đảng toàn dân thu được những thành tích to lớn rất quan trọng bước đầu, thế nhưng trước đối thủ Trung Quốc hình như chỉ còn là chiếc bóng, mất hết cảnh giác cách mạng gật đầu tin tưởng và làm theo mọi đề xuất mang đầy chất lừa bịp 'vì chủ nghĩa xã hội', 'vì đại cục' của Trung Quốc, thậm chí chấp nhận để họ can thiệp vào công việc nhân sự cấp cao của đảng ta.

Bài học này, cần được phân tích sâu sắc trong toàn Đảng, toàn dân, một mặt để thấy rõ sai lầm quá khứ, một mặt để ngăn chặn, phá tan những âm mưu, mánh khoé mới của ngưòi 'láng giềng bốn tốt', của 'những đồng chí' luôn rêu rao '16 chữ vàng' đang không ngừng vận dụng những thành quả cũ vào trong quan hệ với Việt Nam chúng ta hiện nay và trong tương lai.

Bài viết thể hiện quan điểm riêng của nhà ngoại giao kỳ cựu Dương Danh Dy, hiện sống tại Hà Nội. Mời quý vị đọc bài trước 'Họp Thành Đô 'nguyên nhân và diễn biến'

Asia Clinic, 12h35' ngày thứ Ba, 29/10/2014

Thứ Sáu, 25 tháng 7, 2014

NƯỚC VIỆT ĐẾN 2016


Bài đọc liên quan:

Chuyến đi Hoa Kỳ của ông bí thư thành ủy Hà Nội thay thế cho ông bộ trưởng ngoại giao Việt Nam vào ngày 21/7/2014, được giấu kín mãi đến ngày 23/7/2014 cơ quan ngôn luận chính thức lớn nhất của Việt Nam mới đưa tin, và sau đó, ngay cả VOA - Voice of America - cũng chỉ đưa tin theo báo chí Việt Nam, mà VOA hoàn toàn không có bất kỳ thông tin nào tại một đất nước tự do thông tin như Hoa Kỳ về chuyến đi này là điều cần mổ xẻ.

Cung vua phủ chúa và bộ nhất hay bộ tứ?

Nhiệm kỳ 12 của đại hội đảng cộng sản ở Việt Nam sẽ diễn ra vào năm 2016. Từ trước đến nay, cơ cấu nhân sự bộ tứ luôn được chuẩn bị từ ít nhất 20 năm, nhưng khác với Trung cộng, Việt Nam việc nhân sự chủ chốt xuất hiện vào phút 89 là điều trở thành tất nhiên suốt mấy chục năm qua.

Trong gần 10 năm qua, vai trò người đứng đầu của đảng cộng sản ở Việt Nam không còn như trước đây là một dấu hiệu thay đổi đáng ghi nhận. Ngược lại, nổi bật vai trò người điều hành hành pháp và quản lý đất nước trong cương vị thủ tướng rõ nét hơn bao giờ hết.

Cơ chế bộ tứ của đảng cầm quyền ở Việt Nam là một cơ chế tản quyền, nhưng tản quyền ấy được thể chế hóa trong một đảng tập quyền, mà không có đảng đối lập thứ hai làm tản quyền đảng cầm quyền, thêm vào đó, văn hóa duy tình, lúa nước của Việt Nam đã là nguyên nhân tai hại làm nên một nền kinh tế, chính trị Việt Nam sa vào con đường khủng hoảng hiện nay.

Hai năm trước tôi viết bài: Chuyện Đông, chuyện Tây và chuyện nước Việt để tiên đoán tình hình chính trị Việt trong tương lai. Hôm nay đã bắt đầu lộ rõ cuộc chạy đua của cung vua phủ chúa vào nhiệm kỳ tới 2016. Vấn đề quan trọng là, từ tản quyền bộ tứ để kéo chân nhau, ăn chia làm trì trệ đất nước trong một nền chính trị tập quyền, không đối thủ, hay là tập quyền nhỏ trong một cái tập quyền lớn trong tương lai mới là quan trọng.

Nếu tập quyền về một người nắm trọn quyền hành như Trung cộng, thì ai trong vị trí thủ tướng đương nhiệm và người sẽ thay thế chức tổng bí thư trong nhiệm kỳ tới sẽ nắm trọn? Mà ông bí thư thành ủy Hà Nội được xem là cơ cấu vào vị trí tổng bí thư trong nhiệm kỳ tới.

Nhưng tại sao ông bí thư thành ủy Hà Nội lại thay thế ông bộ trưởng ngoại giao trong chuyến thăm Hoa Kỳ theo lời mời đồng cấp của ông John Kerry. Ở Việt Nam, về mặt cấp bậc chính trị, thì ông bí thư Hà Nội cao hơn ông bộ trưởng ngoại giao. Nhưng ở Hoa Kỳ thì về mặt chính trị ông bộ trưởng ngoại giao đứng thứ 2 nước Mỹ. Nên không lạ, khi ông bí thư Hà Nội chỉ được các ông phó của ông John Kerry tiếp đón. 

Nhưng qua chuyến đi này, lần đầu tiên một nhân vật ở cương vị của đảng cộng sản ở Việt Nam được Hoa Kỳ chấp thuận cuộc viếng thăm, với những thảo luận mang tầm vóc nguyên thủ quốc gia, cũng là một điều đáng để bàn luận. Liệu cung vua hay phủ chúa sẽ thắng trong nhiệm kỳ tới? Liệu bộ tứ có còn tồn tại?

Khi nào Việt Nam sẽ như Miến Điện?

Có nhiều bình luận trong mấy ngày qua, Việt Nam sẽ đi theo Miến Điện, nhưng "chậm hơn 3 năm". Nhưng nếu nhìn lại, thì không phải thế. Việt Nam và Miến Điện có cùng xuất phát điểm về thời gian là năm 1990 cùng cải cách. Nhưng Miến Điện cải cách chính trị đa nguyên, đa đảng, và vẫn giữ độc quyền quân đội cầm quyền trong suốt 21 năm - 1990 đến 2011. Trong khi đó, Việt Nam chỉ cải cách kinh tế dưới màu sắc chính trị của Trung Cộng.

Vì thế, mà Miến Điện sẵn sàng từ chối nhiều dự án lớn của Trung cộng - như dự án đường ống dẫn dầu từ cảng Rangoon sang Vân Nam, và dự án đường sắt Vân Nam sang Miến Điện, v.v... Ngược lại, nền kinh tế Việt Nam đang ngày càng lệ thuộc nền kinh tế Trung cộng. Nên mới có câu chuyện Trung cộng ngày càng lấn sâu hơn về chuyện lãnh thổ, và biển đảo.

Miến Điện từ chối thẳng thừng dự án đường sắt và đường ống dẫn khí gas từ thành phố Côn Minh thủ phủ tỉnh Vân Nam sang thành phố biển Rangoon. Trong khí đó cộng sản ở Việt Nam thì lệ thuộc Trung cộng chỉ vì những dự án bạc cắt để ăn chia, làm phá hoại tài nguyên đất nước của tổ tiên để lại.

Ngoài ra, trong khi Miến Điện đã và đang trở thành một nền chính trị tự do dân chủ, đi đôi với nền kinh tế thị trường tự do, thì Việt Nam ngày càng rơi vào một nền kinh tế chính trị độc quyền của đảng cầm quyền thông qua hiến pháp năm 2013 vừa qua.

Hôm nay kinh tế Miến Điện đang thua xa Việt Nam, nhưng để Miến Điện bắt kịp Việt Nam về kinh tế thì chẳng mấy chốc. Vì con đường của Miến Điện đi là con đường của Nam Hàn đã đi từ thập niên 1970. Chỉ sau 4 thập niên Nam Hàn trở thành cường quốc về mọi mặt trong top 20 của thế giới.

Kinh tế là chính trị, nên mới gọi kinh tế là một ngành khoa học của nghệ thuật - Science of art. Và thế giới mới có bộ môn kinh tế chính trị học. Kinh tế quyết định chính trị, nhưng chính trị lại thúc đẩy hay kiềm hãm kinh tế. Chính trị đúng thì kinh tế khởi sắc. Chính trị sai thì kinh tế khủng hoảng, khi kinh tế khủng hoảng thì buộc chính trị phải thay đổi.

Miến Điện đã nhìn thấy rõ mấu chốt cái cần thay đổi là chính trị, chứ không phải kinh tế. Nên 24 năm trước Than Shwe đã làm cuộc cách mạng chính trị, để năm 2011 Thein Sein làm cuộc thay đổi kinh tế chính trị triệt để.

Việt Nam cũng nhìn thấy cần thay đổi, nhưng lại đi vào cuộc thay đổi kinh tế để giữ mạng sống của đảng cộng sản cầm quyền. Nên hôm nay khủng hoảng cả chính trị lẫn kinh tế, và hậu quả là, lệ thuộc Trung cộng. Nên phải ít nhất 20 năm tới thì Việt Nam mới đuổi kịp Miến Điện về cả cuộc thay đổi triệt để kinh tế lẫn chính trị, mới mong tự lực tực cường như Hàn Quốc ngày nay.

Kịch bản nào cho Việt Nam?

Người có tầm nhìn ở nước Việt hiện nay, ai cũng thấy đời sống của thể chế chính trị của Việt Nam chỉ còn tính bằng tháng. Nhưng vấn đề quan trọng bậc nhất là, khi thể chế chính trị hiện nay chết đi, thì làm sao để đất nước yên bình, mà không bạo loạn, và tệ hại hơn hiện nay?

Thống kê từ thời Lý Công Uẩn lên ngôi, và đặt Thăng Long là đất của hoàng thành, thì mảnh đất này chưa bao giờ chứa được họ nhà nào kéo dài quá 8 đời vua. Và đời vua của đảng cộng sản nắm quyền ở Việt Nam đến đời tổng bí thư của nhiệm kỳ thứ 11 này đã là đời thứ Tám!

Cuộc chạy đua của cung vua và phủ chúa đến giờ này đã bộc lộ hết tất cả những con cờ trên bàn cờ chính trị. Nhưng vì kinh tế là nền tảng quyết định cho chính trị, nên con cờ nào nắm kinh tế, thì con cờ ấy sẽ đi nước cuối cùng trên bàn cờ đến cung điện Ba Đình. 

Chuyến đi của ông bí thư Hà Nội chỉ là lửa của ngọn đèn leo lét bùng lên trước khi tắt của cung vua. Nhưng cũng không loại trừ kịch bản Trịnh Nguyễn phân tranh trở lại, khi có sự hà hơi tiếp sức của ngoại bang. Chính trị là nghệ thuật của sự có thể, nhưng cũng là trò chơi không khoan nhượng, kẻ nào chơi nửa vời xét lại đều bị loại khỏi cuộc chơi.

Mọi việc đã quá rõ, và chúng ta hãy chờ xem.

Asia Clinic, 10h18' ngày thứ Bảy, 26/7/2014

Chủ Nhật, 5 tháng 1, 2014

PHÊN GIẬU CỦA CÁC CƯỜNG QUỐC PHÂN TRANH

Bài đọc liên quan:
+ Thoát Trung luận 1
+ Thoát Trung luận 2
+ Thoát Trung luận 3
+ Trào lưu thoát Trung Hoa của các chư hầu
+ Bản chất của kinh tế chính trị toàn cầu nửa thế kỷ qua và tương lai
+ Vật thế chấp của các cường quốc
+ Vật thế chấp chính trị
+ Quân bài đã chia - Vấn đề còn lại là ta

Mặc dù lý thuyết cho một thể chế chính trị đa nguyên, tản quyền đặt nền tảng cho chế độ Phong Kiến lui vào quá khứ được ra đời từ cựu lục địa châu Âu vào 1750. Nhưng trong khi châu Âu ngụp lặn với thời kỳ suy tàn của các đế chế đi xâm lược và vơ vét tài nguyên khắp thế giới, thì chỉ 16 năm sau - 1776 - Hoa Kỳ, một tân thế giới đã hình thành một quốc gia non trẻ đầu tiên về một thể chế chính trị đa nguyên, tản quyền hoàn hảo nhất.

Sau Hoa Kỳ 13 năm, mãi đến 1789, Pháp, nơi đã đẻ ra lý thuyết đa nguyên tản quyền mới có cuộc cách mạng dân chủ tư sản ở cựu lục địa. Thế nhưng, vì quyền lợi của giai cấp cầm quyền, Pháp đã đẻ ra một Napoleon Bonaparte níu kéo quốc gia này trở lại chế độ Phong kiến một lần nữa, và kinh qua với những cái gọi là các nền Đệ nhất, nhị, tam, tứ Cộng hòa Pháp, song dưới hình thái xã hội quân chủ phong kiến chuyên quyền, kể cả đến chính phủ Vichy do Thống chế Philippe Pétain nắm quyền độc tài từ tháng 7/1940 đến tháng 8/1944 cũng chưa được xem là một nền chính trị đa nguyên tản quyền, mặc dù cũng có tam đầu chế - hành pháp, tư pháp và lập pháp nhưng tất cả các quyền này do Philippe Pétain nắm trọn. Mãi đến khi tướng Charles de Gaulle nắm quyền thành lập nền Đệ Ngũ Cộng Hòa, nước Pháp mới có được hiến pháp 1958, và thực sự là một quốc gia có chế độ chính trị đa nguyên, tản quyền. Có nghĩa là, châu Âu đi sau Hoa Kỳ đến những 182 năm về sự tiến hóa về chế độ chính trị, nếu lấy Pháp làm mốc!

Khi chuyển từ chế độ độc tài sang chế độ đa nguyên tản quyền, các đế quốc chuyển hình thức đi xâm lược, và bóc lột tài nguyên các thuộc địa sang hình thức tạo ra phên giậu cho họ. Họ không còn áp đặt con người của mẫu quốc lên ngay trên thuộc địa của mình, mà họ biến thuộc địa thành cái gọi là, đồng minh chiến lược. Họ điều khiển các phên giậu của họ bằng quyền lực mềm - kinh tế, văn hóa và thể chế chính trị giống hoặc một kiểu biến thể chính trị của họ.

Sau Thế chiến thứ II, thế giới thành chân vạc tam cường quốc phân tranh - Hoa Kỳ, Trung Hoa và Liên Xô. Nhưng sau khi Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, 3 quốc gia chính phân tranh vẫn còn, với Nga thay thế Liên Xô cũ. Các phên giậu của 3 cường quốc cũng thay đổi theo thời gian.

Cũng chính Hoa Kỳ là quốc gia áp đặt phên giậu rộng khắp thế giới ngay sau Thế chiến thứ II. Bằng cách tạo ra Hiệp Ước Bắc Đại Tây Dương, phên giậu châu Âu của Hoa Kỳ nhằm canh chừng, và tấn công cộng sản châu Âu gồm Liên Xô và Đông Âu. Liên Xô cũng không kém cạnh, khi họ lập ra một phên giậu Đông Âu sau Thế chiến II.

Ở châu Á cũng vậy, Hoa Kỳ thay thế Pháp và miền Nam Việt Nam, Đông Dương và các quốc gia đồng minh ở Đông Nám Á và Đông Bắc Á, để làm phên giậu cho mình và thế giới tự do, nhằm ngăn cản sự bành trướng cộng sản từ Trung Hoa. Trung Hoa cũng không chịu ngồi yên, họ lập ra những phên giậu cho mình: Bắc Hàn, Bắc Việt, Pakistan và cả Lào lẫn Cambodia, trong khi khống chế và răn đe Miến Điện. Nhưng chưa bao giờ chế độ quân chủ độc tài chuyên chế ở Miến Điện chịu khuất phục Trung Hoa, ngay cả trong những lúc nền kinh tế quốc gia này suy sụp nhất, do cấm vận kinh tế lẫn chính trị của Hoa Kỳ và phương Tây.

Phên giậu của một căn nhà là để đề phòng trộm cướp và quy định quyền lãnh thổ của một gia đình. Phên giậu của một quốc gia - một cách nói khác của từ chư hầu - là nơi dùng để truyền bá tư tưởng, văn hóa, kinh tế, chính trị, và nếu cần là tuyên bố chủ quyền bằng vũ lực, bằng cách xuất khẩu chiến tranh sang phên giậu. Khác với phên giậu của một gia đình là, phên giậu của một cường quốc cũng là nơi mà cường quốc lấn chiếm khi có cơ hội.

Những lấn chiếm hoặc mua bán, hoặc ra hiến pháp cho phép sáp nhập những vùng phên giậu cho các cường quốc nới rộng lãnh thổ không thiếu những minh chứng trong lịch sử thế giới cận đại. Ví dụ với Hoa Kỳ thì, Texas, New Mexico, v.v... là những phên giậu đã được sáp nhập theo hiến pháp và chiến tranh với Mễ Tây Cơ. Với Liên Xô thì nhờ vào Thế chiến II mà, họ nắm cả Đông Âu, kể cả một nửa nước Đức, và lấy cả vùng Siberia rộng lớn giàu tài nguyên mà trước đây là Tây Bá Lợi Á của Mông Cổ. Với Trung Hoa, họ chiếm Tây Tạng của người Tây Tạng; chiếm Tân Cương và Nội Mông của Mông Cổ; lấn chiếm trọn quần đảo Hoàng Sa và 7 đảo, đá ngầm Trường Sa của Việt Nam vào lúc Việt Nam yếu thế và cô độc của những năm 1974 từ Việt Nam Cộng Hòa và năm 1988 của Việt Nam Cộng Sản.

Trong một phỏng vấn với đài BBC Luân Đôn, bà phu nhân của cố Tổng bí thư Lê Duẩn đã trung thực nói ra là Bắc Việt đã ký kết và giao Hoàng Sa cho Trung Hoa!

Từ những điểm lịch sử trên, ngày nay 2 cường quốc Nga và Trung Hoa có phên giậu yếu thế hơn Hoa Kỳ rất nhiều. Hai cường quốc này chỉ còn sử dụng vũ khí tối tân, và một phần kinh tế, tài nguyên của họ để kiềm chế Hoa Kỳ.

Sau sụp đổ Liên Xô và Đông Âu làm cho nước Nga mất đi hơn 10 quốc gia Đông Âu làm phên giậu cho mình. Nền kinh tế Nga chỉ còn dựa vào bán tài nguyên giàu có nhất thế giới là khí gas và dầu hỏa ở vùng Siberia chiếm từ Mông Cổ, và quốc phòng Nga tiếp nhận sự hùng cường của Liên Xô cũ để răn đe láng giềng - xưa là phên giậu của mình - hòng phòng thủ và tấn công đến Tây Âu khi cần.

Sau khi lên nắm Trung Hoa, Mao Trạch Đông đã có công lớn cho Trung Hoa khi tăng diện tích lãnh thổ nước này gấp 3 lần so với thời nhà Thanh trở về trước, với lấn chiến Tây Tạng, Tân Cương và Nội Mông. Nhưng phên giậu của Trung Hoa chỉ rất ít ỏi, yếu hèn, và nghèo khó: Bắc Hàn, Việt Nam, Lào, Cambodia, và Hồi Quốc - Pakistan. Mặc dù vài thập niên gần đây Trung Hoa cố gắng tạo ra phên giậu cho mình ở các châu lục như, Phi, Mỹ La Tinh, nhưng khả năng kiểm soát các phên giậu này của Trung Hoa là ngoài tầm kiểm soát. Điều này được minh chứng khi các cuộc cách mạng Hoa Nhài ở Bắc Phi Trung Đông xảy ra, Trung Hoa đã mất trắng những gì họ đã cố công đầu tư suốt 2 thập niên qua.

Đối với Hoa Kỳ, phên giậu của họ có khắp mọi nơi, và khả năng kiểm soát của họ cũng chưa bao giờ thất bại, nếu họ không muốn từ bỏ phên giậu như đã từ bỏ Việt Nam Cộng Hòa, biến VNCH và Bắc Việt thành vật thế chấp của ngoại gao bóng bàn thông qua Thông Cáo Thượng Hải 1972 và Hiệp Định Paris 1973, để được cái lớn hơn là Trung Đông, và sụp đổ khối cộng sản Liên Xô và Đông Âu sau đó 17 năm.

Sau cái gọi là "thắng lợi" tại Hiệp Định Paris ngày 27/01/1973, thí ngày 19 Tháng 11 năm 1973, Mao Trạch Đông đã tiếp Chủ tịch Mặt trận Giải phóng Miền Nam Việt Nam Nguyễn Hữu Thọ và bà Nguyễn Thị Bình Bộ trưởng ngoại giao của Mặt Trận Giải phóng Miền Nam Việt Nam tại Văn phòng Trung ương để ăn mừng phên giậu của mình đã hoàn thành nhiệm vụ được giao! (Hình của Science Human)

Sự khác biệt giữa quyền lực kiểm soát phên giậu của 3 cường quốc - hay nói cách khác là giữa Hoa Kỳ và 2 nước còn lại là Nga và Trung Hoa - là ở quyền lực mềm, và cái cách mà Hoa Kỳ chọn lựa phên giậu trong chiến lược toàn cầu của mình. Nếu Trung Hoa và Nga sử dụng quyền lực mềm là làm sao cho các phên giậu nghèo, hèn, và những lợi ích của chế độ chính trị quay về thời phong kiến, hòng gắn liền với sự ban phát lợi ích cho giai cấp cầm quyền, để ép cho phên giậu trung thành, thì Hoa Kỳ sử dụng tự do, dân chủ và giàu mạnh bằng cách chia bài cho các phên giậu được hưởng, để các phên giậu tự lực tự cường dưới sự bảo trợ an ninh quốc phòng của Hoa Kỳ.

Hay nói cho dễ hiểu là quyền lực mềm của Hoa Kỳ mang đến cho các phên giậu của mình là cho nhân dân, và cái chung của đất nước đó. Ngược lại quyền lực mềm của Nga và Trung Hoa là mang lại lợi ích cho cái riêng và của giai cấp cầm quyền của quốc gia mà họ chọn làm chư hầu.

Chính vì 2 cách tạo ra phên giậu khác nhau này mà, ngày nay và tương lai xa Hoa Kỳ sẽ ngày càng có nhiều phên giậu đi theo, và sức mạnh của Hoa Kỳ sẽ là siêu cường số 1 toàn cầu, mà 2 cường quốc còn lại sẽ không thể cạnh tranh. Một minh chừng hùng hồn dễ thấy là, Hoa Kỳ luôn có phên giậu Israel để cai quản Trung Đông Bắc Phi, nhưng ngược lại Trung Hoa trắng tay ở Libya, và Nga cũng khắc khổ với Syria hoặc Ukraina trong hiện tại và tương lai.

Vấn đề đáng lo ngại cho các phên giậu của Nga và Trung Hoa là, 2 cường quốc này sẽ không bao giờ buông các phên giậu ít ỏi của mình, và cũng không bao giờ đủ khả năng tạo điều kiện cho các phên giậu của mình giàu mạnh, mà bòn rút cho các phên giậu thêm nghèo hèn qua chính sách xuất khẩu hàng hóa và vũ khí. Và 2 cường quốc này còn dùng cách làm nghèo kinh tế, và nền chính trị tạo ra lợi ích cho nhóm cầm quyền các phên giậu của mình, để làm cho các phên giậu này không dám bỏ họ. Nhưng khi tức nước vỡ bờ, thì hầu như các phên giậu này phải giải quyết bằng cách các chính khách lấy nhân dân ra làm vật thế chấp chính trị, hoặc đổ máu bằng chính đồng bào của mình như ở Libya hay Syria, mà không thể có cuộc cách mạng êm đẹp như ở Miến Điện hay Nam Phi. Một điều đáng mừng là, Liên Xô cũ đã có một Gorbachev quá nhân bản và xuất chúng, nên phên giậu của Liên Xô đã làm được chuyện thần kỳ trong cuối thập niên 1980s bằng những cuộc cách mạng Hoa Hồng.

Như vậy, trong tương lai gần và xa làm sao những phên giậu của Trung Hoa có thể thoát được Trung Hoa là một vấn đề vô cùng cam go và khó khăn. Vì ba yếu tố, kinh tế nghèo đói, tư tưởng văn hóa lệ thuộc, chế độ chính trị độc tài, và tạo điều kiện cho nhóm cầm quyền giữ súng và nhà tù để kiếm ăn, là ba yếu tố trói buộc phên giậu của Trung Hoa hầu như không có lối thoát.

Những người đi đến Hội nghị bí mật ở Thành Đô 1990: Lý Bằng, Giang Trạch Dân, Thông dịch viên không rõ tên, Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười và Phạm Văn Đồng(từ trái sang phải) - Ảnh của Xinghua)

Lịch sử của Việt Nam đã từng có nhiều lần Thoát Trung Hoa, nhưng cuối cùng cũng phải quay trở lại làm phên giậu cho Trung Hoa. Lần gần đây nhất là từ 1976 đến 1990, Việt Nam đã cố vùng vẫy để Thoát Trung Hoa, nhưng cuối cùng phải chịu làm phên giậu cho Trung Hoa trở lại từ Hội Nghị Thành Đô vào hai ngày 03 và 04/9/1990, theo yêu cầu của Đặng Tiểu Bình. Rõ ràng, họ Đặng đã chọn ngày rất ý nghĩa, khi ông ta chọn ngay sau ngày quốc khánh của Việt Nam cộng sản để ký kết sáp nhập Việt Nam vào Trung Hoa chăng?

Có chuyên gia cho rằng, muốn thoát Trung Hoa chỉ còn có cách vào đất nước Trung Hoa để đấu tranh, chứ không thể đấu tranh ở tại quốc gia đang là phên giậu của Trung Hoa. Chuyện này còn khó hơn hái sao trên trời!

Asia Clinic, 12h35' ngày thứ Hai, 06/01/2014

Thứ Năm, 12 tháng 12, 2013

BÀN VỀ CHUYẾN THĂM CỦA ÔNG NGOẠI TRƯỞNG JOHN KERRY ĐẾN VIỆT NAM

Bài đọc liên quan:

Có nhiều ý kiến khác nhau về chuyến viếng thăm của ông ngoại trưởng Hoa Kỳ đến Việt Nam cuối tuần này. Giáo sư Việt Kiều thì đặt vấn đề bàn bạc của ông John Kerry với Việt Nam là nhân quyền theo như yêu cầu của 47 nghị sĩ Hoa Kỳ, vì bị thua sút Trung Hoa sau chuyến viếng thăm của ông Lý Khắc Cường trước khi quốc hội Việt Nam quyết định có thay đổi hiến pháp 2013 hay không? Chuyên gia kinh tế trong nước thì cho rằng chuyến đi này sẽ nghiêng về việc bàn luận kinh tế.

Tôi cũng thêm lời bàn cho vui cửa vui nhà, có cái để mọi người đọc chơi. Vì thấy, ngay cả ông Johyn Kerry cũng làm công tác dân vận trước khi vào đến Việt Nam ngay trên website của bộ ngoại giao Hoa Kỳ.

Ông John Kerry đang làm công tác dân vận trước khi đặt chân đến Việt Nam

Kết quả hiến pháp 2013 thì ai cũng rõ, chỉ thay đổi câu chữ, thay đổi vị trí các cụm từ từ trước ra sau, còn bản chất của 2 vấn đề kinh tế và chính trị vẫn như cũ. Kinh tế vẫn nhà nước làm chủ đạo, sở hữu công tư liệu sản xuất vẫn như xưa. Chính trị thì vẫn đơn nguyên tập quyền do đảng cộng sản đang cầm quyền tiếp tục lãnh đạo, mặc dù Việt Nam đã vào Ủy ban Nhân quyền Liên Hiệp Quốc ngay lúc này. Nó có liên quan gì đến chuyến đi của ông Lý Khắc Cường không, khi hôm nay có tin hợp tác kinh tế tiểu vùng sông Mê Kông lên đến 50 tỷ đô la, trong đó có sự tham gia của các nước Việt Nam, Campuchia, Lào, Myanmar, Thái Lan; tỉnh Vân Nam và Khu tự trị Quảng Tây của Trung Hoa.

Chiến lược ngoại giao của Việt Nam sau khi cởi trói bất di bất dịch là, ngoại giao đa phương, Việt Nam muốn là bạn của cả thế giới, không ngả về với bất kỳ quốc gia nào như trước đây đã sai lầm. Chiến lược ấy lấy chiêu thức cốt lõi của Tôn Tử: Dĩ bất biến ứng vạn biến. Nó có nghĩa là chiến lược đa phương ngoại giao là bất biến, tùy cơ ứng biến với những cái thay đổi của đối tác ngoại giao. Chuyến công du Nhật Bản hôm qua của ông thủ tướng Việt Nam trong khi ông John Kerry đến Việt Nam cũng chứng minh rõ điều này. Càng rõ ràng hơn khi đảng cầm quyền ở Việt Nam cũng tuyên bố là, muốn ổn định chính trị để phát triển kinh tế cũng là bất di bất dịch trong cương lĩnh của đảng cầm quyền.

Từ đó chúng ta thấy rằng, chuyến đi của ông John Kerry chỉ làm hâm nóng lại mối quan hệ song phương gần đây đang "nồng ấm" hơn theo kiểu ngoại giao mà cả 2 bên cùng nhau bắt 1 tay phải để hòng kiếm tìm quan hệ an ninh quốc phòng ở khu vực Thái Bình Dương, còn tay trái là đang cùng nhau thò vào túi đối tác để kiếm tiền, trong lúc Trung Hoa đang trổi dậy trong hung hăng.

Có một nguyên tắc ngoại giao trở thành nguyên lý là, khi anh đến nhà tôi để bàn chuyện gì thì anh cũng là kẻ cần tôi nhiều hơn là tôi cần anh. Khi ông chủ tịch nướcthủ tướng của Việt Nam sang Hoa Kỳ, thì Việt Nam cần Hoa Kỳ, còn lúc này nhân vật số 2 nước Mỹ sang Việt Nam thì Hoa Kỳ cần Việt Nam. Thế thôi cũng đã rõ mọi vấn đề sau khi Việt Nam tỏ rõ thái độ thân thiện với Trung Hoa trong kỳ họp quốc hội dài nhất lịch sử vừa qua.

Hơn thế nữa, Việt Nam cũng không dại mà phải nghe theo cường quốc nào. Ở giữa hưởng oản cả 2 thằng bằng ngoại giao đu dây vẫn hơn. Đó là chính sách ngoại giao đa phương theo kiểu win-win mà Việt Nam đang cho là tốt nhất trong tình hình hiện tại của toàn cầu. Nước xa chả cứu được lửa gần, Hoa Kỳ làm sao cứu được Việt Nam, khi Trung Hoa hãm hại? Lời nói ông cựu Đại sứ Anh Derek Tonkin vẫn còn vang vọng: "90% chính sách đối ngoại Việt Nam là với Trung Quốc". Nhất là trong lịch sử gần, Mỹ và Trung Hoa đã câu kết bán cả Việt Nam và Đông Dương cho Trung Hoa sau hiệp định Paris 1973 mà ai cũng còn nhớ như in.

Còn hơn thế nữa, chính quyền Việt Nam được điều hành bằng nghị quyết của đảng cầm quyền để chính phủ đưa ra những nghị định và thông tư làm chuẩn mực luật lệ của quốc gia. Hiến pháp và các bộ luật chỉ là những cái thứ yếu đứng sau nghị quyết và nghị định như ông tổng bí thư đã từng khẳng định rõ ràng. Nên chuyện gia nhập vào Ủy ban Nhân quyền Liên Hiệp Quốc là một thắng lợi đúng nghĩa của chính quyền Việt Nam, vì Việt Nam vào chiếc ghế này là để dạy cho thế giới hiểu về nhân quyền xã hội chủ nghĩa nó như thế nào, chứ không phải để làm theo cái mà thế giới quy định trong bản tuyên ngôn nhân quyền Liên Hiệp Quốc. Bằng chứng này đã được Việt Nam chứng minh bằng việc trấn áp những người dân đòi nhân quyền ngay trong ngày Quốc tế nhân quyền 10/12/2013 vừa qua. Có nghĩa là, nhân quyền của dân Việt phải nằm trong nghị quyết của đảng cầm quyền: chính trị phải ổn định để phát triển kinh tế.

Công an Việt Nam trấn áp buổi ra mắt của Mạng lưới Bloggers Việt Nam tại Sài Gòn trong ngày Quốc tế Nhân quyền 10/12/2013

Và tất cả những điều trên càng khẳng định cho sự dè dặt của Việt Nam khi đàm phán để vào TPP vừa mới chấm dứt cách đây 3 hôm tại Singapore vẫn còn bỏ ngõ dài hạn. Nó cho thấy câu nói của cố tổng thống Nguyễn Văn Thiêu ngày nào rất đúng: "Làm bạn với Mỹ khó hơn làm kẻ thù của Mỹ".

Với những vấn đề trên, chuyến đi của ông John Kerry về phía Hoa Kỳ không ngoài mục đích kéo Việt Nam về phía Mỹ để làm cân bằng quan hệ tay ba giữa ả đào Việt Nam với hai anh chàng nhà giàu Mỹ Trung. Về phía Việt Nam, sao cũng được, miễn các anh cho tôi cơ hội, của cải, và sức mạnh an ninh quốc phòng, để tôi làm cái mà hai anh muốn là cân bằng khu vực châu Á Thái Bình Dương, nhưng phải trong cái quan hệ đa phương, Việt Nam muốn là bạn của thế giới, và Việt Nam có cái kiểu nhân quyền của Việt Nam, không thể đem văn hóa nhân quyền của Hoa Kỳ áp đặt vào Việt Nam.

Asia Clinic, 13h18' ngày thứ Sáu, 13/12/2013

Chủ Nhật, 20 tháng 10, 2013

NHỮNG TRANH CÃI VỀ CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA TRUNG HOA

Bài dịch của Chu Giang Sơn


Vương Chính(Zheng Wang: 王 正) là một học giả về chính sách công ở trung tâm quốc tế Woodrow Wilson. Ông cũng là phó giáo sư tại John C Whitehead School of Diplomacy and International Relations thuộc Seton Hall University, tiểu bang New Jersey. Ông ấy cũng là nghiên cứu sinh của Jennings Randolph Senior ở viện nghiên cứu hòa bình của Hoa Kỳ và là thành viên của ủy ban quốc gia  về quan hệ Hoa  kỳ  - Trung hoa.


Tập Cận Bình có thể đã tỏa sáng ở hội nghị cấp cao APEC, nhưng Trung hoa vẫn cần phải giải quyết vài vấn đề về chính sách ngoại giao. 

Vừa mới đây, Tổng thống Obama đã hủy bỏ cuộc tham dự hội nghị APEC ở Indonesia, hội nghị Đông Á ở Brunei, và kế hoạch thăm Philippine và Malaysia. Ngược lại, Chủ tịch Trung hoa Tập Cận Bình đã có chuyến thăm thành công đến Indonesia và Malaysia, và tham dự hội nghị APEC. Với  sự vắng mặt của tổng thống Obama, sự hiện diện của Tập Cận Bình ở hội nghị đã trở nên long trọng hơn.

Chuyến đi đến các nước Đông Nam Á là chuyến đi ngoại giao thứ 4 của Tập Cận Bình kể từ khi ông nhậm chức chủ tịch nhà nước Cộng hòa nhân dân Trung hoa. Cùng trong tháng, ông đã đến thăm Liên bang Nga, Tanzania, Nam phi và Công gô. Trong quá trình dừng thăm Nam Phi, ông có tham dự hội nghị BRICS - Brasil, Rusia, India, China và South of Africa, thành viên 5 nước mới nổi - ở Durban. Vào cuối tháng 5 và đầu tháng 6, ông ấy đến Mehico, Costa Rica và Trinidad and Tobago. Và vào phút chót của chuyến đi, ông ấy đã gặp Obama ở California. Sau đó, cuối tháng, ông ấy đến Kazakhstan, Uzebekistan, Kurdistan và Turkmenistan và tham dự hội nghị Tổ chức hợp tác Thượng Hải. Tổng cộng tất cả các chuyến đi này, Tập Cận Bình đã có 36 ngày ở hải ngoại kể từ tháng 3 năm nay.

Rõ ràng, Tập Cận Bình đã chú ý nhiều đến chính sách ngoại giao, và đã sử dụng một phần đáng kể thời gian của ông ấy cho đối ngoại. Vậy chính sách đối ngoại của Tập là gì, và nó khác với những người tiền nhiệm,  như chủ tịch Hồ Cẩm Đào như thế nào?

Mặc dù các nhà quan sát Trung hoa đã thảo luận các vấn đề này, nhưng có lẽ vẫn là quá sớm để có câu trả lời rõ rang. Trên thực tế, Trung hoa đang ở một ngã rẽ để đưa ra một số quyết định có tính chiến lược quan trọng và  điều chỉnh về chính sách ngoại giao, và có nhiều cuộc tranh cãi nội bộ chủ yếu trên các câu hỏi này. Mặc dù các tranh cãi kiểu này đã xảy ra rồi, chúng vẫn là về vấn đề hiển nhiên. Ngược lại, ngày nay, các  tranh cãi kiểu này không những ảnh hưởng đến các vấn đề cụ thể mà còn là tâm điểm của  nhận định cơ bản, nội dung và bản chất chính là chính sách đối ngoại của Trung hoa. Hiểu được bối cảnh và hậu trường cuộc tranh cãi này là cần thiết để thấu hiểu được những nỗ lực ngoại giao của Tập và bất kỳ một sự điều chỉnh về đối ngoại trong nhiệm kỳ của Tập Cận Bình.

Một điều kỳ lạ, thời gian này, khắp Trung Hoa đã có những tư tưởng khá thay đổi trên các vấn đề đối ngoại quan trọng. Chẳng hạn, một số ít người nhận định rằng Trung hoa sẽ từ bỏ Bắc Triều Tiên trong khi một số khác lại cho rằng Trung hoa sẽ làm gần gũi  hơn mối quan hệ và cung cấp chế độ an ninh tổng hợp,phòng  vệ, thậm chí là cả sự bảo vệ hạt nhân. Một vài dự đoán rằng Trung hoa sẽ giảng hòa và tìm một giải pháp hòa bình cho các tranh chấp trên Biển Đông, trong khi một số khác vẫn tin tưởng mạnh mẽ rằng Trung hoa sẽ giữ một lập trường quyết đoán hơn về lợi ích quốc gia bao gồm cả việc sử dụng quân sự. Các cuộc tranh cãi về các vấn đề riêng biệt  này thể hiện bởi những quan điểm khác nhau trên vài chủ đề chính hoặc các vấn đề cơ bản mà dẫn dắt chính sách đối ngoại của quốc gia. 

Một trong những tranh cãi chính là có hay không việc Trung hoa sẽ tiếp tục đường lối của Đặng Tiểu Bình, cụm từ “taoguangyanghui”, được diễn nghĩa là”ẩn dấu sức mạnh, chờ thời cơ”.  Đại tướng Hùng Quang Khải, Cựu giám đốc cục tình báo của quân giải phóng Trung quốc, cũng thừa nhận  rằng một sự hiểu chính xác hơn về cụm từ sẽ là” không phô trương  sức mạnh mà sẽ giấu mình dưới thế yếu”.

Một số khác tin tưởng rằng,  Trung hoa sẽ tiếp tục chính sách này, và đồng ý rằng  một thế yếu trong đối ngoại sẽ là mục tiêu sâu hơn của Trung hoa để tập trung phát triển kinh tế và giải quyết vấn đề nội địa. Tuy nhiên, một số khác cho rằng, đây là lúc Trung hoa từ bỏ đường lối này khi Trung hoa đã là siêu cường toàn cầu, và bởi vậy quốc gia này sẽ tham gia vai trò toàn cầu nhiều hơn. Trung Hoa sẽ không rụt rè sử dụng sức mạnh để theo đuổi và bảo vệ các lợi ích quốc gia của nó. Một vài học giả tham khảo chính sách ngoại giao tích cực của tổng thống V. Putin như là một minh chứng cho chính sách đối ngoại của Trung hoa đi theo.

Một tranh luận  khác là các chuẩn mực và giá trị mà Trung hoa sẽ hướng  đến trong chính sách đối ngoại. Vài học giả Trung hoa chỉ trích chính sách ngoại giao hiện nay của chính phủ là thiếu thực chất và nguyên tắc, chỉ  là chủ nghĩa thực dụng thuần túy về  các vấn đề đối ngoại. Họ đồng ý rằng sự thiếu vắng các chuẩn mực và giá trị sẽ làm cho chính phủ bế tắc trong việc tìm một chính sách ngoại giao. Sự thiếu vắng một giá trị làm định hướng, họ cũng nhận định rằng, chính phũ Trung Hoa sẽ trở lên do dự và bối rối, như là với các trường hợp mùa xuân Arab, Bắc Triều Tiên và trong suốt khủng hoảng ở Syria gần đây.

Với triết lý cộng sản và những nguyên tắc của chiến tranh lạnh, cụ thể là năm nguyên tắc cùng tồn tại hòa bình - không còn nhiều thực tế cho chính phủ, Bắc Kinh cần có một nguyên tắc khác, và định hướng cho chính sách ngoại giao. Nội dung của các chuẩn mực và nguyên tắc này sẽ là  rào cản chính cho Trung hoa khi  tham gia vào các vấn đề quốc tế.

Những tranh cãi về nội dung của các chuẩn mực này cũng bao hàm các tranh cãi về việc có hay không Trung hoa sẽ đi theo các chuẩn mực và nguyên tắc của phương Tây hơn là xây dựng một thứ của riêng nó, và có hay không một chuẩn mực và nguyên tắc mà tất cả các quốc gia nên chấp hành. Các cuộc tranh cãi này thể hiện  một khủng hoảng rõ rệt về thể chế và nhà nước Trung hoa. Bắc Kinh vẫn cần thời gian để quen với vị thế siêu cường mới trên toàn cầu của nó và  định hình một chính sách ngoại giao. Nó chưa sẵn sàng để đảm nhiệm một vai trò lớn hơn và chưa rõ ràng cách thứcsử dụng sức mạnh mới của mình. Đó cũng  là lý do tại sao bài nói chuyện về giấc mơ Trung hoa của Tập Cận Bình, hiện thời vẫn được xem  là chủ yếu cho người dân trong nước hơn là cho cộng đồng quốc tế. 

Kể từ khi Tập Cận Bình lên làm nguyên thủ, ông ấy đã nói về chính sách ngoại giao trong một số dịp và các trợ lý ngoại giao của ông ấy cũng đã viết một số bài báo giới thiệu về chính sách ngoại giao mới. Một vài nhà theo dõi Hoa Kỳ cũng đã đồng thuận rằng, thế hệ lãnh đạo mới đã theo một hướng tiếp cận chủ nghĩa dân tộc nhiều hơn trong chính sách ngoại giao. Mặc dù, dường như là đúng, chính phủ vẫn đưa ra những tuyên bố mạnh mẽ, chính sách ngoại giao của quốc gia vẫn phải được xem xét trên cơ sở các hành động hơn là các phát biểu của nó. Khẩu hiệu và định hướng chung chung không thể thay thế các hành động thực tế. Vì lẽ đó, Bắc Kinh không có được một chính sách tốt trên nhiều vấn đề. Nó cũng không đưa ra một sự giải thích rõ ràng và cụ thể  về định hướng chính sách ngoại giao của chính quyền mới. Và cũng không có một dấu hiệu rõ ràng cho thấy chính phủ đã có những điều chỉnh cụ thể cho các thách thức đối ngoại chính, ví dụ như là các tranh chấp trên biển Đông, sự tranh chấp quyết liệt với Nhật bản trên biển Nhật Bản, hay là các vấn đề về Triều Tiên.

Các tranh cãi gần đây về quan hệ đối ngoại cũng có mối liên hệ gần gũi với các vấn đề chính trị trong nước. Sự trỗi dậy chủ nghĩa dân tộc của Trung hoa, đã tạo ra một bối cảnh mới cho chính sách ngoại giao của Tập Cận Bình. Bắc Kinh cũng đã phải đương đầu với một tình thế khó xử về chủ nghĩa dân tộc, ấy là, trong khi chủ nghĩa dân tộc là hữu ích để gắn kết nội bộ, thì nó lại cản trở khả năng của Trung hoa để theo đuổi một chính sách ngoại giao thuận lợi.

Một câu hỏi chủ yếu cho Tập Cận Bình là cách nào để duy trì sự cân bằng này giữa nền chính trị trong nước, và các mối quan hệ bên ngoài. Cũng vậy, nhìn lại lịch sử ngoại giao Trung Hoa, sự điều chỉnh các chính sách chủ yếu đều đến  sau khi có  những thay đổi lớn về chính trị. Theo chiều hướng  này, các chính sách ngoại giao của Tập Cận Bình sẽ trở nên rõ ràng hơn sau phiên họp toàn thể lần thứ ba của Đại hội 18, vào tháng 11/2013 này, khi Đảng Cộng Sản Trung hoa sẽ công bố các quyết định quan trọng về chính sách quốc gia và  phát triển kinh tế cho bốn năm sắp tới. 

Asia Clinic, 18h22 ngày Chúa Nhựt, 20/10/2013

Thứ Sáu, 16 tháng 8, 2013

VẬT THẾ CHẤP CHÍNH TRỊ



 Lời tuyên bố đầy bản lĩnh chính trị của cô gái trẻ Phương Uyên trong phiên tòa ngày 16/8/2013 là một bản án đanh thép đi vào lịch sử ngàn năm của dân tộc Việt Nam với chế độ độc quyền của đảng cộng sản ở Việt Nam
Bài đọc liên quan:

Từ ngàn xưa, khi con người bước ra khỏi cuộc sống của thời cộng sản nguyên thủy bầy đàn, để đấu tranh sinh tồn với hiểm họa vây quanh, cũng là lúc con người biết sử dụng vật thế chấp làm tin trong giao dịch.

Để được ngồi ngôi cao, hưởng ân sủng của thiên hạ, lấy uy tín với thần dân, các vua phong kiến sử dụng con mình để gả cho quốc gia lân bang làm vật thế chấp chính trị, để thực hiện phương án ngoại giao, chờ thời cơ xâm chiếm.

Trong làm ăn giao thương, tài sản cố định là vật thế chấp cho đối phương, ngân hàng để vay vốn làm ăn. Chỉ có những đối tác làm ăn lâu bền, uy tín lớn, tín chấp là một kiểu thế chấp cao cấp nhất của con người tới giờ này.

Nhưng khi xã hội ngày càng phát triển vật thế chấp càng có nhiều hình thức tinh vi hơn. Tinh vi và ác độc nhất vẫn là các chính khách lấy đồng bào mình làm vật thế chấp chính trị trong bang giao. Trong khi họa cũng trút lên đầu dân, mà nguy cũng trút lên đầu dân, còn lộc thì chính khách và dòng họ an hưởng.

Ở bất kỳ quốc gia nào trên thế giới ngày nay, phương án dùng dân làm vật thế chấp để đi buôn chính trị của chính khách đều có, thời chiến cũng thế, và thời bình cũng thế.

Hoa Kỳ khi muốn lấy lòng toàn thế giới, vật thế chấp của họ gồm cả sức mạnh cứng và sức mạnh mềm. Đã thế, ở đâu có bất ổn, họ sẵn sàng đem tuổi trẻ của họ làm lính viễn chinh đến, với cái gọi là vì tự do dân chủ. Nhưng nếu nhìn về bản chất, những người trẻ lính viễn chinh này không ngoài là vật thế chấp.

Nhìn lại lịch sử Việt Nam 83 năm qua, vừa ra khỏi ách đô hộ thực dân Pháp thì lao vào nội chiến. Hậu quả, hơn 3 triệu sinh linh đã ngả xuống, đến giờ này còn hơn 300 ngàn không tìm được xác, và còn hơn 200 ngàn đã tìm được xác, nhưng chưa rõ họ tên. Những chiến sỹ vô danh ấy, họ sinh ra, và lớn lên, không ai nhớ mặt đặt tên, nhưng họ là vật thế chấp cho ngai vàng của các chính trị gia của cả 3 bên - thắng cuộc, bỏ cuộc, và thua cuộc trong nội chiến kéo dài 20 năm.

Hòa bình lập lại, chưa được yên ấm bao nhiêu ngày. Một nửa bên thua và bỏ cuộc trở thành vật thế chấp để các chính khách bên thắng cuộc tiếp tục nồi da nấu thịt, để người dân thà bỏ thây cho cá, cướp biển, để đi tìm đất sống. Và chỉ vì chính khách kém tầm trong ngoại giao, và mê muội trong men say thắng cuộc. Một cuộc chiến kéo dài 12 năm ở cả 2 biên giới Tây Nam và phía Bắc - 1978 đến 1990. Hàng triệu thanh niên nữa lại ngả xuống, không phải vì chén cơm manh áo của mình và gia đình mình, mà vì sai lầm của chính khách.

Vốn xuất thân từ giai cấp làm cách mạng triệt để nhất, nhờ không có gì để mất - giai cấp vô sản. Họ đã chọn con đường đã và đang đi theo 83 năm qua là con đường tăm tối. Nó đã sụp đổ ngay tại cái nôi sinh ra nó. Nhưng có một nghịch lý cuộc đời là, chính giai cấp vô sản là giai cấp làm cách mạng triệt để nhất, nhưng khi cướp được chính quyền, thì họ lại không có gì để có thể dựng xây đất nước. Thế cuộc buộc họ lại phải quay lại con đường mà họ đã đạp đổ nó - bất công, độc tài và tàn ác còn hơn cả thực dân.

Vì không có gì để dựng xây đất nước, và con đường đã chọn tăm tối ấy, họ lại quay sang lấy biên cương lãnh thổ, tài nguyên và cả đồng bào mình làm vật thế chấp cho việc bang giao.

Khi vào WTO và muốn ra khỏi các nước nằm trong danh sách các nước đặc biệt bị quan tâm - Country of Particular Concerns, gọi tắt là CPC - một số nhân vật bất đồng chính kiến như Linh Mục Nguyễn Văn Lý, Linh Mục Ngô Quang Kiệt, giáo dân Thái Hà, các luật sư Nguyễn Văn Đài, Lê Thị Công Nhân, Lê Quốc Quân, Lê Trần Luật, v.v... được lấy để làm vật thế chấp trong đàm phán bang giao. Họ được thả và giảm án.

Sau khi ra khỏi danh sách CPC, và vào WTO cùng lúc vào tháng 11/2006,  thì tình trạng đàn áp tôn giáo và bắt bớ những nhà bất đồng chính kiến lại diễn ra dày đặt, ngày càng gia tăng từ 2008 đến nay. Cụ thể là tháng 02/2005 Linh mục Nguyễn Văn Lý được giảm án và ân xá, thì đến 18 tháng Hai năm 2007 ông bị bắt và chính thức ngồi tù lại vào ngày 30 tháng Ba năm 2007. Luật sư Lê Quốc Quân cũng trở lại nhà tù vào tháng 12/2012, sau khi bị bắt vào tháng 3/2007, và còn bao nhiêu người khác nằm trong diện sẵn sàng "chờ đợi" làm vật thế chấp cho con buôn chính trị.

Hôm qua, câu chuyện giảm án của Phương Uyên từ 6 năm tù giam còn 3 năm tù treo cộng với 3 năm quản thúc, cũng là 6 năm từ nhà tù nhỏ sang nhà tù to. Với Nguyên Kha giảm án từ 8 năm tù còn 4 năm tù cũng không ngoại lệ là vật thế chấp chính trị trong bang giao. Vì nếu chế độ này đối xử tốt với dân thì cái án của gia đình ông Đoàn Văn Vươn đã không y án sau phiên phúc thẩm! Xem ra chế độ Phong kiến xưa kia tuy vậy mà vua lo cho dân, cho nước hơn nhiều.

Liệu những điều trên các quốc gia bang giao với Việt Nam họ có biết? Chắc chắn và đương nhiên là quá biết, và càng không tin cậy Việt Nam, khi đồng bào Việt Nam bị đối xử tệ thì làm sao họ là ngoại bang được đối xử tốt hơn?

Từ đó cho thấy, chế độ đảng cầm quyền này chưa và sẽ không bao giờ xem dân là gốc, mà luôn là vật thế chấp trong mọi cuộc bán buôn nhơ nhớp của chính trị. Chỉ có ngoại bang có ảnh hưởng đến sinh mệnh sống còn của đảng cầm quyền, mới có thể sai khiến được đảng cộng sản làm theo như kiểu con tắc kè đổi màu, để đấu tranh sinh tồn, rồi màu khát máu vẫn là màu của máu.

Một chế độ mà ở đó, xem người dân là vật thế chấp cho con buôn chính trị thì, bản chất của chế độ đó như Marx nói - chỉ có súc vật mới quay lưng với nỗi đau của đồng loại, để chăm chút cho bộ lông của mình. Nhưng xem ra súc vật còn có lòng tin với gia chủ của nó được nuôi nấng, vỗ về. Còn với chế độ Việt nam hiện tại niềm tin dân chúng đã không còn 38 năm qua và mãi mãi.

Sức mạnh của một thể chế nhà nước là ở toàn dân, khi niềm tin dân chúng đã cạn kiệt thì, liệu chế độ đó tồn tại được bao lâu? Sức mạnh mềm của một quốc gia là vô hình và vô hạn. Liệu với cách cư xử với đồng bào đã từng vào sinh ra tử cho chế độ như thế thì, sức mạnh mềm của Việt Nam có còn?

Asia Clinic, 9h31' ngày thứ Bảy, 17/8/2013

Thứ Ba, 6 tháng 8, 2013

BI KỊCH CỦA CHÍNH SÁCH NGOẠI GIAO HOA KỲ

Đây là một bài viết vô cùng thâm thúy và đáng để các quốc gia nhỏ bé quan tâm đến nhiều vấn đề trong vận hành đất nước. Không đọc, không dịch thì không được!

Bài viết của Robert D. Kaplan trên trang Teh National Interest ngày 01/8/2013. Ông là nhà phân tích địa chính trị cho Stratfor, một công ty tình báo tư nhân toàn cầu. Cuốn sách mới nhất của ông là Sự trả thù của Địa lý(The Revenge of Geography).


Trong hơn hai năm qua, cuộc nội chiến ở Syria đã được sánh đồng nghĩa với những tiếng khóc của sự cấp bách về đạo đức. Hãy làm một cái gì đó! Câu nói này như là tiếng thét của những người yêu cầu Hoa Kỳ can thiệp quân sự để thiết lập tình hình vì những việc thiện, nhưng đến bây giờ tình hình ngày càng tồi tệ hơn với chiến tuyến bao gồm hàng trăm chế độ và những nhóm nổi loạn và quân nổi dậy đã bắt đầu xách súng bắn vào nhau. Rồi thì, các nhà can thiệp đạo đức cũng chỉ biết thét lên, vâng,  nếu như chúng ta can thiệp sớm hơn!

Trước Syria, năm 2011 cũng chủ nghĩa nhân đạo đòi hỏi sự can thiệp quân sự vào Libya, mặc dù chế độ Muammar Qaddafi đã từ bỏ chương trình hạt nhân của mình và đã hợp tác trong nhiều năm với các cơ quan tình báo phương Tây. Nhưng thực tế, Hoa Kỳ và Pháp đã cầm đầu một sự can thiệp, và Libya hôm nay hầu như không còn là một nhà nước, với Tripoli nghèo hơn, trong khi đó thì điểm yếu của trọng tài đế quốc cho lực lượng dân quân xa xôi, các bộ lạc, và gia tộc, mà các đơn vị lân cận sa mạc Sahara đang trong tình trạng hỗn loạn hơn vì vũ khí tràn ngập ra khỏi Libya.

Những năm 1990 đầy những cuộc kêu gọi can thiệp nhân đạo: ở Rwanda, mà bi kịch đã diễn ra chẳng ai chịu nghe, trong khi đó thì ở Bosnia và Kosovo nơi được can thiệp, dù muộn, nhưng đã đạt được thành công lớn. Tự do từ những nhu cầu chính sách thực dụng của chiến tranh lạnh, chủ nghĩa nhân đạo đã trải qua hai thập kỷ cố gắng để giảm bớt chính sách đối ngoại đối với một khía cạnh của công tác phòng chống tội diệt chủng. Thật vậy, Nazi Holocaust của Đức Quốc xã chỉ có tồn tại ngắn ngủi đã bị loại bỏ trong đời sống của chúng ta – nó chỉ chiếm khoảng một phần nghìn giây trong lịch sử loài người và do đó bây giờ chính sách đối ngoại sau chiến tranh lạnh một cách đúng đắn chỉ tồn tại như cái bóng của nó. Để rồi cuối cùng nó được hệ thống hóa chỉ trong 2 chữ R và P: "Trách nhiệm đến Bảo vệ"(“Responsibility to Protect”), một câu thần chú không hơn không kém của chủ nghĩa nhân đạo.

Nhưng chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ có thể không chỉ được xác định bởi “Trách nhiệm đến Bảo vệ” mà còn là "Không bao giờ lập lại!"("Never Again!"). Chính khách có thể hiếm khi quan tâm với các can thiệp nhân đạo và bảo vệ nhân quyền để loại trừ những mối quan tâm khác. Hoa Kỳ, như bất kỳ quốc gia nào khác - nhưng đặc biệt là bởi vì Hoa Kỳ là một quyền lực vĩ đại - chỉ đơn giản là có những lợi ích mà không phải lúc nào cũng gắn liền với giá trị lợi ích của Hoa Kỳ. Đó là bi kịch, nhưng lại là một bi kịch mà đã được khẳng định và phải chấp nhận.

Cái gì là những lợi ích quan trọng hơn đối với Hoa Kỳ? Đơn giản, Hoa Kỳ là thế lực thống trị ở Tây bán cầu, nó luôn luôn phải ngăn chặn bất cứ một quyền lực nào khác trở nên nổi trội ngang bằng ở bán cầu Đông. Hơn nữa, vì một sức mạnh hàng hải cấp tiến, Hoa Kỳ phải tìm cách bảo vệ các đường giao thông huyết mạch trên biển vì một sự dễ dàng cho thương mại thế giới. Nó cũng phải tìm cách bảo vệ cả hai hiệp ước và các đồng minh trên thực tế của mình, và đặc biệt là tiếp cận với các nguồn năng lượng hydrocarbon. Đó là tất cả những lợi ích mà, Hoa Kỳ không nhất thiết phải vì quyền con người mà gây ra mâu thuẫn, cho dù là ở bất cứ quốc gia nào không hoạt động trong cùng thể chế với nó.

Bởi vì Hoa Kỳ là một cường quốc tự do, những lợi ích của nó - ngay cả khi những lợi ích đó không trực tiếp liên quan đến nhân quyền - nói chung là đạo đức. Nhưng chúng chỉ là loại đạo đức thứ yếu. Để tìm cách điều chỉnh cán cân quyền lực trong lợi của một quốc gia đã được định hình trong suốt lịch sử một sự nghiệp không đạo đức để theo đuổi bằng cả hai quyền lực tự do và phi tự do. Tuy nhiên, khi một quyền lực tự do như Hoa Kỳ mà theo đuổi một mục tiêu vì trách nhiệm ngăn chặn chiến tranh giữa các cường quốc, thì đó lại là hành động đạo đức mang ý nghĩa cao cả nhất.

Một ví dụ nói về sự căng thẳng này - một trong số đó được cho là trung tâm của lý do tại sao Không bao giờ lập lại! và Trách nhiệm đến Bảo vệ không thể luôn luôn là những ngôn từ dùng trong nghệ thuật chính trị(statesmanship) - mà gần đây đã được lưu ý bỡi chuyên gia về những vấn đề đối ngoại Leslie H. Gelb. Gelb lưu ý rằng sau khi Saddam Hussein đã cho phép Alli hóa học dùng hơi ngạt để làm chết 7.000 người Kurd ở miền bắc Iraq vào năm 1988, đây là một sự kiện mà thậm chí được xem là một "đạo lý thực sự" đến nỗi ông Ngoại trưởng Hoa Kỳ George Shultz(*) đã phải cam kết một "sự phẫn nộ về đạo đức". Nhưng lúc đó, đối với ông Shultz về cơ bản bỏ qua vụ việc này và buộc phải tiếp tục hỗ trợ Saddam Hussein trong cuộc chiến của mình để chống lại Iran, bởi vì mục tiêu làm suy yếu Iran không bảo vệ các công dân của Iraq là quan tâm chính của Hoa Kỳ vào lúc đó.

Do đó, có phải Shultz đã hành động vô đạo đức? Tôi tin là không hoàn toàn như vậy. Shultz đã phải hành động theo một đạo lý khác hơn với một người bình thường áp dụng chủ nghĩa nhân đạo. Ông ta đã hành động cho một đạo lý vì cộng đồng, mà không mang tính riêng tư. Ông và phần còn lại của chính quyền Reagan đã có một trách nhiệm đối với hàng trăm triệu người Hoa Kỳ mà họ phải nhận lấy trách nhiệm phải bảo vệ. Và trong khi những triệu người này là những người đồng hương, họ là các cử tri và là công dân, về cơ bản những người quan trọng hơn những người Kurd xa lạ không biết đến Shultz hoặc Reagan là ai, nhưng lại là những người đã trao cho Shultz và Reagan bằng chính lợi ích của họ. Và lợi ích của cộng đồng Hoa Kỳ đã quyết định rõ ràng rằng trong hai quốc gia, Iran và Iraq, thì Iran vào thời điểm đó là một mối đe dọa lớn hơn. Trong việc bảo vệ lợi ích cộng đồng của cả một quyền lực tự do, một chính khách có thể không phải lúc nào cũng phải hành xử tốt đẹp, hoặc nhân đạo.

Vấn đề tôi đang nói ra đây là của một nền luân lý của kết quả công khai, chứ không phải là một trong những mục đích riêng tư. Bằng cách hỗ trợ Iraq, chính quyền Reagan đã thành công trong việc ngăn chặn Iran trở thành một bá quyền khu vực trong những năm cuối của Chiến tranh Lạnh. Đó là một kết quả thuận lợi cho lợi ích của Hoa Kỳ, ngay cả khi đạo lý của vụ việc là nhập nhằng, dù theo đánh giá cho rằng chế độ của Iraq lúc đó là tàn bạo hơn của Iran.

Trong việc đi tìm một kết quả tốt, nhà hoạch định chính sách thường được hướng dẫn bởi những thúc ép: ví dụ, một nhận thức thực tế về những gí mà Hoa Kỳ nên và không nên làm, với nguồn tài nguyên hữu hạn của nó. Cuối cùng là sự cân nhắc, Hoa Kỳ đã có hàng trăm hàng ngàn binh lính bị mắc kẹt tại châu Âu và Đông Bắc Á trong Chiến tranh Lạnh, và do đó phải kiềm chế Iran thông qua việc sử dụng một sự ủy quyền, Saddam Hussein của Iraq là một sự lựa chọn tối ưu. Đó không phải là một sự lựa chọn bất đạo lý hoàn toàn: mà đó là việc sử dụng thông minh của những tài sản hạn chế trong bối cảnh của một cuộc chiến tranh địa chính trị trên toàn thế giới.

Vấn đề đối với một chính sách đối ngoại quan trọng nhất thúc đẩy bởi nguyên tắc “Không bao giờ lập lại!” có nghĩa là nó phải biết bỏ qua các giới hạn và các nguồn tài nguyên sẵn có. Thế chiến II đã cho thấy hiệu quả đạo lý, thứ yếu của việc cứu lấy những gì còn lại của người Do Thái ở châu Âu. Hiệu quả và mục tiêu chính của nó là nhằm khôi phục lại sự cân bằng quyền lực của châu Âu và châu Á một cách chấp nhận được đối với Hoa Kỳ - một cái gì đó mà Đức quốc xã và phát xít Nhật đã làm đảo lộn. Tất nhiên, Liên Xô giành quyền kiểm soát Đông Âu trong gần nửa thế kỷ sau chiến tranh. Nhưng một lần nữa, do nguồn lực hạn chế đòi hỏi phải có một liên minh của Hoa Kỳ với kẻ độc tài giết người hàng loạt Stalin để chống lại một kẻ giết người hàng loạt khác là Hitler. Đó là vì một sự lựa chọn khủng khiếp như vậy và một sự phục vụ cho sự thỏa hiệp - trong đó cả hai quốc gia Hoa Kỳ và Liên Xô buộc phải bện chặt vào nhau với sự phi luân của đạo lý, cái mà chủ nghĩa nhân đạo sẽ thường phải thất vọng với chính sách đối ngoại ngay cả với một chính quyền có nghĩa khí nhất.

Thế chiến II chắc chắn liên quan đến nhiều thỏa hiệp gớm ghiếc và thậm chí sai lầm do một phần của Tổng thống Franklin D. Roosevelt. Ông đã vào cuộc chiến tranh ở châu Âu quá muộn, ông không cho ném bom những đường sắt dẫn đến các trại tập trung, ông có thể đã bị lôi vào sự hiếu chiến hơn với Liên Xô về vấn đề Đông Âu. Nhưng như một người đại diện cho lợi ích của hàng triệu người lạ, mà họ đã có và không bỏ phiếu cho ông, mục đích của ông là để đánh bại Đức Quốc Xã và Đế quốc Nhật Bản trong một cách mà mạng sống những người lính Hoa Kỳ ít bị phí phạm nhất, và làm sao sử dụng số lượng ít nhất từ các nguồn tài nguyên quốc gia. Cứu những tàn tích của người Do Thái châu Âu là hậu quả luân lý về hành động của ông, nhưng những phương pháp của ông có những nhượng bộ chiến thuật chứa những yếu tố phi đạo đức cơ bản. Với Abraham Lincoln, về phần mình, ông đã đưa hàng loạt đau khổ đến người dân miền Nam trong giai đoạn cuối cùng của cuộc nội chiến để quyết đánh bại miền Nam. Tổng số cuộc chiến tranh tiến hành bởi các tướng William Tecumseh Sherman và Ulysses S. Grant là bằng chứng về điều đó. Đơn giản chỉ cần đặt mình vào vị trí đó thì sẽ thấy, có những hành động của nhà nước mà buộc phải làm, ngay cả khi những hành động ấy không thể được định nghĩa theo đạo lý thông thường.

Những mục tiêu phi đạo lý, được áp dụng đúng cách, nó lại có tác dụng đạo đức. Thật vậy, trong thời gian gần đây, Tổng thống Richard Nixon và ngoại trưởng, Henry Kissinger, vội vã mang vũ khí đến Israel sau một cuộc tấn công bất ngờ của quân đội Ả Rập vào mùa thu năm 1973. Về cơ bản là hai người đàn ông nói với Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ cho rằng hỗ trợ Israel trong thời điểm họ cần là điều phải làm, bởi vì nó là cần thiết để gửi một thông điệp rõ ràng về quyết tâm của Liên Xô và các đồng minh Ả Rập của họ ở giai đoạn quan trọng trong cuộc Chiến tranh Lạnh. Họ đã chứng minh việc xuất vũ khí hoàn toàn trong việc giúp người Do Thái sau nạn diệt chủng của Đức Quốc Xã - chứ không phải là về chính trị quyền lực như họ đã làm – việc này có thể đã làm ra cuộc tranh luận mà Nixon và Kissinger yếu hơn nhiều ở Washington, nơi các quan chức, một cách đúng đắn, họ mang lợi ích của dân Hoa Kỳ ở trái tim hơn là vì những người Israel. George McGovern(**) có thể là một người đàn ông đạo đức hơn cả Nixon và Kissinger. Nhưng nếu ông đã được bầu làm tổng thống năm 1972, liệu ông sẽ có hành động một cách khôn ngoan và vì dứt khoát như vậy trong năm 1973 ở chiến trường Trung Đông không? Thực tế là, sự hoàn thiện cá nhân, như Machiavelli(***) cho biết, không nhất thiết phải đồng nghĩa với đức hạnh cộng đồng.

Kế đến là trường hợp của Đặng Tiểu Bình. Đặng Tiểu Bình đã thông qua đàn áp dã man sinh viên tại Thiên An Môn ở Bắc Kinh trong năm 1989. Mọi người cho rằng ông không được tôn trọng đối với chủ nghĩa nhân đạo ở phương Tây. Nhưng việc củng cố kiểm soát của Đảng Cộng sản theo chính sách khẩn cấp cho phép phương pháp, cải cách kinh tế theo định hướng thị trường của Đặng Tiểu Bình tiếp tục cho một thế hệ ở Trung Hoa. Có lẽ chưa bao giờ trong lịch sử kinh tế đã ghi lại một sự gia tăng đáng kể trong đời sống, với một sự gia tăng trong tự do cá nhân (nếu không đặt vấn đề chính trị ở đây) trong một khoảng thời gian ngắn nhờ vào sự thay đổi tư duy của Đặng Tiểu Bình. Cho nên, Đặng Tiểu Bình có thể được coi là một người cộng sản tàn bạo và cả là một người đàn ông vĩ đại nhất của thế kỷ XX. Đạo đức của đời sống ông ta quả là phức tạp.

Can thiệp ở Bosnia và Kosovo vào năm 1995 và năm 1999 thường được xem như bằng chứng cho thấy hiệu quả nhất của Hoa Kỳ khi nó hoạt động theo các giá trị nhân đạo của nó - không bao giờ để tâm vào những lợi ích phi đạo lý của nó. Nhưng những người lập luận không quan tâm đến hai can thiệp thành công đã dễ dàng nhìn vào thực tế là Hoa Kỳ hoạt động trong khu vực Balkan với sự cân bằng quyền lực một cách mạnh mẽ trong thiện ý của nó. Nga trong những năm 1990 suy yếu và hỗn loạn dưới sự cai trị không đủ năng lực của Boris Yeltsin, và do đó tạm thời ít có khả năng để thách thức Hoa Kỳ trong một khu vực mà trong lịch sử các Nga Hoàng(Czars: ám chỉ các ông vua cộng sản) và ủy viên(commissars) đã thống trị đáng kể. Tuy nhiên, Nga, ngay cả trong những năm 1990, vẫn còn tạo được sự thống trị đáng kể ở vùng Caucasus, và do đó một phản ứng của phương Tây để ngăn chặn sự thanh lọc sắc tộc trong cùng thập kỷ này thậm chí cũng không được xem xét. Nói rộng hơn, những năm 1990 cho phép can thiệp mặt đất trong khu vực Balkan vì hoàn cảnh quốc tế là tương đối hiền hòa: Trung Hoa đã chỉ mới bắt đầu mở rộng hải quân của mình (nhưng đã gây nguy hiểm cho các đồng minh của chúng ta ở Thái Bình Dương) và sự kiện 11 tháng 9 vẫn còn có thể xảy ra trong tương lai. Quả thật, đàng sau nhiều đáp ứng đạo lý còn một câu hỏi về quyền lực mà không thể giải thích được một cách toàn diện về mặt đạo đức.

Vì vậy, để nâng cao đạo đức như là một trọng tài duy nhất thì không nên nghiêm trọng về chính sách đối ngoại. Nguyên tắc Trách nhiện đến Bảo vệ phải đóng một vai trò lớn như thực tế có thể trong những giải pháp của nhà nước. Nhưng nó không thể được xem là biện pháp cơ bản. Syria là một ví dụ tốt nhất hiện nay về điều này. Sức mạnh của Hoa Kỳ có khả năng làm được nhiều điều, nhưng lúc này mà xây một căn nhà trong một xã hội Hồi giáo phức tạp và chiến tranh tàn phá thì căn nhà ấy không dành cho bất kỳ người Syria nào. Về mặt này, kinh nghiệm bi thảm của chúng ta tại Iraq thực sự là thích đáng. Ấn định nhanh chóng một vùng cấm bay và vũ trang cho quân nổi dậy có thể lật đổ nhà độc tài Bashar al-Assad ở Syria, nhưng điều đó chỉ có thể làm cho Tổng thống Barack Obama đáng khiển trách trong nhiệm vụ của một bà đở sinh ra quyền lực cho một chế độ Sunni-Jihad, thậm chí còn tạo ra một cuộc thanh lọc sắc tộc của người Alawites do al-Assad bắt đầu tạo ra. Ít nhất là ở thời điểm cuối năm này, không nên có số lượng đáng kể của người phương Tây hoạt động trên mặt đất trong một thời gian đáng kể - một cái gọi là có sự hỗ trợ nhỏ của cộng đồng - khả năng để có một chế độ tốt hơn, ổn định hơn có mặt tại Damascus là rất có vấn đề. Thành thật mà nói, không dễ dàng để có giải pháp ở đây, đặc biệt là chế độ thân phương Tây ở Jordan đang bị đe dọa bởi bạo lực tiếp tục Syria. Nguyên lý Trách nhiệm và Bảo vệ đã được áp dụng trong năm 2011 ở Syria có thể thực sự đã mang lại một kết quả chiến lược tốt hơn: nó sẽ vẫn còn tồn tại mà không một ai biết được.

Bởi vì đạo đức trong các vấn đề này luôn bị thúc đẩy bởi niềm đam mê chân chính, bất cứ khi nào bạn không đồng ý với chúng, bạn cứ theo định nghĩa vô đạo đức và bạn sẽ bị mất phương hướng; ngược lại những người có óc thực tế, thì xử lý một cách chính xác bởi vì chúng được sử dụng để tạo ra xung đột, nên họ ít có khả năng phản ứng thái quá với nó. Những người có óc thực tế biết rằng chính sách của niềm đam mê và khôn ngoan hiếm khi đi cùng trên một dòng chảy. (Nhà ngoại giao Richard Holbrooke là một ngoại lệ bất ngờ cho quy tắc này.) Những người có óc thực tế tuân thủ các niềm tin của nhà khoa học chính trị của trường đại học Chicago giữa thế kỷ XX, Hans Morgenthau, người đã viết rằng "người ta phải làm việc với" các quyền lực cơ bản của con người tự nhiên, “chứ không chống lại chúng". Do đó, những người có óc thực tế biết chấp nhận những cái hữu hình của con người có trong tay ở bất kỳ hoàn cảnh nào, và hiểu được cái mình có không bao giờ hoàn hảo. Có nghĩa là, bạn không thể chỉ chăm chăm vào chuyện lật đổ chế độ chỉ vì bạn không thích chúng. Chủ nghĩa hiện thực, Morgenthau còn cho biết thêm, "cảm thông với những sự kiện lịch sử chứ không phải cứ ôm khư khư những nguyên tắc phi thực tế [của công lý] và nhằm vào mục đích thực hiện cái ít ác hơn là  làm những cái tuyệt đối tốt."

Không có nhóm người nào làm được những hành động bi kịch tốt hơn so với những vị Tổng thống thuộc đảng Cộng hòa trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh. Dwight Eisenhower, Richard Nixon, Ronald Reagan và George HW Bush tất cả họ là những nhà hành động, có những quyết định phi luân, đi theo chủ nghĩa hiện thực, thận trọng và khiêm tốn trong các vấn đề ngoại giao (nếu không phải tất cả các thời điểm). Đó là sự nhạy cảm của họ mà nên là bài học cho chúng ta hiện thời. Eisenhower đại diện cho một sự thỏa hiệp thực dụng trong đảng Cộng hòa giữa những người theo chủ nghĩa biệt lập(isolationists) và những người điên cuồng chống Cộng. Tất cả những người này có xu hướng ủng hộ những chế độ đàn áp, phi dân chủ ở các quốc gia thuộc thế giới thứ ba trong việc tạo ra sự cân bằng thuận lợi cho sức mạnh chống lại Liên Xô. Nixon chấp nhận chế độ toàn trị tàn bạo ở Liên Xô và Trung Hoa “Đỏ” là hợp pháp, ngay cả khi ông tạo ra một cân bằng lấy Trung Hoa chống lại Liên Xô. Reagan nói theo ngôn ngữ của Wilson tái vũ trang đạo đức, ngay cả khi ông ta trao cho các đòn bẩy quyền lực hành chính để hiện thực như Caspar Weinberger(****), George Shultz và Frank Carlucci(*****), những người đã vạch ra những ảnh hưởng về chính sách làm dịu những lời lẽ của Reagan. Bush cha đã không phá vỡ mối quan hệ với Trung Hoa sau khi cuộc nổi dậy Thiên An Môn, cũng không phải ông ta ngay lập tức cam kết hỗ trợ cho Lithuania, sau khi đất nước bé nhỏ dũng cảm này tuyên bố độc lập, vì sợ làm mếch lòng quân đội Liên Xô. Đó là thận trọng và kiềm chế đối với đảng của Tổng thống Bush đã giúp mang lại chiến tranh lạnh kết thúc trong một không khí bình yên - và, đó là đạo đức. Trong một số những chính sách này, sự khác biệt giữa sự phi luân và đạo đức là cái mà, ta có thể lấy cách diễn giải của Joseph Conrad(******) trong tác phẩm Lord Jim, không hơn "độ dày của một tờ giấy."

Và đó chính là vấn đề: chính sách đối ngoại tốt nhất của mình là tinh tế, sáng tạo, mâu thuẫn, và sự dũng cảm chỉ đúng vào thời điểm, nhận thức hành xử có tính kỷ luật nhất là những giới hạn của quyền lực Hoa Kỳ. Đó là điều đau lòng, chỉ đơn giản bởi vì các cuộc đàm phán hòng giảm bớt những khổ đau cho nhân loại lại có quá nhiều trường hợp không có giải pháp. Cốt lõi của bi kịch trong đạo đức ngoại giao không phải là chiến thắng cái ác để đạt đến cái tốt, mà nhiều khi muốn đạt được cái tốt hơn cần phải chiến thắng một cái tốt để gây ra đau khổ.

@The National Interest, 01 August 2013

Ghi chú:
(*)George Pratt Shultz (sinh ngày 13 tháng 12 năm 1920) là một nhà kinh tế Hoa Kỳ, chính khách và doanh nhân. Shultz là một trong hai cá nhân phục vụ 4 đời tổng thống Hoa Kỳ trong vị trí trong nội các chính phủ Hoa Kỳ. Người kia là Elliot Richardson. Trước khi bước vào chính trị, ông là giáo sư kinh tế học tại MIT và Đại học Chicago, ông từng là hiệu trưởng Graduate School of Business 1962-1969, Đại học Chicago. Ông là Bộ Trưởng Lao Động 1969-1970, là Giám đốc Văn phòng Quản lý và Ngân sách 1970-1972, là Bộ trưởng ngân khố 1972-1974, và là ngoại trưởng Hoa Kỳ từ năm 1982 đến năm 1989. Ông hiện là một thành viên danh dự tại viện Hoover tại Đại học Stanford.

(**)George Stanley McGovern (19 tháng 7 năm 1922 - 21 tháng 10 2012) ông là một nhà sử học người Hoa Kỳ, một nhà viết sách, một Thượng nghị sĩ Hoa Kỳ, và ứng cử viên tổng thống Đảng Dân chủ trong cuộc bầu cử tổng thống năm 1972 khi tranh cử với cố tổng thống Richard Nixon.

(***)Niccolò di Bernardo dei Machiavelli (03 Tháng 5 năm 1469 - ngày 21 tháng 6 năm 1527): ông là một nhà sử học người Ý, chính trị gia, nhà ngoại giao, nhà triết học, nhân văn và nhà văn có trụ sở tại Florence thời Phục hưng. Ông đã có nhiều năm làm quan chức tại Cộng hòa Florence, với trách nhiệm trong các vấn đề ngoại giao và quân sự. Ông là người sáng lập của khoa học chính trị hiện đại, và đặc biệt hơn đạo đức chính trị. Tác phẩm The Prince(Hoàng Tử) của ông có từ "Thủ đoạn xảo quyệt"(Machiavellianism), là một thuật ngữ được sử dụng rộng rãi để mô tả các chính trị gia vô đạo đức. Bản thân cuốn sách đã rất nổi tiếng.

(****)Caspar Weinberger (18 tháng 8 năm 1917 - ngày 28 tháng 3 năm 2006), ông là một chính trị gia và doanh nhân người Hoa Kỳ. Là một đảng viên Cộng hòa nổi bật. Ông phục vụ nhiều vị trí quan trọng của nhà nước liên bang một cách thành công trong ba thập kỷ, bao gồm như, Chủ tịch Đảng Cộng Hòa California, 1962-1968. Đáng chú ý nhất mà ông được bổ nhiệm làm Bộ trưởng Quốc phòng và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ dưới thời Tổng thống Ronald Reagan 1981-1987, để góp phần đặt nền tảng Liên Xô và Đông Âu sụp đổ năm 1990. 

(*****)Frank Carlucci Charles III (sinh ngày 18 tháng 10 năm 1930) là Bộ trưởng quốc phòng Hoa Kỳ từ 1987-1989 trong chính quyền của Tổng thống Ronald Reagan. Trước đó, Carlucci phục vụ trong một loạt các vị trí quan chức cao cấp của chính phủ, bao gồm cả giám đốc của Văn phòng Cơ hội kinh tế(Office of Economic Opportunity) trong chính quyền Richard Nixon, Phó Giám đốc CIA trong chính quyền Jimmy Carter, và Thứ trưởng Quốc phòng và Cố vấn An ninh Quốc gia trong chính quyền Reagan.

(******)Joseph Conrad (sinh ngày 03 tháng 12 năm 1857 - 03 tháng tám năm 1924) là một tác giả Ba Lan đã viết bằng tiếng Anh sau khi định cư tại Anh. Ông đã được cấp quốc tịch Anh trong năm 1886, nhưng luôn luôn coi mình là một cực. Conrad được coi là một trong những tiểu thuyết gia vĩ đại nhất trong tiếng Anh, mặc dù ông không nói được ngôn ngữ Anh trôi chảy cho đến khi ông đã ở tuổi hai mươi. Ông đã viết những câu chuyện và tiểu thuyết, thường với một thiết lập hải lý, miêu tả thử nghiệm của tinh thần con người ở giữa một vũ trụ vô tư. Ông là một bậc thầy văn xuôi. Lord Jim là một tác phẩm của ông viết năm 1900.

Asia Clinic, 9h53' ngày thứ Tư, 07/8/2013