nha ban quan tan binh | mua nha quan tan binh
Hiển thị các bài đăng có nhãn Danh nhân. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Danh nhân. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 3 tháng 4, 2014

TỔ QUỐC GỌI TÊN ANH - TRÍ THỨC ĐINH ĐĂNG ĐỊNH

Bài đọc liên quan: 
+ Bi kịch của kẻ sỹ giữa đám bần nông
+ Bi kịch của chủ nghĩa xã hội

Tôi biết Anh qua một bài báo của trang Công An TPHCM, khi anh bị tuyên xử 6 năm tù giam vì tội phạm vào luật hình 88, đăng ngày 21/11/2012. Chưa đầy 2 năm ngồi tù, thì hôm nay Anh đã ra đi, để lại nhiều tiếc nuối cho cộng đồng dân Việt.

Chỉ vì đi vận động 3000 chữ ký của người dân để phản đối một dự án được coi là "chủ trương lớn của đảng" - dự án khai thác bôxit Tây Nguyên - mà một thầy giáo, trí thức bị khép tội "tuyên truyền chống nhà nước" bị giam cầm. Sau hơn 4 năm "chủ trương lớn của đảng" đã gây lỗ hàng nghìn tỷ cho tiền đóng thuế của dân và bao nhiêu gia đình bị màn trời chiếu đất sau khi tái định cư. Giờ thì dự án này đã nói lên Anh đúng và đảng cầm quyền đã sai.

Tôi vẫn dõi theo Anh một cách thầm lặng, và kính phục. Tôi xin làm một bài phóng sự góp nhặt ảnh về Anh xem như là, lòng thành kính dâng Anh một nén hương của một kẻ có học - chứ chưa phải là trí thức như Anh - dành cho Người Trí Thức đúng nghĩa trong thời buổi đảo điên này.

Thầy Đinh Đăng Định ngày 21/11/2012 bị xử 6 năm tù vẫn hiên ngang không khuất phục.

Thầy Đinh Đăng Định trong tháng 2/2014 đang điều trị tại bệnh viện.

Chiếc băng ca cấp cứu chở Anh Đinh Đăng Định về nhà ngày 24/3/2014, sau khi bệnh viện không còn khả năng chữa trị.

Siết chặt bàn tay mà mắt buồn xa xăm vì đất nước, tháng 2/2014

Những ngày cuối cùng đầu tháng 4/2014

Và Anh, một trí thức thật sự đã ra đi vào những ngày đầu tháng 4 lịch sử, nhưng trong lòng vẫn còn nỗi đau muốn ngắm nhìn đất nước tự do, độc lập và nhân dân có hạnh phúc thực sự vẫn chưa thấy lúc lìa trần.

Đôi mắt Anh vẫn mở trừng trừng như nuối tiếc vì một tình yêu đất nước chưa tròn lúc lìa đời 21h30' ngày 03/4/2014 vừa qua. Tấm ảnh này trông không đẹp, nên tôi xin rút xuống. Mong thông cảm.

Cha đạo đang làm thánh lễ cho Anh. Mong hồn anh yên nghĩ ở chốn vĩnh hằng. Tôi một kẻ có học hèn mọn vẫn một lòng tôn kính Anh, dù chưa bao giờ gặp mặt.



Vì lý do an ninh, nên thánh thể của Anh Định được quàng tại Nhà Thờ Kỳ Đồng, số 38 đường Kỳ Đồng, Quận 3, Sài Gòn. Đúng 20h15' tối nay, 05/4/2014, tôi đã đến thắp hương cho Anh. Có anh em bạn bè đến với Anh rất đông, dù họ chưa bao giờ gặp mặt Anh, kể cả vòng Hoa của Lãnh sự quán Hoa Kỳ tại Sài Gòn. Tôi xin update nó lên đây:


Khi ra đi, Anh vẫn bao dung và thể hiện một nhân cách lớn hơn cả những lãnh tụ cộng sản từ trước đến nay qua lời dặn của Anh.

Asia Clinic, 13h30' ngày thứ Sáu 04/4/2014

Chủ Nhật, 26 tháng 1, 2014

CỐ BS DƯƠNG QUỲNH HOA: CUỘC ĐỜI VÀ CÁI CHẾT RẤT BUỒN CỦA MỘT CON NGƯỜI CHÍNH TRỰC

Bài này của tác giả Mai Thanh Truyết viết sau khi cố BS Dương Quỳnh Hoa mất. Mới mà đã 8 năm rồi. Một số các bạn muốn biết về nữ chí sĩ được xem là người đầu tiên thẳng thắn ra khỏi đảng cộng sản ở Việt Nam vào năm 1979. Bài viết tương đối đầy đủ. Ai chưa đọc thì nên đọc, vì gần đây rộ lên phong trào ra khỏi đảng của những nhân vật một thời sùng kính đảng cộng sản như một tôn giáo. Hôm nay, tôi xin lưu lại ở đây như một nén hương tưởng nhớ 8 năm ngày mất của Bà, một đồng nghiệp đàn Chị, mà tôi đã từng gặp, và tâm sự năm 1986 và vài lần sau đó năm 2001. Vẫn còn nhiều vấn đề về Bà mà một số bài báo phỏng vấn sau này đều bịa đặt để bôi nhọ Bà.

Mai Thanh Truyết 

Bà Bác sĩ Dương Quỳnh Hoa (DQH) vừa nằm xuống ngày thứ bảy 25–2–2006 tại Sài Gòn, và cũng vừa được hỏa táng vào ngày thứ ba 28/2. Báo chí trong nước cho đến hôm nay, không hề loan tải tin tức trên. Đài BBC có phỏng vấn Ông Võ Nhơn Trí ở Pháp về tin nầy và phát đi ngày 28/2.

Sự im lặng của Việt Nam khiến cho người viết thấy có nhu cầu trang trãi và chia xẻ một số suy nghĩ về cái chết của BS DQH để từ đó rút ra thêm một kinh nghiệm sống về tính chất “chuyên chính vô sản” của những người cầm quyền tại Việt Nam hiện tại.

Ô. Bà DQH và Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam

BS DQH là một người sống trong một gia đình theo Tây học, có uy tín và thế lực trong giới giàu có ở Sài Gòn từ thập niên 40. Cha là GS Dương Minh Thới và anh là LS Dương Trung Tín; gia đình sống trong một biệt thự tại đường Bà Huyện Thanh Quan xéo góc Bộ Y tế (VNCH) nằm trên đường Hồng Thập Tự. LS Tín đã bị ám sát tại Đà Lạt trong đó cái chết của ông cũng không được soi sáng, nhưng đa phần có nhiều nghi vấn là do lý do chính trị vì ông có khuynh hướng thân Pháp thời bấy giờ.

Về phần Bà Hoa, được đi du học tại Pháp vào cuối thập niên 40, đã đỗ bằng Bác sĩ Y khoa tại Paris và về lại Việt Nam vào khoảng 1957 (?). Bà có quan niệm cấp tiến và xã hội, do đó Bà đã gia nhập vào Đảng CS Pháp năm 1956 trước khi về nước.

Từ những suy nghĩ trên, Bà hoạt động trong lãnh vực y tế và lần lần được móc nối và gia nhập vào Đảng CSVN. Tháng 12/1960, Bà trở thành một thành viên sáng lập của Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam VN dưới bí danh Thùy Dương, nhưng còn giữ bí mật cho đến khi Bà chạy vô “bưng” qua ngõ Ba Thu –Mõ Vẹt xuyên qua Đồng Chó Ngáp. Ngay sau biến cố Tết Mậu Thân, tin tức trên mới được loan tải qua đài phát thanh của Mặt Trận.

Khi vào trong bưng, Bà gặp GS Huỳnh Văn Nghị (HVN) và kết hôn với GS. Trở qua GS Huỳnh Văn Nghị, Ông cũng là một sinh viên du học tại Pháp, đỗ bằng Cao học (DES) Toán. Về VN năm 1957, ông dạy học tại trường Petrus Ký trong hai năm, sau đó qua làm ở Nha Ngân sách và Tài chánh. Ông cũng có tinh thần thân Cộng, chạy vô “bưng” năm 1968 và được kết nạp vào đảng sau đó.

Do “uy tín” chính trị quốc tế của Bà Hoa thời bấy giờ rất cao, Mặt Trận, một lá bài của CS Bắc Việt, muốn tận dụng uy tín nầy để tạo sự đồng thuận với chính phủ Pháp hầu gây rối về mặt ngoại giao cho VNCH và đồng minh Hoa Kỳ. Từ những lý do trên, Bà Hoa là một người rất được lòng Bắc Việt, cũng như Ông Chồng là GS HVN cũng được nâng đở theo. Vào đầu thập niên 70, Ông được chuyển ra Bắc và được huấn luyện trong trường đảng. Tại đây, với một tinh thần thông thoáng dân tộc, cộng thêm nhiều lý luận toán học, Ông đã phân tích và chứng minh những lý thuyết giảng dạy ở trường đảng đều không có căn bản lý luận vững chắc và Ông tự quyết định rời bõ không tiếp tục theo học trường nầy nữa.

Nhưng chính nhờ uy tín của Bà DQH trong thời gian nầy cho nên ông không bị trở ngại về an ninh. Cũng cần nên nói thêm là ông đã từng được đề cử vào chức vụ Bộ trưởng Kinh tế nhưng ông từ chối.

Ô.B DQH và Đảng Cộng sản VN

Chỉ một thời gian ngắn sau khi CS Bắc Việt giải tán Chính phủ Cách mạng Lâm thời miền Nam, Ô Bà lúc đó mới vở lẽ ra. Về phần Ô HVN, ông hoàn toàn không hợp tác với chế độ. Năm 1976, trong một buổi ăn tối với 5 người bạn thân thiết, có tinh thần “tiến bộ”, Ông đã công khai tuyên bố với các bạn như sau:”Các “toi” muốn trốn thì trốn đi trong lúc nầy. Đừng chần chờ mà đi không kịp. Nếu ở lại, đừng nghĩ rằng mình đã có công với “cách mạng” mà “góp ý” với đảng”. Ngay sau đó, một trong người bạn thân là Nguyễn Bá Nhẫn vượt biên và hiện cư ngụ tại Pháp. Còn 4 người còn lại là Lý Chánh Trung (giáo sư văn khoa Sài Gòn), Trần Quang Diệu (TTKý Viện Đại học Đà Lạt), Nguyễn Đình Long (Nha Hàn..g không Dân sự), và một người nữa người viết không nhớ tên không đi. Ông Trung và Long hiện còn ở Việt Nam, còn ông Diệu đang cư ngụ ở Canada.

Trở lại BS DQH, sau khi CS chiếm đóng miền Nam tháng 4/1975, Bà Hoa được “đặt để” vào chức vụ Tổng trưởng Y tế, Xã hội, và Thương binh trong nội các chính phủ. Vào tháng 7/75, Hà Nội chính thức giải thể chính phủ Lâm thời và nắm quyền điều hành toàn quốc, chuyển Bà xuống hàng Thứ trưởng và làm bù nhìn như Nguyễn Hữu Thọ, Nguyễn Thị Bình, Nguyễn Thị Định… Chính trong thời gian nầy Bà lần lần thấy được bộ mặt thật của đảng CS và mục tiêu của họ không phải là phục vụ đất nước Việt Nam mà chính là làm nhiệm vụ của CS quốc tế là âm mưu nhuộm đỏ vùng Đông Nam Á.

Vào khoảng cuối thập niên 70, Bà đã trao đổi cùng Ô Nguyễn Hữu Thọ:”Anh và tôi chỉ đóng vai trò bù nhìn và chỉ là món đồ trang sức rẻ tiền cho chế độ. Chúng ta không thể phục vụ cho một chế độ thiếu dân chủ và không luật lệ. Vì vậy tôi thông báo cho anh biết là tôi sẽ trả lại thẻ Đảng và không nhận bất cứ nhiệm vụ nào trong chính phủ cả”. Đến năm 1979, Bà chính thức từ bỏ tư cách đảng viên và chức vụ Thứ trưởng. Dĩ nhiên là Đảng không hài lòng với quyết định nầy; nhưng vì để tránh những chuyện từ nhiệm tập thể của các đảng viên gốc miền Nam, họ đề nghị Bà sang Pháp. Nhưng sau cùng, họ đã lấy lại quyết định trên và yêu cầu Bà im lặng trong vòng 10 năm.

Mười năm sau đó, sau khi được “phép” nói, Bà nhận định rằng Đảng CS Việt Nam tiếp tục xuất cảng gạo trong khi dân chúng cả nước đang đi dần đến nạn đói. Và nghịch lý thay, họ lại yêu cầu thế giới giúp đỡ để giải quyết nạn nghèo đói trong nước. Trong thời gian nầy Bà tuyên bố :” Trong hiện trạng của Đất Nước hiện tại (thời bấy giờ), xuất cảng gạo tức là xuất cảng sức khỏe của người dân” Và Bà cũng là một trong những người đầu tiên lên tiếng báo động vào năm 1989 cho thế giới biết tệ trạng bán trẻ em Việt Nam ngay từ 9,10 tuổi cho các dịch vụ tình dục trong khách sạn và các khu giải trí dành cho người ngoại quốc do các cơ quan chính phủ và quân đội điều hành.

Sau khi rời nhiệm vụ trong chính phủ, Bà trở về vị trí của một BS nhi khoa. Qua sự quen biết với giới trí thức và y khoa Pháp, Bà đã vận động được sự giúp đở của hai giới trên để thành lập Trung Tâm Nhi Khoa chuyên khám và chữa trị trẻ em không lấy tiền và Bà cũng được viện trợ thuốc men cho trẻ em Việt Nam suy dinh dưỡng nhất là acid folic và các lọai vitamin. Nhưng tiếc thay, số thuốc trên khi về Việt Nam đã không đến tay Bà mà tất cả được chuyển về Bắc. Bà xin chấm dứt viện trợ, nhưng lại được “yêu cầu” phải xin lại viện trợ vì…nhân dân (của Đảng!). Về tình trạng trẻ con suy dinh dưỡng, với tính cách thông tin, chúng tôi xin đưa ra đây báo cáo của Bà Anneke Maarse, chuyên gia tư vấn của UNICEF trong hội nghị ngày 1/12/03 tại Hà Nội :” Hiện Việt Nam có 5,1 triệu người khuyết tật chiếm 6,3% trên tổng số 81 triệu dân. Qua khảo sát tại 648 gia đình tại ba vùng Phú Thọ, Quảng Nam và Tp HCM cho thấy có tới 24% trẻ em tàn tật dạng vận động, 92,3% khuyết tật trí tuệ, và 19% khuyết tật thị giác lẫn ngôn ngữ. Trong số đó tỷ lệ trẻ em khuyết tật bẩm sinh chiếm tới 72%.

Vào năm 1989, Bà đã được ký giả Morley Safer, phóng viên của đài truyền hình CBS phỏng vấn. Những lời phỏng vấn đã được ghi lại trong cuốn sách của ông dưới tựa đề Flashbacks on Returning to Việt Nam do Random House, Inc. NY, 1990 xuất bản. Qua đó, một sự thật càng sáng tỏ là con của Bà, Huỳng Trung Sơn bị bịnh viêm màng não mà Bà không có thuốc để chữa trị khi còn ở trong bưng và đây cũng là một sự kiện đau buồn nhất trong đời Bà. Cũng trong cuốn sách vưà kể trên, Bà cũng đã tự thú là đã sai lầm ở một khoảng thời gian nào đó. Nhưng Bà không luyến tiếc vì Bà đã đạt được mục đích là làm cho những người ngoại quốc ra khỏi đất nước Việt Nam.

Sau cùng, chúng tôi xin liệt kê ra đây hai trong những nhận định bất hủ của BS DQH là :”Trong chiến tranh, chúng tôi sống gần nhân dân, sống trong lòng nhân dân. Ngày nay, khi quyền lực nằm an toàn trong tay rồi, đảng đã xem nhân dân như là một kẽ thù tiềm ẩn”. Và khi nhận định về bức tường Bá Linh, Bà nói:” Đây là ngày tàn của một ảo tưởng vĩ đại”.

BS DQH và Vụ kiện Da Cam

Theo nhiều nguồn dư luận hải ngoại, trước khi ký kết Thương ước Mỹ-Việt dưới nhiệm kỳ của Tổng thống Clinton, hai chính phủ đã đồng ý trong một cam kết riêng không phổ biến là Việt Nam sẽ không đưa vụ Chất độc màu Da cam để kiện Hoa Kỳ, và đối lại, Mỹ sẽ ký thương ước với Việt Nam và sẽ không phủ quyết để Việt Nam có thể gia nhập vào Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) trong t ương lai.

Có lẽ vì “mật ước” Mỹ-Việt vừa nêu trên, nên Việt Nam cho thành lập Hội Nạn nhân chất Độc Da cam/Dioxin Việt Nam ngày 10/1/2004 ngay sau khi có quyết định chấp thuận của Bộ Nội vụ ngày 17/12/2003. Đây là một Hội dưới danh nghĩa thiện nguyện nhưng do Nhà Nước trợ cấp tài chính và kiểm soát. Ban chấp hành tạm thời của Hội lúc ban đầu gồm:
- Bà Nguyễn Thị Bình, nguyên Phó chủ tịch nước làm Chủ tịch danh dự;
- Thượng tướng Đặng Vũ Hiệp, nguyên Phó chủ nhiệm Tổng cục chính trị QĐND làm Chủ tịch;
- GS,BS Nguyễn Trọng Nhân, nguyên Bộ trưởng Y tế, Chủ tịch Hội Chữ thập đỏ Việt Nam làm Phó Chủ tịch;
- Ô Trần Văn Thụ làm Thư ký.

Trong buổi lễ ra mắt, Bà Bình đã khẳng định rõ ràng rằng:”Chính phủ Mỹ và các công ty sản xuất chất độc hoá học da cam phải thừa nhận trách nhiệm tinh thần, đạo đức và pháp lý. Những người phục vụ chính thể Việt NamCộng Hòa cũ ở miền Nam không được đưa vào danh sách trợ cấp”. Theo một bản tin của Thông tấn xã Việt Nam thì đây là một tổ chức của những nạn nhân chất Da cam, cũng như các cá nhân, tập thể tự nguyện đóng góp để giúp các nạn nhân khắc phục hậu quả chất độc hoá học và là đại diện pháp lý của các nạn nhân Việt Nam trong các quan hệ với các tổ chức và cơ quan trong cũng như ngoài nước. Thế nhưng, trong danh sách nạn nhân chất da cam trong cả nước được Việt Nam ước tính trên 3 triệu mà chính phủ đã thiết lập năm 2003 để cung cấp tiền trợ cấp hàng tháng, những nạn nhân đã từng phục vụ cho VNCH trước đây thì không được đưa vào danh sách nầy (Được biết năm 2001, trong Hội nghị Quốc tế tại Hà Nội, số nạn nhân được Việt Nam nêu ra là 2 triệu!). Do đó có thể nói rằng, việc thành lập Hội chỉ có mục đích duy nhất là hỗ trợ cho việc kiện tụng mà thôi.

Vào ngày 30/1/2004, Hội đã nộp đơn kiện 37 công ty hóa chất ở Hoa Kỳ tại tòa án liên bang Brooklyn, New York do luật sư đại diện cho phía Việt Nam là Constantine P. Kokkoris. (Được biết LS Kokkoris là một người Mỹ gốc Nga, đã từng phục vụ cho tòa Đại sứ Việt ở Nga Sô và có vợ là người Việt Nam họ Bùi). Hồ sơ thụ lý gồm 49 trang trong đó có 240 điều khoảng. Danh sách nguyên đơn liệt kê như sau:
- Hội Nạn nhân Chất Da cam/Dioxin Việt Nam;
- Bà Phan Thị Phi Phi, giáo sư Đại học Hà Nội;
- Ông Nguyễn Văn Quý, cựu chiến binh tham chiến ở miền Nam trước 1975, cùng với hai người con là Nguyễn Quang Trung (1988) và Nguyễn Thị Thu Nga (1989);
- Bà Dương Quỳnh Hoa, Bác sĩ, nguyên Bộ trưởng Y tế Chính phủ Cách mạng Lâm thời miền Nam, và con là Huỳnh Trung Sơn; và
- Những người cùng cảnh ngộ.

Đây là một vụ kiện tập thể (class action) và yêu cầu được xét xử có bồi thẩm đoàn. Các đương đơn tố các công ty Hoa Kỳ đã vi phạm luật pháp quốc tế và tội ác chiến tranh, vi phạm luật an toàn sản phẩm, cẩu thả và cố ý đả thương, âm mưu phạm pháp, quấy nhiễu nơi công cộng và làm giàu bất chánh để: (1) Đòi bồi thường bằng tiền do thương tật cá nhân, tử vong, và dị thai và (2) Yêu cầu tòa bắt buộc làm giảm ô nhiễm môi trường, và (3) Để hoàn trả lại lợi nhuận mà các công ty đã kiếm được qua việc sản xuất thuốc khai quang.

Không có một bằng chứng nào được đính kèm theo để biện hộ cho các cáo buộc, mà chỉ dựa vào tin tức và niềm tin (nguyên văn là upon information and belief). Tuy nhiên, đơn kiện có nêu đích danh một số nghiên cứu mới nhất về dioxin của Viện Y khoa thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Hoa Kỳ, công ty cố vấn Hatfield Consultants của Canada, Bác sĩ Arnold Schecter của trường Y tế Công cộng Houston thuộc trường Đại học Texas, và Tiến sĩ Jeanne Mager Stellman của trường Đại học Columbia, New York.

Chúng tôi đặc biệt quan tâm đến trường hợp của BS Dương Quỳnh Hoa cũng như quá trình hoạt động của Bà từ những năm 50 cho đến hiện tại. Tên Bà nằm trong danh sách nguyên đơn cũng là một nghi vấn cần phải nghiên cứu cặn kẽ.

Theo nội dung của hồ sơ kiện tụng, từ năm 1964 trở đi, Bà thường xuyên đi đến thành phố Biên Hòa và Sông Bé (?) là những nơi đã bị phun xịt thuốc khai quang nặng nề. Từ năm 1968 đến 1976, nguyên đơn BS Hoa là Tổng trưởng Y tế của Chính phủ Lâm thời Cộng hòa miền Nam và ngụ tại Tây Ninh. Trong thời gian nầy Bà phải che phủ trên đầu bằng bao nylon và đã đi ngang qua một thùng chứa thuốc khai quang mà máy bay Mỹ đã đánh rơi. (Cũng xin nói ở đây là chất da cam được chứa trong những thùng phuy 200L và có sơn màu da cam. Chất nầy được pha trộn với nước hay dầu theo tỷ lệ 1/20 hay hơn nữa và được bơm vào bồn chứa cố định trên máy bay trước khi được phun xịt. Như vậy làm gì có cảnh thùng phuy rơi rớt!?).

Năm 1970, Bà hạ sinh đứa con trai tên Huỳnh Trung Sơn (cũng có tên trong đơn kiện như một nguyên đơn, tuy đã mất) bị phát triển không bình thường và hay bị chứng co giật cơ thể. Sơn chết vào lúc 8 tháng tuổi.

Trong thời gian chấm dứt chiến tranh, BS Hoa bắt đầu bị chứng ngứa ngáy ngoài da. Năm 1971, Bà có mang và bị sẩy thai sau 8 tuần lễ. Năm 1972, Bà lại bị sẩy thai một lần nữa, lúc 6 tuần mang thai. Năm 1985, BS Hoa đã được chẩn bịnh tiểu đường. Và sau cùng năm 1998 Bà bị ung thư vú và đã được giải phẩu. Năm 1999, Bà được thử nghiệm máu và BS Schecter (Hoa Kỳ) cho biết là lượng Dioxin trong máu của Bà có nồng độ là 20 ppt (phần ức).

Và sau cùng, kết luận trong hồ sơ kiện tụng là: Bà BS Hoa và con là nạn nhân của chất độc Da cam.

Qua những sự kiện trên chúng ta thấy có nhiều điều nghịch lý và mâu thuẫn về sự hiện diện của tên Bà trong vụ kiện ở Brooklyn?

Để tìm giải đáp cho những điều nghịch lý trên, chúng tôi xin trích dẫn những phát biểu của Bà trong một cuộc tiếp xúc thân hữu tại Paris trung tuần tháng 5/2004. Theo lời Bà (từ miệng Bà nói, lời của một người bạn tên VNT có mặt trong buổi tiếp xúc trên) thì “người ta đã đặt tôi vào một sự đã rồi (fait accompli).

Tên tôi đã được ghi vào hồ sơ kiện không có sự đồng ý của tôi cũng như hoàn toàn không thông báo cho tôi biết. Người ta chỉ đến mời tôi hợp tác khi có một ký giả người Úc thấy tên tôi trong vụ kiện yêu cầu được phỏng vấn tôi. Tôi chấp nhận cuộc gặp gỡ với một điều kiện duy nhất là tôi có quyền nói sự thật, nghĩa là tôi không là người khởi xướng vụ kiện cũng như không có ý muốn kiện Hoa Kỳ trong vấn đề chất độc da cam.”Dĩ nhiên cuộc gặp gỡ giữa Bà Hoa và phóng viên người Úc không bao giờ xảy ra.

Bà còn thêm rằng:” Trong thời gian mà tất cả mọi người nhất là đảng CS bị ám ảnh về việc nhiễm độc dioxin, tôi cũng đã nhờ một BS Hoa Kỳ khám nghiệm (khoảng 1971) tại Pháp và kết quả cho thấy là lượng dioxin trong máu của tôi dưới mức trung bình (2ppt).”

Đến đây, chúng ta có thể hình dung được kết quả của vụ kiện.Và ngày 10 tháng 3 năm 2005, Ông chánh án Jack Weinstein đã tuyên bố hủy bõ hoàn toàn vụ kiện tại tòa án Brooklyn, New York. 

Bài học được rút ra từ cái chết của BS DQH.

Từ những tin tức về đời sống qua nhiều giai đoạn của Bác sĩ Dương Quỳnh Hoa, hôm nay Bà đã đi trọn quảng đường của cuộc đời Bà. Những bước đầu đời của Bà bắt đầu với bầu nhiệt huyết của tuổi thanh niên, lý tưởng phục vụ cho tổ quốc trong sáng. Nhưng chính vì sự trong sáng đó Bà đã không phân biệt và bị mê hoặc bởi những lý thuyết không tưởng của hệ thống cộng sản thế giới. Do đó Bà đã bị lôi cuốn vào cơn gió lốc của cuộc chiến VN. Và Bà đã đứng về phía người Cộng sản.

Khi đã nhận diện được chân tướng của họ, Bà bị vỡ mộng và có phản ứng ngược lại. Nhưng vì thế cô, Bà không thể nào đi ngược lại hay “cải sửa” chế độ. Rất may cho Bà là Bà chưa bị chế độ nghiền nát. Không phải vì họ sợ hay thương tình một người đã từng đóng góp cho chế độ (trong xã hội CS, loại tình cảm tiểu tư sản như thế không thể nào hiện hữu được), nhưng chính vì họ nghĩ còn có thể lợi dụng được Bà trong những mặc cả kinh tế – chính trị giữa các đối cực như Pháp và Hoa Kỳ, trong đó họ chiếm vị thế ngư ông đắc lợi. Vì vậy, họ không triệt tiêu Bà.

Hôm nay, chúng ta có thể tiếc cho Bà, một người Việt Nam có tấm lòng yêu nước nhưng không đặt đúng chỗ và đúng thời điểm; do đó, khi đã phản tỉnh lại bị chế độ đối xử tệ bạc. Tuy nhiên, với một cái chết trong im lặng, không kèn không trống, không một thông tin trên truyền thông về một người đã từng có công đóng góp một phần cho sự thành tựu của chế độ như Bà đã khiến cho chúng ta phải suy nghĩ, suy nghĩ về tính vô cảm của người cộng sản, cũng như suy nghĩ về tính chuyên chính vô sản của hệ thống xã hội chủ nghĩa. Đối với chế độ hiện hành, sẽ không bao giờ có được sự đối thoại bình đẳng, trong đó tinh thần tôn trọng dân chủ dứt khoát không hề hiện hữu như các sinh hoạt chính trị của những quốc gia tôn trọng nhân quyền trên thế giới. Vì vậy, với cơ chế trên, hệ thống XHCN sẽ không bao giờ biết lắng nghe những tiếng nói “đóng góp” đích thực cho công cuộc xây dựng Đất và Nước cả.

Bài học DQH là một bài học lớn cho những ai còn hy vọng rằng cơ hội ngày hôm nay đã đến cho những người còn tâm huyết ở hải ngoại ngõ hầu mang hết khả năng và kỹ năng về xây dựng quê hương. Hãy hình dung một đóng góp nhỏ nhặt như việc cung cấp những thông tin về nguồn nước ở các sông ngòi ở Việt Nam đã bị kết án là vi phạm “bí mật quốc gia” theo Quyết định của Thủ tướng Việt Nam số 212/203/QĐ-TTg ký ngày 21/10/2003. Như vậy, dù là “cùng là máu đỏ Việt Nam” nhưng phải là máu đã “cưu mang” một chủ thuyết ngoại lai mới có thể được xem là chính danh để xây dựng quê hương Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Chúng ta, những người Việt trong và ngòai nước, còn nặng lòng với đất nước, tưởng cũng cần suy gẫm trường hợp Bác sĩ Dương Quỳnh Hoa ngõ hầu phục vụ tổ quốc và d dân tộc trong sự thức tỉnh, đừng để bị mê hoặc bởi chủ thuyết cưỡng quyền.

Tổ quốc là đất nước chung – Dân tộc là tất cả thành tố cần phải được bảo vệ và thừa hưởng phúc họa bình đẳng với nhau. Rất tiếc điều này không xảy ra cho Việt Nam hiện tại.

Ghi chú: Ngày 3/3/2006, trên báo SGGP, GS Trần Cửu Kiếm, nguyên ủy viên Ban Quân y miền Nam, một người bạn chiến đầu của Bà trong MTDTGPMN, có viết một bài ngắn để kỷ niệm về BS DQH. Chỉ một bài duy nhứt từ đó đến nay.

Mong tất cả trí thức Việt Nam đặc biệt là trí thức miền Nam học và thấm thía bài học nầy qua trường hợp của BS Dương Quỳnh Hoa.

Asia Clinic, 9h02' ngày thứ Hai, 27/01/2013

Thứ Năm, 28 tháng 11, 2013

SƠ LƯỢC HIỆN TƯỢNG HỌC VÀ HIỆN SINH HỌC VỚI VĂN HÓA NGHỆ THUẬT MIỀN NAM TRƯỚC 1975

Bài đọc liên quan: 

Gần đây có diễn đàn hội thảo về Bùi Giáng trở lại, cũng có lắm người ca tụng, và cũng có thiểu số người đánh giá không cao về ông, vì họ không có đủ kiến thức để nhìn ông đúng với những gì ông viết.

Lâu nay, kể cả trước 1975 và sau 1975 ở cả 2 miền Nam và Bắc, khi nói đến nhà thơ Bùi Giáng thì đa phần là ca tụng ông lên mây. Một số người thì lại đánh giá khác, chỉ là thiểu số, là thơ Bùi Giáng không hay, và khó hiểu, thậm chí không biết ông viết gì.

Những người ca tụng đa phần cũng chỉ là ca tụng vì thấy những người hiểu biết ca tụng rồi mình cũng ca tụng theo kiểu Gustave le Bon - tâm lý đám đông vô thức.

Những người đặt vấn đề thơ ông không hay, khó hiểu, thậm chí không hiểu ông viết gì, thì đa phần không nắm được trào lưu triết học ở miền Nam vào 2 thập niên 1960 và 1970 có 2 trường phái xâm nhập vào nền văn hóa miền Nam đầy khói lửa, và chết chóc vì chiến tranh Bắc Nam lúc bấy giờ là: 

1. Chủ nghĩa Hiện sinh - Existentialism đại diện lúc đó là Jean Paul Sartre; và 

2. Hiện tượng học - Phenomenology đại diện lúc đó là Martin Heidegger 

Do hậu quả chiến tranh làm con người cần tìm nơi trú ẩn về tư duy, tâm linh, v.v... mà trong đó, Bùi Giáng và Phạm Công Thiện là 2 dịch giả, và tác giả chuyển tải bằng dịch thuật, và viết nhiều về 2 trường phái này ở miền Nam Việt Nam thời đó. 

Đặc biệt, về Phenomenology - Hiện tượng học - là một trường phái triết học mô tả thực tại khách quan bằng lối ví von ngôn từ ẩn dụ, mà chỉ tác giả mới hiểu mình nói gì. Nó được 2 ông Bùi Giáng và Phạm Công Thiện đưa vào hầu hết các tác phẩm văn thơ, cũng như những dịch phẩm của họ cho chương trình đào tạo ở đại học. Đa phần những người viết theo trường phái hiện tượng học đều bị cho là, điên chữ làm cho mù nghĩa.

Trường phái triết học Hiện tượng học ra đời từ thời Edmund Husserl nghiên cứu về nhận thức luận của cái nằm bên dưới nhận thức của con người trong một hoàn cảnh cụ thể trong cuốn Logical Investigations (Nghiên cứu về lý luận) (1901). Sau này được các nhà triết học phương Tây đi sâu vào sự trú ẩn tâm lý trong ngôn ngữ, hành vi, và bao nhiêu vấn đề khác của khoa học tự nhiên và xã hội rất phức tạp.

Bên cạnh Hiện tượng học thì Chủ nghĩa hiện sinh cũng mô tả thực khách quan trần trụi của đời thường, để đưa ra một nhân sinh quan, một triết lý sống cho thực tại. Thời bom đạn ấy, chủ nghĩa hiện sinh không chỉ ảnh hưởng đến đời sống thanh niên miền Nam, mà còn cả Hoa Kỳ và toàn cầu. Những tha hóa, thăng hoa; dấn thân, vong thân; đạo và đời; danh và lợi, phong trào Hippy của thanh niên, v.v... trong thời chiến ác liệt.

Nếu ai đọc bản dịch về Phenomenology của ông Bùi Giáng dịch thì cực kỳ khó nhằng, không khác gì tự đọc tác phẩm Kinh dịch của Ngô Tất Tố dịch ra Việt ngữ từ bản gốc tiếng Hán.

Cũng vậy, nếu ai đã từng đọc những cuốn mà ông Phạm Công Thiện viết như: Ngày sinh của Rắn, hay Mặt trời không bao giờ tắt, v.v... thì sẽ cực kỳ khó hiểu với những ngôn từ, những chương chỉ có một câu văn không biết ông nói gì? Ví dụ như: "Ôi! vàng rơi cây ngô đồng!" chiếm 1 chương trong sách! Không ai hiểu ông muốn lấy cây ngô đồng để nói cái gì? vàng rơi có phải l;à lá vàng rụng mùa thu? Vậy thì cây ngô đồng mùa thu lá rụng, thì ẩn ý của ông muốn nói cái gì? Đó là hiện tượng học.

Còn ông Bùi Giáng thì, Hỏi về tiểu sử, Bùi Giáng trả lời: "Hỏi tên? Rằng biển xanh dâu/ Hỏi quê? Rằng mộng ban đầu rất xa./ Gọi tên là một hai ba,/ Ðếm là diệu tưởng, đo là nghi tâm." Không ai hiểu ông nói cái gì? Nhưng có thể mơ hồ hiểu ông muốn nói, ông đến từ hư vô và sẽ trở về từ cõi hư vô. 

Cho nên, muốn hiểu Bùi Giáng, Phạm Công Thiện và Trịnh Công Sơn thì phải hiểu về lịch sử, thời cuộc, và sự ảnh hưởng nền triết học hiện đại đến văn học nghệ thuật miền Nam 2 thập niên 1960-1970. Đặc biệt là Hiện tượng học - Phenomenology. 

Thế hệ những ông này đưa Phenomenology vào xã hội Việt Nam khi nó là một trào lưu thế giới lúc bấy giờ. Nên cách viết của 3 ông này thường điên chữ làm mù nghĩa mà chỉ có ai chơi thân mới hiểu. Mỗi ông có một cách diễn đạt khác nhau. Trong 3 ông thì nhạc sĩ họ Trịnh là viết tương đối dễ hiểu hơn về Phenomenology trong cách diễn đạt bằng nhạc mà là thơ là triết.


Với Bùi Giáng, ông là một nhà thơ, một dịch giả nổi tiếng ở miến Nam trước 1975. Và cũng không ngần ngại xem ông là một triết gia.


Với Phạm Công Thiện, trước hết ông là một nhà ngôn ngữ học - ông từng tự cho mình là hiểu và biết quá nhiều ngoại ngữ đến nỗi, ông tự phong mình và người ta cũng phải công nhân ông là người có ngoại ngữ vân vân - từ những giai thoại về ông mà hầu hết sinh viên Văn khoa thời ấy học ông. Sau nữa là dịch giả, nhà thơ, nhà văn theo trường phái hiện tượng học.


Với Trịnh Công Sơn trước tiên là nhạc sỹ tài danh. Nhưng nhạc của ông quan trọng nhất là lời. Lời nhạc của Trịnh không chỉ là thơ, mà còn là một triết lý nhân sinh kết hợp giữa Phật học với Hiện tượng học để vẽ lên những câu vô nghĩa, nhưng khi ghép lại thì ai cũng hiểu bàng bạc thân phận của con người trong một kiếp nhân sinh.

Nếu Trịnh Công Sơn chỉ đơn thuần là người của công chúng showbiz ở miền Nam, thì 2 ông Bùi Giáng và Phạm Công Thiện là những người của công chúng, họ còn là những người của công chúng trí thức miền Nam trước 1975. Vì 2 ông còn là giảng viên đại học nổi tiếng ở các trường đại học Văn Khoa và Vạn Hạnh thời bấy giờ. Cả 3 họ đều có ảnh hưởng lớn cho thế hệ thanh niên thời chiến của miền Nam.

Nếu nói đúng ra thì 2 ông Bùi Giáng và Phạm Công Thiện đã có công đưa hiện tượng học vào miền Nam. Ông Trịnh Công Sơn bị ảnh hưởng trường phái này, và dùng ngôn từ ẩn dụ để diễn tả thực tại khách quan về nội tâm và thân phận của con người kết hợp với Phật học để thành thơ, nhạc và triết lý nhân sinh.

Cả 3 người có quan điểm nhân sinh như những triết gia về chủ nghĩa hiện sinh pha trộn hiện tượng học trong đời sống miền Nam lúc bấy giờ.

Tất cả họ, hiện tượng học, và chủ nghĩa hiện sinh thời 1960 đến giữa 1970s là kết quả của cuộc nội chiến Nam Bắc và sự giằng xóc tâm linh, tư duy thời đại mà thành một bức tranh đại diện cho nền văn hóa nghệ thuật khai phóng miền Nam Việt Nam trước 30/4/1975.

Asia Clinic, 12h15' ngày 29/11/2013

Chủ Nhật, 10 tháng 11, 2013

BI KỊCH CỦA KẺ SỸ GIỮA ĐÁM BẦN NÔNG

Tôi hầu như không ca ngợi hay khen ai ở chế độ xã hội chủ nghĩa này, đặc biệt là những quan lại triều đình hiện nay.

Tôi biết ông Nguyễn Thiện Nhân qua cố GSBS Nguyễn Thiện Thành - bố ông - ngòai ra tôi chưa bao giờ tiếp xúc hay quen biết ông Nhân. Hôm nay ông từ nhiệm cương vị phó thủ tướng để về lo cho người già và người nghèo ở Mặt trận tổ quốc. Một cơ quan mà ai cũng hiểu là về an vị để chờ tuổi hưu. Âu đó cũng là cái nghiệp giống bố của ông, khi cuối đời nghiên cứu và chữa trị ngành lão khoa - lo cho người già.

Nhiều người đồn đại rằng, ông vô tài, không làm được cái gì cho ra hồn, đánh trống bỏ dùi, làm dang dở rồi lại đi, nên không bộ nào dung nạp được ông. Ngày ông ra Hà Nội lãnh chức thượng thư bộ Học, ông ở chưa yên vị, thì lên phó thủ tướng chăm lo văn thể mỹ, giờ thì vừa vào nhóm 16 người thinktank, lại đến chỗ để chờ ngày lãnh lương hưu.

Nhưng tôi lại thấy khác, những cái ông Nguyễn Thiện Nhân làm được tuy dở dang, nhưng ông để lại những dấu ấn vô cùng quan trọng, mà ít ai thấu hiểu và thấy nó là những viên gạch đặt nền tảng cho công cuộc phục hưng đất nước.

Ngày ông làm bộ trưởng giáo dục và đào tạo, với 3 không, ông đánh động tất cả mọi cấp bậc giáo dục và không chừa bất kỳ ai, ngành nghề nào, cấp bậc nào trong chính quyền. Từ vấn nạn sách giáo khoa sai trái, đến chạy bằng cấp, mua bằng giả, học trường dõm để mua chức quyền. Có lẽ mọi việc ông dang dở cũng từ đây, và cũng từ đây, ông đơn độc giữa bầy sói vô học, thiếu văn hóa, háu đói, tranh ăn.

Chính việc dám nhìn thẳng vào sự thật một nền giáo dục thui chột này nó là động lực để chính bản thân tôi lao vào viết báo và viết blog một cách say sưa, không kiêng dè, sợ sệt bằng những bài tố cáo những trường đại học dõm, giả danh, những nhân vật vô học đứng ra làm cò mồi để buôn bằng bán chức tước. Rồi sau đó, tôi mới có loạt hơn 50 bài về học bổng du học ở các quốc gia có nền giáo dục tiên tiến. Loạt bài này hằng năm đã trực tiếp hoặc gián tiếp giúp được cho các cháu mỗi năm đạt đến cả triệu đô la Mỹ vào gói học bỗng du học bậc đại học.

Sau đó, tôi lại tiếp tục phản biện cho tất cả mọi lĩnh vực trong xã hội: kinh tế, chính trị, y học, văn hóa, môi trường, chính sách, v.v... như một con tằm phải nhả tơ không mệt mỏi.

Khi ông chủ tịch quốc hội Nguyễn Sinh Hùng đề nghị Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân phát biểu từ nhiệm, và nhận trách nhiệm mới, song ông Nhân gửi lời cảm ơn và xin thôi không phát biểu. Điều này đã nói lên cho nhân dân hiểu rất nhiều.

Suy cho cùng, trong hàng ngũ lãnh đạo của Việt Nam hiện nay, để kiếm được có một người có thân thế gia đình dòng tộc và bản thân có những thành quả học tập, rèn luyện học vị, lẫn học hàm bằng nổ lực thực sự của bản thân như ông Nhân là hiếm. Nhưng cũng chính vì thế mà, ông không thể làm việc được với họ. Kẻ sỹ sống giữa bầy sói khác nào đem dao phay mổ trâu mà thái mớ hành hẹ? 

Chữ Nhân làm sao đi với lũ bất nhân? Chữ Thiện làm sao sống cùng với lũ lưu manh? Thôi thì ông cũng đã đến lúc yên lặng để làm kẻ sỹ thất thời lỡ vận như bao tiền nhân mà sách sử đã ghi vậy.

Đơn độc giữa bầy sói mà chưa bị sói ăn thịt cũng là may mắn lắm rồi, ông cựu thượng thư bộ Học ạ. Chúc ông may mắn trong những năm tháng còn lại, nơi chính trường hôi tanh mùi xác chết của hàng triệu dân nước Việt đã ngã xuống, để có hôm nay mùi tanh tưởi.

Asia Clinic, 14h20' ngày thứ Hai, 11/11/2013

Chủ Nhật, 20 tháng 10, 2013

6 ĐỜI CHỦ TỊCH QUÂN ỦY TRUNG ƯƠNG TRUNG HOA

Bài đọc liên quan:

Với tự tưởng: "Họng súng đẻ ra chính quyền", Mao Trạch Đông đã biến Trung Hoa thành một chế độ phong kiến tập quyền kiểu mới. Khi ông đã một mình thâu tóm quân đội, chỉ cần làm chủ tịch đảng cộng sản ở Trung Hoa, mà không cần giữ chức vị chủ tịch nước. Mà thực ra ông chả cần giữ chức nào cả ngoài chủ tịch quân ủy trung ương. Với nó, ông làm mưa làm gió, muốn giết bất kỳ ai, bỏ tù hay đày họ đi tù khổ sai. Nó là tiền đề để thấy 6 đời chủ tịch quân ủy trung ương Trung Hoa là cái để đáng nghiên cứu nhà nước Trung Hoa hơn bất kỳ lĩnh vực nào.

Có thể nói, trong 6 đời chủ tịch quân ủy trung ương Trung Hoa chỉ sáng giá có 2 đời là Mao Trạch Đông và Đặng Tiểu Bình. Bốn đời còn lại chỉ là những người làm theo, cố bảo vệ sự đoàn kết giả tạo trong đảng cộng sản ở Trung Hoa, hơn là có bất kỳ một tư tưởng mới nào để giúp Trung Hoa như hôm nay.

Đời thứ nhất là Mao, ông có 3 phần công lớn. Thống nhất và bành trướng lãnh thổ Trung Hoa hôm nay gấp 3 lần so với thời cuối nhà Thanh. Tân Cương, Nội Mông và Tây Tạng là 3 vùng đất được Mao quan tâm và xâm lược ngay sau khi nắm quyền vào ngày 01/10/1949.

Chiếm chỗ của Đài Loan tại 5 thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc. Thúc đẩy giới khoa học Trung Hoa bằng mọi giá phải có bom hạt nhân để bảo vệ quyền lực Trung Hoa trường tồn là công lao to lớn thứ hai của Mao.

Giết chết toàn bộ thành phần trí thức, kể cả dân chúng cùng đồng cam cộng khổ với Mao trong Vạn lý Trường chinh, chỉ để lại thành phần vai u thịt bắp trong chính quyền trung ương, để thực hiện trọn vẹn một thể chế chính trị phong kiến tập quyền kiểu mới ở Trung Hoa.

Ba tư tưởng của Mao: Giữ lấy súng để nắm quyền lực tuyệt đối. Hai cái phàm là để tạo sự trung thành và đoàn kết giả tạo trong đảng hòng ăn chia. Thâu tóm truyền thông hòng ngu dân và tiêu diệt bất kỳ ai trong chính quyền và ngoài chính quyền, để thực hiện mọi "sáng kiến" bệnh hoạn của Mao, như Đại nhảy vọt và Đại cách mạng văn hóa.

Có thể tóm lược đời chủ tịch quân ủy trung ương của Mao có công đặt nền tảng cho nhóm lợi ích của đảng cộng sản ở Trung Hoa, và cộng sản thế giới, giúp Trung Hoa và các đảng cộng sản còn sót lại đứng vững. Trung Hoa có tiếng nói với những cường quốc trong Hội đồng Bảo an Liên Hiệp quốc, nhưng có tội với nhân dân Trung Hoa.

Đời thứ hai là Hoa Quốc Phong, chỉ nắm chức này trong 4 năm, và mờ nhạt dưới cái bóng của ông Đặng Tiểu Bình. Tuy đóng vai trò trung gian, nhưng ông Hoa Quốc Phong đã có công lớn, khi ưng thuận để ông Đặng tiêu diệt bè lũ 4 tên: Giang Thanh, Trương Xuân Kiều, Diêu Văn Nguyên, và Vương Hồng Văn. Tứ nhân bang này là những con chó trung thành của Mao dùng cho những kế hoạch bệnh hoạn của ông ta. Nhưng Mao cũng rất sáng suốt khi giết sạch thành phần trí thức muốn cho Trung Hoa nhân bản và tự do dân chủ, đồng thời cũng để sống họ Đặng để thực hiện kế sách lâu dài của mình. Mao cũng sáng suốt khi để lại di chúc đưa Hoa Quốc Phong lên kế vị, hòng làm bước đệm để tiêu diệt tứ nhân bang và ủng hộ Đặng.

Đời thứ ba Đặng Tiểu Bình, sau khi tiêu diệt Tứ nhân Bang, Đặng đã ép Hoa Quốc Phong về vườn và nắm quyền bính. Đặng có hai tư tưởng lớn và kế thừa 3 tư tưởng của Mao. Năm tư tưởng này được 3 đời sau thực hiện như là kim chỉ Nam cho đảng cộng sản ở Trung Hoa.

Tư tưởng mèo trắng mèo đen, mèo nào bắt được chuột thì dùng. Nó đã giúp Trung Hoa có 30 năm phát triển kinh tế thần kỳ, mà lịch sử nhân loại chưa bao giờ ghi nhận được bất kỳ một xã hội nào có được sự thần kỳ này. Nhưng, những gì Đặng tuân theo 3 tư tưởng của Mao đã để lại một vết nhơ lịch sử trong vụ Thiên An Môn 1989.

Tư tưởng thứ hai của Đặng là lời di chúc để lại cho thế hệ mai sau - thâu quang dưỡng hối: ẩn mình chờ thời cơ - nhưng khi Hồ Cẩm Đào tưởng rằng Trung Hoa đủ sức mạnh để bá chủ châu Á và tiến đến soán ngôi Hoa Kỳ để cai trị thế giới, sau khi Trung Hoa trở thành nền kinh tế lớn thứ 2 thế giới, chiếm tổng sản lượng xuất khẩu 30% toàn cầu, thì di chúc này của Đặng đã bị xao nhãng. Hôm nay Trung Hoa đang bị cái bong bóng đầu tư công, chạy theo tỷ lệ tăng trưởng giả tạo làm giảm tăng trưởng bắt buộc, thì tư tưởng này được họ Tập tuân thủ nghiêm ngặt.

Đời thứ tư là Giang Trạch Dân, ông là chiếc bóng của Đặng từ trước sự kiện Thiên An môn đến hết thời kỳ ông nhậm chức. Ông chỉ làm và thực hiện đúng 5 tư tưởng của Mao và Đặng đã đẻ ra.
Nên trước khi qua đời, Đặng có một câu nói rất thân tình với ông là, chú làm việc tôi rất yên tâm. Để trả ơn cho Đặng, ông Giang đã bỏ qua tội tham nhũng 20 triệu đô la Mỹ của con trai Đặng với các tập đoàn lớn của phương Tây vào làm ăn với Trung Hoa. Mặc dù, thủ tướng Chu Dung Cơ quyết làm ra ánh sáng vụ này, nhưng Giang nghe lời khuyên của Dương Thượng Côn, vuốt mũi phải nễ mặt, và nên cho chìm xuồng để giữ sự đoàn kết trong đảng. Đây là tiền đề để tham nhũng trở thành quốc nạn của Trung Hoa hiện nay. Dù sao thì Giang cũng đã thực hiện được di nguyện của Đặng chọn một người xuất sắc, thế hệ có học bài bản, và có thực tiễn quản lý như Hồ Cẩm Đào thuộc phái Đoàn hệ lên kế vị.

Đời thứ năm là Hồ Cẩm Đào, ông thuộc phái đoàn hệ, xuất thân là kỹ sư thủy lợi, đi lên bằng chính năng lực của bản thân, có kinh nghiệm quản lý ở Tân Cương, ... Ông đã đẩy mạnh phát triển đầu tư công trên khắp Trung Hoa, và bành trướng thị trường thương mại, xây dựng toàn cầu. Ông quyết chiếm lĩnh nguồn nước châu Á, bằng việc xây dựng điên cuồng những đập thủy điện khắp các con sông có nguồn nước ngọt từ cao nguyên Tây Tạng. Vì Tây Tạng chiếm giữ 80% nguồn nước ngọt ở các dòng sông châu Á. Bằng 2 cách chiếm lĩnh thị trường và nguồn nước này ông muốn nắn gân các quốc gia láng giềng. 

Về đối nội, ông Hồ Cẩm Đào đưa ra sách lược mỵ dân với tư tưởng, xã hội hài hòa. Nhưng xã hội Trung Hoa là một thùng thuốc súng, khó lòng hòa hợp và hòa bình chung sống giữa dân với đảng cộng sản đang ngày một thoái hóa biến chất thành một đảng xấu xa nhất của lịch sử nhân loại, vì cơ chế tập quyền đơn nguyên của nó. Văn hóa suy đồi, chính trị bất an, mất lòng hầu hết toàn cầu, kinh tế đang khủng hoảng, loạn sắc tộc là những gia tài mà 3 đời trước của các chủ tịch quân ủy trung ương Trung Hoa để lại cho thế hệ thứ sáu hiện nay phải giải quyết. Một bài toán vô cùng khó khăn cho thế hệ Thái tử đảng.

Đời thứ sau là Tập Cận Bình - Thái tử đảng. Sở dĩ cần đến thế hệ thái tử đảng là nhằm củng cố lại quyền
lực theo tư tưởng của Mao - súng đẻ ra chính quyền. Ông Hồ Cẩm Đào không là thế hệ của Vạn lý Trường chinh, nên dù là chủ tịch quân ủy trung ương, nhưng quyền nắm quân đội của ông không được trọn vẹn. Nếu ai có đọc những bài viết trên tạp chí Tiên Tiêu ở Hongkong vào nhiệm kỳ sau của ông Hồ Cẩm Đào, thì sẽ thấy việc làm ăn, triệt hạ nhau trong quân đội cấp cao của các tướng lĩnh vùng có xuất thân từ Thái tử đảng, mà không cần quan tâm đến ý kiến của Hồ Cẩm Đào, sẽ thấy tại sao Trung Hoa cần một chủ tịch quân ủy trung ương xuất thân từ Thái tử đảng.

Hai Thái tử đảng được chọn, là Tập Cận Bình đi từ sự cơ cấu từ trên xuống, và Bạc Hy Lai được uy tín từ cơ sở đi lên như Hồ Cẩm Đào. Nhưng họ Bạc đã thua ván cờ tàn, khi một tỉnh Tứ Xuyên không thể cứu ông ta so với những cựu lãnh đạo đã chọn họ Tập.

Tập cũng không có gì mới trong tư tưởng. Sau khi ngồi vào ghế nóng, Tập làm một vòng công du toàn cầu từ Phi sang Âu, đến Mỹ và về Á để vỗ về, để thực hiện việc thâu quang dưỡng hối mà Đặng để lại. Với đối nội, Tập vỗ an đảng viên cao cấp rằng, chỉ có chó săn và chó kéo xe mới chết trong đợt chống tham nhũng của ông ta, chó kiểng không bao giờ chết, hòng ru ngủ dân chúng đang cùng khổ.

Vấn đề cam go nhất của Tập không phải là vấn đề đối nội và đối ngoại ngoài đảng, mà vấn đề của Tập là sách lược đổi mới chính trị và cải tổ kinh tế Trung Hoa làm sao cho các đảng cùng ăn chia với ông ta không mất lòng. 

Nhưng với những gì Tập đã làm trong gần 1 năm qua cho thấy, Tập đang quay về ôn 3 cái cũ  của Mao và 2 cái ý tưởng của Đặng để thực hiện hết nhiệm kỳ của mình. Cũng đúng thôi, xuất thân từ một người lính, sau đó được cơ cấu bằng lý lịch, và sau khi có chức tước mới có bằng cấp thì Tập làm sao có được khả năng tư duy tầm cho một quốc gia to lớn cả về lịch sử, văn hóa, dân số và diện tích cũng như vị thế của Trung Hoa? 

Có lẽ 2 nhiệm kỳ của Tập cũng chỉ là đi lại lối mòn mà Mao và Đặng đã vạch ra. Tương lai của 1/4 nhân loại của Trung Hoa, và của các chư hầu của Trung Hoa vẫn còn cùng khổ, dưới những gì mà Tập không thể có khả năng thay đổi.

Asia Clinic, 13h33' ngày thứ Hai, 21/10/2013

Thứ Tư, 16 tháng 10, 2013

MÔ HÌNH THÀNH CÔNG CỦA PARK CHUNG HEE CHO HÀN QUỐC

Bài đọc liên quan:

Hôm nay đọc bài báo của Dân Việt về việc Đưa nghề may về nông thôn của ông chủ doanh nghiệp ở Bắc Ninh, tôi thấy cần phải viết bài này. Vì mọi nổ lực bằng ý chí của đảng cầm quyền đang muốn đất nước Việt là nước công nghiệp hóa hiện đại hóa trong vòng 7 năm tới - 2020. Nhưng hầu như, 27 năm cỡi trói, Việt Nam đã chỉ hiểu một nửa tư tưởng của ông Park mà làm theo kiểu Trung Hoa, vì một nền chính trị sai lầm.

Nếu ai quan tâm đến mô hình phát triển kinh tế chính trị ở châu Á, thì sẽ không thể phủ nhận, mô hình Hàn Quốc là mô hình phát triển đồng bộ nhất. Hàn Quốc phát triển vững vàng hơn cả Singapore, một con rồng châu Á đang có GDP đầu người cao hạng nhất thế giới, nhưng Singapore chỉ phát triển về kinh tế tài chính nhờ vào địa chính trị và chớp lấy thời cơ. Còn Hàn Quốc, một quốc gia có địa lý cằn khô, nông sản thực phẩm không đủ phải nhập. Khí hậu khắc nghiệt, nên chỉ có nhân sâm mới mọc được, lại nằm canh Trung Hoa lại khác, và khó khăn hơn vạn lần so với Singapore.

Nhưng nhìn toàn diện, Hàn Quốc phát triển như hôm nay cả về kinh tài lẫn khoa học kỹ thuật rất đồng bộ là bắt đầu từ sự vững chải của văn hóa nền của dân tộc này. Tuy không có văn hóa Samurai của Nhật, nhưng văn hóa nền của Hàn Quốc không kém cạnh với Nhật. Lại càng đáng khâm phục khi hôm nay Hàn Quốc bắt đầu xâm lăng văn hóa nghệ thuật thứ 7 của mình đến cả dân Hoa Kỳ và phương Tây, bằng những bộ phim dài nhiều tập, bằng những ngôi sao ca nhạc. Không những thế, tập đoàn đa quốc gia Samsung đang là hạng top của thế giới. Chỉ một mình Samsung vào đầu tư ở Việt Nam, họ đã đóng góp đến 10% GDP cho Việt Nam là một sự thần kỳ đáng kính trọng.

Tất cả những thành công hôm nay là có từ nền móng của 50 năm trước, khi ông Park Chung Hee nắm quyền cai trị độc tài Hàn Quốc, mà ít ai chú ý nghiên cứu. Có những vấn đề cốt lõi của ông Park Chung Hee cần phải nắm để thấy, tại sao Hàn Quốc có như hôm nay.

Về chính trị, ông Park chủ trương một nền chính trị đa nguyên, nhưng độc tài để chống lại cộng sản Bắc Hàn. Ông đã thành công khi vực nền kinh tế Hàn Quốc từ con số không để vươn lên hàng cường quốc số 11 thế giới như hôm nay, mặc dù, dân số chỉ bằng 1/2 so với Việt Nam, và ông phải trả giá bằng sinh mạng của mình - bị ám sát - và chết trong nghèo đói. 

Về văn hóa giáo dục, cái chết trong nghèo khổ của ông là tấm gương về văn hóa sống của Hàn Quốc còn lưu giữ đến hôm nay. Người Hàn Quốc tự hào về họ khi đi vào siêu thị, hay bất kỳ một hàng quán vỉa hè nào cũng không cần phải có ai canh giữ để thu tiền khách hàng mua sắm. Người Hàn Quốc tự hào khi họ sử dụng nhân công ít nhất và hiệu quả nhất thế giới. Nếu ai quan sát khi vào một nhà hàng của Hàn Quốc thì sẽ thấy bộ phận nhân viên phục vụ rất ít, họ làm việc cật lực và hiệu quả đến bất ngờ.

Về kinh tế, ngay từ đầu ông Park đã tạo cho Hàn Quốc những tập đoàn kinh tế tư nhân xuất thân từ những người con ưu tú nhất của đất nước sau nội chiến - với cái gọi là Cheabol. Nhưng ông là người quyết định hỗ trợ và lo cho thế hệ thay thế tương lai, bằng cách cho đi du học và mang kiến thức về áp dụng cho tập đoàn và đất nước.

Về khoa học kỹ thuật, ngay từ đầu ông Park đã cho hàng loạt du sinh đi các nước tiên tiến như Nhật, Hoa Kỳ và phương Tây. Ông bắt buộc họ cam kết trở về phục vụ quốc gia và tập đoàn. Ông còn chủ trương cố gắng ăn cắp công nghệ tiên tiến bằng sự tận tụy học hỏi, và hết lòng với thầy giáo ngoại quốc, chứ không học lóm, học mót, râu ông nọ cắm cằm bà kia.

Về quy hoạch để phát triển đồng bộ, ông chủ trương một con đường cao tốc xuyên quốc gia Hàn Quốc. Trong đó, các khu công nghiệp không gây ô nhiễm, ông chỉ cho phép đặt chúng ở những nơi nông thôn có đất canh tác tốt, để nông dân cùng nhau thay đổi giờ làm việc luân canh giữa nông nghiệp và lao động giản đơn. Nó đã giúp nông dân dư ăn, dư để nhanh chóng chỉ sau 1 thập niên. Đối với công nghiệp gây ô nhiễm, ông chỉ cho phép đặt chúng ở những vùng khô cằn không canh tác được. Nó giúp dân vùng này có công ăn việc làm và thu nhập cao. Và không đẩy giá bất động sản ở các thành thị quá cao, cũng như gây ô nhiễm môi sinh và bất ổn trật tự trị an xã hội ở các thành phố lớn, vì nạn di dân từ nông thôn ra thành thị như Trung Hoa và Việt Nam.

Có thể nói, một thuận lợi to lớn đối với Hàn Quốc là không có biên giới với quốc gia nào khác ngoài Bắc Hàn và bờ biển. Đó là một yếu tố vô cùng quan trọng đã giúp Hàn Quốc trụ lại với Bắc Hàn và Trung Hoa. Nhưng đường lối của ông Park đã là nền tảng cho Hàn Quốc đi đến độc lập tự chủ, khi ông biết dựa vào dân và nâng tiềm năng vô tận của dân Hàn Quốc. Dù sau 16 năm cầm quyền độc tài - từ năm 1963 đến 1979 - của ông làm cho các phe nhóm chính trị đã thủ tiêu ông. Nhưng sau khi ông mất đúng 9 năm - từ 1979 đến 1987 - thì Hàn Quốc có một nền kinh tế mạnh và họ phải sửa đổi hiến pháp để có như hôm nay.

Có lẽ bà Park Geun Hye - Phát Cận Huệ con gái của ông Park Chung Hee - được nắm quyền tổng thống Hàn Quốc hiện nay là một sự tỏ lòng biết ơn của nhân dân Hàn Quốc đối với ông Park Chung Hee? Nó cũng giống như ông Bush con, đắc cử 2 nhiệm kỳ tổng thống thứ 43 của Hoa Kỳ, cũng là sự biết ơn của nhân dân Hoa Kỳ với ông Bush cha đã có công làm cho hệ thống cộng sản sụp đổ ở nơi nó sinh ra.

Khác với Hàn Quốc, các nước cộng sản đã bó ép sức dân bằng sở hữu công tư liệu sản xuất, và đặt nền kinh tế chủ đạo là kinh tế nhà nước, dưới một thể chế đơn nguyên tập quyền, để ăn chia cho chính khách. Và quy hoạch sai lầm gây ô nhiễm môi sinh, và đẩy văn hóa đến suy đồi, trật tự xã hội đi đến chỗ rối loạn, bất an.

Qua đó ta thấy, con đường thành công của Hàn Quốc là khoa học và đúng quy luật, khi một nhà độc tài xây dựng một xã hội trên cơ chế tản quyền, đa nguyên để rồi chuyển đổi một xã hội dân sự đúng lúc bằng một phẩm chất của một lãnh tụ trong sạch, liêm khiết, có tâm và có tầm nhìn xa như ông Park Chung Hee là hoàn toàn phù hợp cho những quốc gia muốn thoát cảnh nghèo nàn lạc hậu. Nó đáng để các quốc gia của thế giới thứ 3 noi theo.

Có một điều đáng buồn là, ở châu Á chưa có lãnh tụ nào cùng hoàn cảnh như bán đảo Triều Tiên có thể sánh bằng ông Park trong 100 năm qua. Và cái lớn nhất mà ông Park Chung Hee để lại cho dân mình là một nền tảng văn hóa sống và làm việc có trách nhiệm.

Asia Clinic, 13h55' ngày thứ Năm, 17/10/2013

Thứ Tư, 25 tháng 9, 2013

HỒ CHÍ MINH, HỒ TẬP CHƯƠNG VÀ CÒN CÁI GÌ NỮA?

Dưới đây là những lý giải của tác giả Vũ Thư Hiên - người đã từng tiếp xúc với cụ Hồ nhiều lần trong đời - viết về Hồ Chí Minh và Hồ Tập Chương trong cuốn "Hồ Chí Minh sinh bình khảo" là một sự bịa đặt vô lý. Bài này tác giả gửi cho tôi để biên tập lại hoàn chỉnh và phổ biến cho cộng đồng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh họp với Alexander N. Shelepin tại Hà Nội ngày 12/01/1966 để đề nghị viện trợ cho chiến tranh. Ảnh của tạp chí AP

Mới đây, nhà bất đồng chính kiến Phạm Quế Dương có nêu câu hỏi trên net: “Đề nghị làm sáng tỏ vụ việc: Hồ Chí Minh là người Việt Nam hay Đài Loan”?. Câu hỏi của ông thế này : “Gần đây, dư luận sôi động về việc Đài Loan xuất bản cuốn sách “Tìm hiểu về cuộc đời Hồ Chí Minh.” ( Hồ Chí Minh sinh bình khảo), do nhà xuất bản Bạch Tượng Văn Hóa ấn hành ngày 01-11-2008.Tác giả là Hồ Tuấn Hùng, giáo sư đã từng dạy học hơn 30 năm, tốt nghiệp trường Đại Học Quốc Lập Đài Loan, khoa lịch sử”... 

Đã có khói ắt có lửa đâu đó. Lửa đây là cuốn sách của giáo sư Hồ Tuấn Hùng nói trên (ít người được đọc nguyên bản) và bài “Một nghi án lịch sử Nguyễn Ái Quốc và Hồ Chí Minh: một hay hai người?” của bình luận gia Trần Bình Nam hết lời ca ngợi cuốn sách nọ (“Cuốn sách của ông Hồ Tuấn Hùng viết một cách có phương pháp, trưng dẫn tài liệu xác thực và kết luận một cách có tính khoa học”).

Mới đây, nhà bất đồng chính kiến Phạm Quế Dương có nêu câu hỏi trên net: “Đề nghị làm sáng tỏ vụ việc: Hồ Chí Minh là người Việt Nam hay Đài Loan”?. Câu hỏi của ông thế này : “Gần đây, dư luận sôi động về việc Đài Loan xuất bản cuốn sách “Tìm hiểu về cuộc đời Hồ Chí Minh.” ( Hồ Chí Minh sinh bình khảo), do nhà xuất bản Bạch Tượng Văn Hóa ấn hành ngày 01-11-2008.Tác giả là Hồ Tuấn Hùng, giáo sư đã từng dạy học hơn 30 năm, tốt nghiệp trường Đại Học Quốc Lập Đài Loan, khoa lịch sử”... 

Đã có khói ắt có lửa đâu đó. Lửa đây là cuốn sách của giáo sư Hồ Tuấn Hùng nói trên (ít người được đọc nguyên bản) và bài “Một nghi án lịch sử Nguyễn Ái Quốc và Hồ Chí Minh: một hay hai người?” của bình luận gia Trần Bình Nam hết lời ca ngợi cuốn sách nọ (“Cuốn sách của ông Hồ Tuấn Hùng viết một cách có phương pháp, trưng dẫn tài liệu xác thực và kết luận một cách có tính khoa học”).

Bài của bình luận gia Trần Bình Nam được cả chục web và blog đăng lại, hẳn có nhiều người đọc. Thú thật, tôi ngán các chuyện tầm phào nọ. Cái đề tài này rõ là tầm phào bên cạnh những chuyện tày trời đang làm nóng dư luận như các vụ xử án vô lối các bloggers, vụ Yên Mỹ, vụ nổ súng vì cưỡng chế đất ở Thái Bình, vụ chống cưỡng chế đất liên tục ở… khắp nơi.

Sở dĩ tôi thấy cần phải viết mấy dòng về nó là vì có nhiều bạn fb gửi nhời hỏi tôi: này, chuyện ấy thực hư ra sao hở ông? 

Là người chẳng phải giáo sư hay bình luận gia như hai ngài nói trên, thế tất ý kiến của tôi không thể có trọng lượng với tư cách người khảo cứu. Nó là ý kiến của dân thường, người nghe thấy có lý thì gật cho một cái khích lệ, thấy không ra gì thì phẩy tay cho qua. 

Tôi không biết nhiều về ông Hồ Chí Minh, tuy nhiên cũng đủ để thấy chuyện ông Hồ là người Tàu là chuyện tào lao. Mà chẳng phải chỉ mình tôi nghĩ thế. Nếu ông Hồ là người Tàu thật thì tất tần tật những ai từng gặp ông, từng làm việc với ông (có cả nghìn, cả vạn người đấy), tạm kể từ thời Quốc dân Đại hội Tân Trào 1945 cho tới khi ông qua đời năm 1969, hoá ra đều mù dở - khốn nạn, ông là Hồ Tập Chương đấy, là người Tàu đấy, người Khách gia đấy, thế mà không một ai phát hiện. 

Trước hết, ta hãy xem những tài liệu cũ còn được lưu xem Quốc tế Cộng sản (QTCS) đánh giá Hồ Chí Minh như thế nào vào thời điểm có tin về cái chết của ông? Những tài liệu này cho thấy vào thời điểm đó ông bị QTCS đánh giá thấp lắm. Thấp đến nỗi ban lãnh đạo QTCS phải cử Trần Phú, Ngô Đức Trì về Đông Dương để sửa chữa những sai lầm của Nguyễn Ái Quốc liên quan tới Hội nghị hợp nhất các đảng cộng sản (1930) do ông chủ trương. Tại Hội nghị TƯ tháng 10-1930, Trần Phú kịch liệt phê phán quan điểm chính trị và tổ chức của ông là “chỉ lo đến việc phản đế mà quên mất lợi ích giai cấp đấu tranh, ấy là một sự rất nguy hiểm…”

Sau đó, Trần Phú được cử làm Tổng bí thư, còn Nguyễn Ái Quốc chỉ còn được giữ chân liên lạc giữa VN và vài chi bộ Đông Nam Á với quốc tế. Thậm chí khi được tin Nguyễn Ái Quốc qua đời ở Hồng Kông, Hà Huy Tập còn viết: “Công lao mà ông đã đóng góp cho Đảng chúng ta thật là lớn. Song các đồng chí chúng ta trong lúc này không được quên những tàn dư dân tộc chủ nghĩa của Nguyễn Ái Quốc, các chỉ thị sai lầm của ông về những vấn đề cơ bản của phong trào CM…Ông đã không đưa ra bàn luận trước về những sách lược mà QTCS đòi hỏi phải áp dụng để loại bỏ những phần tử cơ hội trong Đảng.

Ngoài ra, ông Hồ Chí Minh còn khuyến dụ một sách lược cải lương và hợp tác sai lầm: trung lập hóa tư sản và phú nông, liên minh với trung và tiểu địa chủ”. Một người bị QTCS đánh giá như thế, thử hỏi QTCS tạo ra một người giả ông ta để làm gì? 

Lập luận của bình luận gia Trần Bình Nam: “Nhưng sau đó Quốc tế Cộng sản thầy cần người có uy tín như Nguyễn Ái Quốc để phát triển phong trào Cộng sản tại Đông Dương nên dấu nhẹm và tìm cách xóa dấu vết việc Nguyễn Ái Quốc chết và lên kế hoạch dùng phái viên của Quốc tế Cộng sản Hồ Tập Chương có khuôn mặt hao hao giống Nguyễn Ái Quốc và từng làm việc với nhau để làm sống lại nhân vật Nguyễn Ái Quốc”, rõ ràng không thuyết phục. Một câu hỏi khác cũng có người đặt ra: Ờ thì QTCS không làm việc ấy, nhưng nếu Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) làm thì sao? Để phục vụ cho mục đích bành trướng trong tương lai ở Đông Dương chẳng hạn?

Các chứng cứ lịch sử cho thấy ĐCS TQ vào thời kỳ đó rất yếu, thậm chí một địa bàn đủ an toàn cho Đại hội VI của nó (1928) trên lãnh thổ quốc gia cũng không có, phải mượn đất Nga để tổ chức tại Moskva. Cuộc chiến Quốc-Cộng khởi đầu năm 1927 đã buộc những người cộng sản Trung Quốc phải lui về nông thôn và hoạt động bí mật, thắng lợi to lớn nhất mà họ có được là chiếm thành phố Quảng Châu trong vẻn vẹn có 3 ngày để thành lập một Công xã Quảng Châu hữu danh vô thực.

Trong hoàn cảnh ấy, một Khổng Minh tái thế cũng không nghĩ tới việc cho ai đó đóng giả Hồ Chí Minh cho một tương lai trời không biết, đất không hay.

Như thế, QTCS không cần một Hồ Chí Minh giả, ĐCSTQ cũng không nghĩ tới việc ấy. Vậy ai cần, ngoài hai học giả nói trên?Chuyện những nhà cầm quyền độc tài thường sử dụng những người giống hệt mình để đóng thế trong những trường hợp phòng xa bị hành thích là có thật. Có Hitler giả, Stalin giả, Mao giả… nhưng người ta chỉ dùng người đóng thế cùng nòi giống, có diện mạo và hình thể giống người thật khi di chuyển, khi xuất hiện ngắn trước quần chúng, chứ người không cùng nòi giống như Hồ Tập Chương giả Hồ Chí Minh, lại đóng giả dài hạn nhiều năm, như thật, trong đời sống hàng ngày, thì chưa có tài liệu nào nói tới.

Trước hết, cái dễ phân biệt nhất giữa người thật với người giả là ở ngôn ngữ. Những người đã trưởng thành mới học ngoại ngữ dù cho thông thạo đến mấy cũng không thể nào sử dụng nó hoàn hảo như người bản địa được. Ta tính thử: Nguyễn Ái Quốc, năm 1932 đã qua đời vì bệnh lao (ông sinh năm 1890, tức lúc đó 42 tuổi), Hồ Tập Chương (sinh năm 1901, tức lúc đó 32 tuổi) được lập tức thay thế (cứ cho là đã có một viễn kiến không bình thường và ông này đã được dự trữ sẵn để thay thế), thì thời gian học tiếng Việt của Hồ Tập Chương cho tới khi mở lớp huấn luyện cho hội Thanh niên Cách mạng Đồng chí năm 1941 là 9 năm (giả định là chỉ có học tiếng mà thôi). Mở lớp huấn luyện cho nhiều người Việt thì không thể bằng một thứ tiếng Việt không thông thạo được.

Nhưng không một ai trong những người tiếp xúc với Hồ Chí Minh trong thời kỳ ấy tỏ ra nghi ngờ ông không phải người Việt. Không một ai trong những người Việt thuần, ở sát bên ông Hồ Chí Minh trong công việc hàng ngày trong cuộc kháng chiến chống Pháp (9 năm) như Phan Mỹ, Vũ Đình Huỳnh, Nguyễn Văn Lưu, Lê Văn Rạng, Lê Giản, Trần Duy Hưng, Trần Hữu Dực…, và rất nhiều người khác nữa, có một chút nghi ngờ ông Hồ Chí Minh không phải là người Việt.

Tôi từng gặp nhiều người có năng khiếu xuất chúng về sử dụng ngoại ngữ, trong đó có hai người Trung Quốc nói tiếng Việt rất thông thạo là Văn Trang và Lương Phong. Văn Trang đại diện cho phân bộ Hoa Nam ĐCSTQ liên lạc với ĐCSVN, Lương Phong là cán bộ ngoại giao, sau này xếp hàng thứ sáu tính từ Giang Thanh là số 1 trong cuộc Đại cách mạng Văn hoá Vô sản (thập niên 60 thế kỷ trước). Hai người này nói thạo tiếng Việt tới mức làm tôi ngạc nhiên. Nhưng đấy chỉ là cảm giác ban đầu, một lúc sau, khi câu chuyện mở rộng sang nhiều lĩnh vực khác, tinh tế hơn, tức thì họ ngắc ngứ, phát âm sai, hiểu sai.

Ngay trong những người Hoa thuộc những thế hệ ra đời ở VN, lớn lên trên đất Việt, sống chung với người Việt từ tấm bé, ta vẫn nhận ra những nét khác biệt nào đó để ta biết họ không có nguồn gốc Việt. Trong khi đó thì chưa một ai bắt gặp ông Hồ nói sai hoặc hiểu sai tiếng Việt. Còn hơn thế, ông còn có thể bắt bẻ những cán bộ dưới quyền khi họ dùng từ ngữ sai. Những ví dụ về chuyện này nhiều, xin miễn kể. 

Nhân vật Hồ Tập Chương của tác giả Hồ Tuấn Hùng là người Hakka (người Hẹ, hoặc Khách gia), là cán bộ hoạt động quần chúng của ĐCSTQ, chắc chắn phải nói được tiếng quan thoại (tiếng Bắc Kinh). Hồ Chí Minh (thật) thì lại không thông thạo tiếng ấy, và ông không giấu giếm điều này. Trong những cuộc gặp gỡ không trù liệu trước với các tướng Tàu như Lư Hán, Tiêu Văn, Long Vân… vào năm 1946, ông đều phải dùng bút đàm. Chuyện này nhiều người biết, và có được ghi lại đâu đó trong những hồi ký. Khi phải dùng quan thoại trong tiếp xúc ông thường phải dùng ông Nguyễn Văn Thuỵ (biệt hiệu Thuỵ Tàu) và Phạm Văn Khoa (biệt hiệu Khoa Tếu) làm phiên dịch. 

Còn nhiều, rất nhiều, chứng cứ khác bác bỏ luận chứng của ông học giả Hồ Tuấn Hùng về một Hồ Chí Minh giả.

Tôi có mặt trong buổi mừng thọ 60 tuổi ông Hồ Chí Minh tại thác Dẫng thuộc khu An toàn ở Việt Bắc, tôi lúc ấy 17 tuổi, mắt tinh, đầu tỉnh táo, xác nhận rằng hôm đó tôi đã gặp một người 60 tuổi thật, chứ không phải một người 49 tuổi là Hồ Tập Chương.

Tôi cũng xác nhận rằng trong thói quen ẩm thực ông Hồ Chí Minh là người thích ăn các món ăn Việt Nam như canh riêu, cá kho khô, cà Nghệ muối xổi… và chưa bao giờ đòi hỏi người nấu ăn cho ông phải làm bánh bao, màn thầu, tỉm xắm… hay là thứ gì khác gợi nhớ tới ẩm thực Trung Hoa.

Chắc chắn sẽ còn nhiều người viết về Hồ Chí Minh - chính khách liên quan tới nhiều lĩnh vực: những giai đoạn hoạt động chưa được làm sáng rõ, lý do gắn liền với những bí danh vô số kế của ông, những người đàn bà trong đời ông, công và tội của ông trong thời gian làm chủ tịch nước VNDCCH v.v… Nhưng đó là những chuyện khác, những đề tài khác. Theo tôi nghĩ, chuyện Hồ Chí Minh là người Tàu tên Hồ Tập Chương của học giả Hồ Tuấn Hùng là một tác phẩm giả tưởng tồi, không đáng để đọc, so với những chuyện giả tưởng của văn học Trung Quốc hiện đại như Ma Thổi Đèn, Mật Mã Tây Tạng…

Vũ Thư Hiên

Tư Gia, 20h18' ngày thứ Tư, 25/9/2013

Thứ Hai, 23 tháng 9, 2013

BA SÁCH LƯỢC CAI TRỊ TRUNG HOA CỦA MAO

Bài đọc liên quan:

Nghiên cứu về Mao Trạch Đông là việc rất nên làm. Vì công Mao với Trung Hoa được một vị đại tá Tân Tử Lăng viết trong cuốn Mao Trạch Đông ngàn năm công tội, liệt kê lắm công, nhưng tội nhiều hơn công. Theo tác giả họ Tân thì, bảy phần tội, chỉ ba phần công.

Nhưng để tổng kết những sách lược trị nước của Mao thì hình như chưa ai tổng kết ngắn gọn cho mọi người hiểu. Bài viết này tôi xin làm một cái tổng kết ngắn và đơn giản 3 sách lược "vĩ đại" của Mao trong cai trị Trung Hoa.

Khi Tôn Dật Tiên lật đổ nền phong kiến trị vì Trung Hoa hàng ngàn năm, và xây dựng nền cộng hòa với việc sao y bản chính của Hoa Kỳ và Pháp một thể chế tam dân. Nó là nền tảng để Mao gầy dựng chế độ cộng sản toàn trị trên đất nước có diện tích, dân số, lịch sử và văn hóa lớn hàng đầu thế giới này. Tuy ít học, nhưng khả năng tự học và đúc kết tư tưởng nhân loại của Mao có thể nói là vô địch thiên hạ.

Công lao của Mao với Trung Hoa không ai có thể chối cãi khi ông mở rộng lãnh thổ Trung Hoa lên gấp 3 lần so với triều đại phong kiến cuối cùng của thời nhà Thanh. Trong đó, một số sách lược đi kèm với mở rộng lãnh thổ Trung Hoa cũng không kém phần quan trọng. Ví dụ như, nếu sách lược Hoa Kỳ là chiếm lấy năng lượng để điều hành toàn cầu thì, Mao chiếm lấy nguồn nước của châu Á: Tây Tạng - nơi cung cấp đến 80% nước sạch cho các dòng sông ở châu Á - là sách lược vô cùng thâm độc để sai khiến lục địa này. Đó là chưa kể, bằng mọi giá phải hất Đài Loan của Tưởng Giới Thạch ra khỏi Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc, và Trung Hoa lục địa thay thế, và Trung Hoa phải có bom hạt nhân để có tiếng nói của mình trong những quốc gia điều khiển toàn cầu.

Nhưng tội của Mao không nhỏ với Trung Hoa và với nhân loại, khi 3 sách lược của ông được hầu hết các nhà độc tài trên toàn cầu học tập và áp dụng theo.

Sách lược cai trị Trung Hoa đầu tiên của Mao giúp ông thao túng quyền bính về tay mình ai cũng rõ là, súng đẻ ra chính quyền. Sau khi nắm lấy súng, ông làm đất nước Trung Hoa đảo điên với những chính sách hại dân, hại nước như Đại Nhảy Vọt làm chết đói đến 37,5 triệu dân nước này. Và với việc giữ lấy súng, ông thao túng chính trường và xã hội Trung Hoa đến lúc trút hơi thở cuối cùng trên giường bệnh, mà các cận thần của ông không dám có bất kỳ một hành động nào làm suy suyển quyền lực của ông. Nó được mô tả rất chi tiết trong cuốn, Mao cuộc đời chính trị và tình dục của bác sỹ riêng của ông - Lý Chí Thỏa.

Sách lược thứ hai của Mao, là nhằm tạo sự đoàn kết giả tạo trong đảng cộng sản cầm quyền. Bằng vào 2 cái phàm là của ông đưa ra, Mao đã làm nên một sự đoàn kết trong giới chóp bu cầm quyền Trung Hoa để chia phần miếng bánh. Hai cái phàm là của Mao rất đơn giản, nhưng vô cùng ghê gớm để mọi đảng viên đảng cộng sản ở Trung Hoa răm rắp tuân theo. Một là, Mao và đảng nói là đúng. Hai là, cán bộ của đảng phải có tỳ vết. Tỳ vết là cái để cán bộ luôn phải biết giữ gìn sự đoàn kết và trung thành tuyệt đối với đảng cầm quyền. Ai đi ra khỏi cái đường ray định hướng, chiến lược sẽ bị cái phàm là thứ hai nghiền nát.

Báo chữ to -  大自报 - của Mao chỉ đạo nhóm Hồng Vệ Binh thực hiện ở Đại Học Thanh Hoa để đánh Bành Đức Hoài và Lưu Thiếu Kỳ vào năm 1964

Và sách lược cuối cùng của Mao là, phát huy sách lược tuyên truyền của Joseph Goebbels đến tuyệt đỉnh - chân lý là hàng ngàn lần nói láo. Mao đã dùng báo chữ to để tiêu diệt đồng đảng như Lưu Thiếu Kỳ, Bành Đức Hoài, v.v... Mao đã dùng sách đỏ để tuyên truyền để nói láo làm ngu dân Trung Hoa từ thế hệ này sang thế hệ khác, và cả các Hồng Vệ Binh, mà ngày nay gọi là Dư luận viên. Bằng vào kết hợp 3 sách lược trên Mao đã tạo ra quanh mình những con rối công thần, thành những con sói biết ăn thịt người, và biến hơn 600 triệu dân Trung Hoa lúc bấy giờ là những con bò người để xẻ thịt khi cần.

Ba sách lược trên của Mao được ông sử dụng một cách có nghệ thuật cao trong chính trường Trung Hoa. Và ngày nay, tại Trung Hoa được các thế hệ kế tiếp áp dụng rất nhuần nhuyễn. Còn hơn thế nữa, các quốc gia chư hầu của Trung Hoa cũng áp dụng không thua gì mao. 

Và 3 sách lược ấy ngày nay được các thế hệ cầm quyền ở tại Trung Hoa và các chư hầu nâng tầm lên cao hơn Mao một bậc là, xưa Mao chỉ dùng cho riêng mình, thì nay nó được dùng cho quyền lợi nhóm. Vì để có một sức mạnh đủ để diệt một cá nhân dễ hơn nhiều lần diệt một tập thể hơn 80 triệu đảng viên như ở Trung Hoa.

Suy cho cùng, ngày nào nhân loại còn tư tưởng cai trị quốc gia dân tộc dã thú như tư tưởng của chủ nghĩa cộng sản thì, ngày ấy 3 sách lược của Mao vẫn còn đứng vững như bài phát biểu của giáo sư gần đây: cai trị ngàn thu và vạn thế hệ cũng không ngoa.

Asia Clinic, 9h46' ngày thứ Ba, 24/9/2013