nha ban quan tan binh | mua nha quan tan binh
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nhìn ra khu vực Asean. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nhìn ra khu vực Asean. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 8 tháng 6, 2014

BÀI HỌC LỊCH SỬ CẬN ĐẠI VỀ CHIẾN SÁCH VẾT DẦU LOANG CỦA TRUNG CỘNG ĐỐI VỚI VIỆT NAM

Bài đọc liên quan:
+ Kịch bản Mao Nixon thế hệ thứ hai
+ Ngoại giao bóng rổ lại nhớ bóng bàn
+ Bày binh bố trận
+ Biển Đông, Việt Nam, Trung Hoa và những trò chơi chính tri
+ Tư tưởng Khổng Khâu và kiếp chư hầu

Có những chuyện rất gần, ai cũng biết, nhưng không phải ai cũng nhớ, để có cái nhìn khách quan.

Năm 1974 trong cơn khủng hoảng của Việt Nam Cộng Hòa, thì Bắc Việt cộng câu kết với Trung Cộng, và Hoa Kỳ để Trung Cộng chiếm Hoàng Sa.

Năm 1988 khi nội bộ các phe phái của Lê Duẩn, Trường Chinh và những người cộng sản theo cải cách như Trần Xuân Bách, Trần Độ, Nguyễn Hộ đấu nhau, Liên Xô cắt viện trợ, nền kinh tế tự cung, tự cấp theo con đường Lý Ninh bao cấp sụp đổ, thì Trung Hoa chiến 7 đảo, bãi đá ngầm ở Trường Sa, trong đó có Gạc Ma.

Đau hơn nữa là, trong khi Trung Hoa chiếm Trường Sa thì chiến hạm Liên Xô đang ở biển Đông, và họ đang cai quản cảng Cam Ranh, nhưng họ vẫn làm ngơ để Việt Nam mất Trường Sa. Nhưng hôm nay Việt Nam vẫn cầu cạnh Nga, và mua vũ khí Nga để mong cầm cự với Trung Hoa trên biển Đông.

Năm 2014, khi các phe phái ăn chia không đều đấu nhau trên nghị trường đang còn hăng máu, và kinh tế suy sụp thì, Trung Cộng xây cái sân bay ở đảo Gạc Ma, hòng cai quản cả biển Đông, trong đó có Trường sa và Hoàng sa. Nhưng để che đậy việc xây sân bay, Trung Cộng quậy cái HD-981 ngay thềm lục địa Việt Nam, và lệnh cho biểu tình, cấm biểu tình trong nước Việt loạn xạ, nhưng vẫn giao thương với Việt Nam bình thường.

Theo VTV sáng nay- 09/6/2014 - mọi hoạt động xuất nhập khẩu giữa Việt và Trung cộng không những vẫn diễn ra bình thường, mà còn tăng hơn cùng kỳ năm ngoái 26% đối với nhập khẩu, và 30% đối với xuất khẩu.

Hôm trước, có bạn trẻ hỏi một câu hỏi, mà lịch sử chiến tranh Việt Nam vẫn còn bí ẩn, ít ai để ý, và cũng ít sách vở nào trong nước có câu trả lời thích đáng trong sự kiện Mỹ thả bom 12 ngày đêm hồi tháng 12 năm 1972 - kể từ ngày 18 đến ngày 29/12/1972 - như sau:

"Bác ơi cho cháu hỏi tại sao Mỹ lại ném Bom Hà Nội  vậy, lịch sử của cộng sản con ko tin lắm"

Tôi đã trả lời như sau,

Cục diện chính trường thế giới lúc đó đồng minh không thể bỏ rơi của Mỹ là Israel - Do Thái - đang đơn cô thế cô, chưa đủ mạnh để chống lại một cách trường kỳ với nhóm các quốc gia Hồi giáo vùng Bắc Phi và Trung Đông. Cuộc chiến 6 ngày với khối Ả Rập của Do Thái, những tranh chấp với phong trào khủng bố Palestine do Yeser Arafat học tập kiểu khủng bố ở các thành phố ở miền nam của Mặt trận Giải phóng miền Nam Việt Nam đang đe dọa nền an ninh quốc gia của Do Thái. Mỹ bắt buộc phải xoay trục từ Thái Bình Dương sang Trung Đông để đạt được 2 mục đích:

1. Nắm yết hầu năng lượng toàn cầu để chỉ huy thế giới với vai trò đại ca mà Mỹ đã nhận từ Anh vào cuối năm 1944.

2. Cứu nguy cho Do Thái, một đồng minh không thể bỏ.

Trước đó, Mỹ đã lừa nước đục thả câu khi LX và Trung Cộng hục hặc, hơn nữa Trung Cộng đang cơn chết đói sau đại nhảy vọt của Mao. Mỹ đi đêm với Romania và Pakistan suốt 3 năm để tiếp cận với Mao Trạch Đông, hòng kéo Trung Cộng về với mình để chống lại Liên Xô mới là đối thủ đáng ngại nhất, vì Liên Xô đã có bom hạt nhân. Trong khi đó, Trung Hoa chưa có bom hạt nhân, và bom hạt nhân của Trung cộng có được là do Liên Xô giúp đở.

Mục tiêu tiêu diệt Liên Xô mới là cái đích chính. Nếu thắng Bắc Việt thì Trung Cộng sẽ chống Mỹ mà quên đi thù hằn với Liên Xô và giành vai trò anh cả đỏ với LX. Hơn nữa, biên giới phòng thủ của Trung Cộng sẽ nằm sát ngay đít Trung Cộng nếu cả Việt Nam theo tư bản, trong khi đó đầu thì đang lo ngay ngáy Liên Xô xâm chiếm. Lúc đó Mỹ sẽ có 2 kẻ thù là cộng sản. Hơn nữa, chiến tranh trên bán đảo Triều Tiên đã cho Mỹ một bài học về việc tôn trọng phên giậu của Trung cộng.

Nên Mỹ phải buông VNCH như buông con tép để bắt con cá lớn là Liên Xô Đông Âu, và thị trường 1 tỷ dân Trung Hoa.

Sau 3 năm đi đêm, ngày 21/02/1972, Nixon gặp Mao để đưa ra Thông Cáo Thượng Hải với cái gọi là ngoại giao bóng bàn, quyết định 3 điều quan trọng:

1. Trung Hoa phải mở cửa chuyển đổi kinh tế để cho Mỹ đầu tư vào thị trường lao động rẻ mạt này, và chống Liên Xô để Mỹ đổi lại 2 việc sau,

2. Giao Đông Dương cho Trung Hoa cai quản.

3. Đồng ý Đài Loan thuộc Trung Hoa lục địa, nhưng Mỹ vẫn bảo vệ Đài Loan bằng cách còn bán vũ khí và xem là đồng minh của Mỹ.

Trước khi đi đến ký kết Hiệp Định Paris tháng 01/1973, Mỹ đã ném bom miền Bắc Việt Nam 12 ngày đêm để đạt 2 mục đích:

1. Đánh lừa Việt Nam Cộng Hòa chứng tỏ Mỹ không bỏ rơi đồng minh VNCH, hòng dụ dỗ VNCH ngồi vào bàn ký kết Hiệp Định Paris để Mỹ rút quân tránh sa lầy tại Việt Nam, chuyển trục sang Trung Đông.

2. Dằn mặt Trung Hoa rằng, tao có thể san thành bình địa bất cứ quốc gia nào bội ước với tao.

Nên cuộc đánh bom miền Bắc là có thật, và nó là bi kịch của người dân miền Bắc Việt Nam nói riêng, và cả dân tộc Việt Nam nói chung cho đến hôm nay sống trong ách đô hộ của cộng sản chưa thoát ra được. Nhưng bi kịch hơn nữa là, Mỹ không muốn thắng ở chiến trường Việt Nam, nên Mỹ ngưng thả bom vào ngày nước Mỹ nghỉ tết Tây. Vì thắng bắc Việt, thì Mỹ sẽ không đánh sụp được Liên Xô và Đông Âu vào năm 1990.

Cuộc ngoại giao bóng rổ năm 2011, và sau đó là một Nixon Mao 2.0 diễn ra năm 2013. Thay vì, cuộc ngoại giao bóng bàn tháng 4/1971 đã làm nên Nixon Mao 1.0 đi đến Thông Cáo Thượng Hải, thì Nixon Mao 2.0 - Obama Tập 2013 - có cái Thông cáo California mà chưa ai biết được.

Bề ngoài ngoại giao bóng bàn 1971 êm thấm với phần thắng thuộc về đội tuyển Trung Cộng. Hơn nữa, về mặt ngoại giao, anh đến thăm tôi là, anh cầu cạnh tôi. Và kết quả Trung Cộng đã thắng trên mọi phương diện từ bành trướng phên giậu hết cả Đông Dương và Miến Điện, Pakistan, sang cả Trung Đông và Bắc Phi như, Iran, Libya ... Trên mặt trận kinh tế, Trung Cộng phát triển vượt bậc nhờ biết dựa vào dân số đông, giá nhân công rẻ mạt, từ đầu tư trực tiếp từ nước ngoài, để đổi lạn bán môi trường tài nguyên bị ô nhiễm. Tính đến hôm nay toàn đất nước Trung Cộng có 28.000 con sông chết! Ngoại giao bóng bàn là để Hoa Kỳ rút klui trong danh dự chuyển trục từ Thái Bình Dương sang Trung Đông.

Hơi khác ngoại giao bóng bàn, ngoại giao bóng rổ là một cuộc ẩu đả giữa 2 đội bóng, nhưng Tập phải bay sang California để cầu cạnh Obama. Ngoại giao bóng rổ là để Hoa Kỳ rút khỏi Trung Đông quay lại Thái Bình Dương. Chuyện hậu trường của bóng bàn cũng hơn 20 năm sau thiên hạ mới rõ. Và dĩ nhiên, chuyện hậu trường bóng rổ cũng thế. Việc phải biết về hậu trường của bóng rổ, là việc của lãnh đạo của các quốc gia phên giậu của cả Hoa Kỳ và Trung Cộng phải cố mà tìm hiểu và biết, để đưa ra sách lược, chiến lược ngoại giao. Nếu không, lịch sử sẽ lập lại những gì đau thương, và mất mát cho người dân không đáng có.

Ông bà mình bảo: "Đi hỏi già, về nhà hỏi trẻ" là muốn nói, người già và trẻ con rất chân thật. Nghe hơn 1hrs đồng hồ phỏng vấn cụ Bùi Tín ngày 03/7/2014, nay ông đã 87 tuổi như một cuốn sử thi cho người trẻ

Nhưng rõ ràng, hễ khi kinh tế chính trị Việt vào khủng hoảng thì y như rằng Trung Cộng xâm lăng. Vết dầu của Trung Cộng cứ loang dần, loang dần, để hôm nay những cơ đồ, bờ cõi Ông Cha để lại dần co hẹp. Vì cha con chồng vợ trong nhà không thành một khối thì làm sao lo chuyện đối nhân xử thế với người đời?

Có lẽ, chưa có thời kỳ nào đất nước, và dân tộc Việt vẻ vang bằng thời Nhà Nguyễn mở mang bờ cõi, và cai trị 383 năm - 1558 - 1945. Bờ cõi và giang sơn nước Việt bị vết dầu loang Trung Cộng liếm dần kể từ khi cộng sản bành trướng từ Âu sang Á. Và chắc chắn, vết dầu đó, không chỉ ở trên bộ, trên biển như lâu nay, mà sẽ còn những vùng cấm bay sau khi sân bay ở đảo Gạc Ma xây xong và ngày 15/8/2014.

Asia Clinic, 13h37' ngày Thứ Hai, 09/6/2014

Thứ Sáu, 25 tháng 10, 2013

5 NĂM TỚI MIẾN ĐIỆN SẼ Ở ĐÂU?

Bài đọc liên quan:


Theo thông tin Reuter công bố hôm qua, dẫn lời của chủ tịch quốc hội Miến Điện - Shwe Mann - rằng, tổng thống Thein Sein quyết định không ra tranh cử nhiệm kỳ tới vào 2015. Đồng thời ông Shwe Mann cũng cho biết quốc hội quyết định sửa đổi hiến pháp, để mở đường cho bà Aung Kyi ra tranh cử tổng thống.

Trong một bài viết cách đây 18 tháng của tôi - Chuyện Đông, chuyện Tây và chuyện nước Việt, tôi có viết, cùng năm 1990 ở Việt Nam và Miến Điện có hai sự cỡi trói lớn. Miến Điện cỡi trói về chính trị để làm nền tảng cho kinh tế bắt đầu mở cửa 2 năm qua. Họ giữ được văn hóa, tài nguyên còn nguyên vẹn. Trong khi đó, Việt Nam cỡi trói kinh tế, mà không thay đổi thể chế chính trị đơn nguyên tập quyền. Và Việt Nam đã có những phát triển rõ nét, nhưng phải trả giá bằng cách đổi tài nguyên, môi trường, văn hóa để có kinh tế tư bản hoang dã hôm nay. Trong khi Miến Điện từng bước thoát Trung Hoa, thì Việt Nam ngược lại trói mình vào Trung Hoa đúng cái mốc 100 tuổi của cụ Hồ.

Trước khi rút lui khỏi chính trường ông tổng thống Thein Sein ở Miến Điện làm 3 việc lớn: dời đô từ Rangoon sang Naypyidaw; Cỡi bỏ mọi đàn áp phe đối lập, thả tù nhân chính trị và đưa xã hội Miến Điện trở thành một xã hội dân chủ thực sự bằng hành động cho hoạt động tự do báo chí tư nhân, cũng như sửa đổi hiến pháp theo tinh thần đa nguyên tản quyền.

Cũng thì rút khỏi chính trường, nhưng ông cố tổng bí thư Nguyễn Văn Linh ở Việt Nam đã kịp thời mang bầu đoàn thê tử sang Trung Hoa ký kết ràng buộc Hội nghị Thành Đô 1990. Hiến pháp nước Việt đưa thêm điều 4 độc tôn cai trị cho đảng cộng sản ở Việt Nam. Tước hết mọi quyền tự do dân chủ ở Việt Nam bằng nghị định và nghị quyết của đảng cầm quyền. Cho nên hôm nay con chiên của đảng cầm quyền trở thành mọt nước sâu dân, văn hóa suy đồi, kinh tế sụp đổ, chính trị hỗn man, và đang chờ ngày diệt vong.

Cho tới nay, thế giới kinh ngạc về sự chuyển đổi của Miến Điện. Cuộc chuyển đổi này được ví còn hơn cả những cuộc cách mạng nhung diễn ra ở Đông Âu. Hầu hết các nhà nghiên cứu đều tập trung nghiên cứu vấn đề của Miến Điện, để làm ra một mô hình cho các quốc gia đơn nguyên, tập quyền và chậm phát triển. Hàng loạt Workshop ở Liên Hiệp Quốc dành cho những sinh viên ưu tú toàn cầu hằng năm đưa Miến Điện ra để cho nghị trình Model United Nations cho các lãnh đạo tương lai.

Một câu hỏi đặt ra là, với một nền văn hóa phương Đông, thì cái gì làm nên một Miến Điện có được cuộc cách mạng xã hội êm thắm để thoát ra khỏi chế độ quân quản tập quyền, và thoát được Trung Hoa? Có những kết luận rút ra rất xác đáng làm tất cả mọi người có lương tri phải suy nghĩ, rằng để có một Miến Điện chuyển đổi tốt đẹp như hôm nay cần có những điều kiện tiên quyết sau:

Thứ nhất là về kinh tế Miến Điện phải đi đến cùng cực như những năm cuối thập niên 2000s. Chính nó là động lực bắt buộc lãnh đạo độc tài quân phiệt của Miến Điện buộc lòng phải chuyển đổi.

Thứ hai là về chính trị, trên nền tảng một chế độ chính trị tập quyền quân quản, nhưng Miến Điện vẫn giữ hình thái đa nguyên chính trị trong suốt từ sau 1975 đến nay. Nó giúp cho các đảng phái chính trị vẫn tồn tại, dù bị đàn áp, nhưng càng đàn áp càng tạo uy tín cho họ.

Thứ ba là, vấn đề con người then chốt. Nếu bên đảng phái đối lập có một quý bà thép đầy trí tuệ và hàn lâm Aung Kyi được sự trợ giúp hết mực của chồng, đã can đảm đứng ra trước lằn tên mũi đạn để tạo nên một đối trọng, thì bên nhóm tập đoàn độc tài quân phiệt cũng có một Than Shwe quyết định dời đô và cho phép đa nguyên chính trị, sau đó một Thein Sein tiếp bước, để chuyển xã hội Miến Điện đi từ tập quyền quân phiệt sang một xã hội dân sự văn minh dân chủ.

Cuối cùng là, vấn đề góp sức từ bên ngoài. Hành động cấm vận của Hoa Kỳ và phương Tây, rồi sau đó xóa cấm vận nhanh chóng đã giúp góp phần rất lớn để có một thay đổi tư duy của tầng lớp lãnh đạo tập quyền quân phiệt ở Miến Điện. Sự chuyển đổi của Miến Điện buộc lòng các lãnh đạo lớn thế giới phải thân chinh đến thăm để nắm bắt thời cơ làm ăn, quan hệ, trong đó có tổng thống Hoa Kỳ, thủ tướng Anh, chủ tịch Liên minh Châu Âu, và kể cả chủ tịch Trung Hoa, mặc dù, Miến Điện đã thoát ra khỏi Trung Hoa bằng hành động từ chối dự án 2,5 tỷ đô la cho hệ thống dẫn dầu xuyên vịnh Bengan qua Miến Điện về Vân Nam.

Nhìn lại Miến Điện ta thấy, vấn đề cốt lõi cho chuyển đổi của đất nước này là vấn đề bên trong nội tại đất nước là chính yếu. Sự góp sức của bên ngoài chỉ là chất xúc tác cho một dây chuyền phản ứng đang diễn ra. Và yếu tố con người đủ khả năng độc thâu tóm quyền hành chịu chuyển đổi tư duy. Dĩ nhiên Phật giáo là quốc giáo cũng đóng vai trò không nhỏ cho hành động vị tha, gác bỏ quá khứ nhìn về tương lai của các phe đảng chính trị cũng góp phần quan trọng cho chuyển đổi, khi bà Aung Kyi tuyên bố, miễn truy cứu tội lỗi của chính quyền Than Shwe.

Với một nền chính trị đi đúng quy luật khoa học xã hội về mặt triết học, các quy luật mâu thuẫn, đối lập và phát triển đang giúp đất nước Miến Điện nở hoa từng ngày.

Một nền chính trị động và bền vững, nhân bản hiện nay của Miến Điện sẽ là nền tảng tốt cho kinh tế Miến Điện không bao lâu nữa sẽ vượt ra khỏi đói nghèo, và thịnh vượng, ở một quốc gia mà nó đã từng là số 1 khu vực Đông Nam châu Á chỉ sau Nhật Bản ở Châu Á vào 2 thập niên 1960 và 1970s.

Có người cho rằng phải 10 năm nữa Miến Điện sẽ bắt kịp kinh tế Việt Nam, nhưng qua theo dõi, tôi cho rằng, chỉ 5 năm tới thôi Miến Điện có thể đứng vào hàng ngũ phía trên của 11 quốc gia Asean.

Asia Clinic, 10h20' ngày Thứ Bảy, 26/10/2013

Thứ Tư, 18 tháng 9, 2013

NƯỚC MẮT CHÍNH TRỊ GIA

Bài đọc liên quan:
+ Hôn quân và minh quân trong chính trị Thái Lan
+ 50 năm và 67 năm
+ Tội ác thiên niên kỷ
+ Báo cáo của diễn đàn kinh tế thế giới tháng 9/2013

21h30' ngày 16/9/2013 vừa qua là ngày sinh nhật lần thứ 90 của một vĩ nhân của thế kỷ XX - Ông Lý Quang Diệu. Kênh truyền hình Discovery đã chiếu lại bộ phim tài liệu về sự thành công của Ông Lý và lịch sử đất nước Singapore 50 năm qua. Hôm ấy cũng là ngày mà con trai Ông - Lý Hiển Long đương kim thủ tướng Singapore thế hệ thứ 3 - động thổ cho khu công nghiệp Việt Sing thứ 5 tại Việt Nam ở Dung Quất. Nó chứng tỏ Singapore đã là một nền kinh tế hùng cường trong khu vực.

Nói về Ông Lý, thì không ai chối cãi sự thành công của Ông với vai trò nhạc trưởng của đất nước nhỏ bé, chỉ bằng 1/3 diện tích Sài Gòn - 710km2 so với 2.095km2, dân số chỉ bằng 70% dân số Sài Gòn. Nhưng Sigapore có một thuận lợi cũng như thách thức to lớn về địa chính trị, mà bất kỳ người dân hay chính trị gia nào cũng mơ ước, khi nó án ngữ eo biển Malacca và tách khỏi Trung Hoa lục địa, mà lại nằm ở chung bán đảo Mã Lai Á.

Nếu kiểm chứng toàn bộ bộ phim trên Discovery so với bản chính cuốn sách From Third Wordl to First của Ông Lý viết về Singapore và về mình, thì có một chi tiết khác nhau khá thú vị. Nước mắt của ông vào ngày 09/8/1965, khi Thủ tướng Mã Lai Á lúc bấy giờ là Tunku Abdul Rahman, tuyên bố Quốc hội Mã Lai Á thông qua quyết định cắt đứt quan hệ với tiểu bang thứ 14 của nước này - Singapore - ra khỏi Liên Bang Quân chủ Malaysia. 

Trong phim có một chi tiết Ông Lý Quang Diệu đã khóc trước toàn dân Singapore và lời bộc bạch trong nuối tiếc rằng: "Đối với tôi, đây là một khoảnh khắc đau thương. Suốt cuộc đời tôi, suốt cuộc đời trưởng thành của tôi, tôi luôn tin tưởng vào sự kết hợp và thống nhất của hai vùng lãnh thổ... Ngay lúc này, tôi, Lý Quang Diệu, Thủ tướng Singapore, nhân danh nhân dân và chính quyền Singapore, tuyên bố rằng kể từ hôm nay, ngày 9 tháng 8 năm 1965, Singapore sẽ vĩnh viễn là một quốc gia độc lập, dân chủ với đầy đủ chủ quyền, lập nền trên những nguyên lý của quyền tự do và công bằng hầu mưu tìm phúc lợi và hạnh phúc cho nhân dân đang sinh sống trong một xã hội tối hảo, công bằng và bình đẳng."

Tuyên ngôn độc lập của Singapore đơn giản chỉ có vậy và dòng nước mắt của Ông khi đọc những lời trên.

Nhưng trong sách của Ông Lý thì, ước mơ thoát khỏi cuộc chiến sắc tộc, tôn giáo và dưới sự kiểm soát quân đội của Mã Lai Á đối với Singapore là một mong muốn, mà Ông luôn thường trực trong lòng, từ khi ông lên nắm cương vị Thủ tướng Singapore do dân bầu vào ngày 01/6/1959.

Có nhiều lý do Ông Lý Quang Diệu muốn Singapore tách ra khỏi Mã Lai Á. Trong đó, an ninh cho bản thân ông là một yếu tố quan trọng hàng đầu. Yếu tố thứ hai cũng cực kỳ quan trọng là vấn đề Singapore phải chịu sự đô hộ của Mã Lai Á. Và cuối cùng là, cuộc chiến tranh sắc tộc của người Mã Lai không muốn tiểu bang có 2 triệu dân lúc ấy của Singapore hầu hết là người Hoa chung sống với họ.

Nhưng lý do làm Ông Lý buồn lòng khi phải tách ra khỏi Mã Lai Á là có thể mất đi một thị trường lớn đông dân của 13 bang Mã Lai Á lúc bấy giờ. Một câu hỏi lớn đối với ông là, làm sao giải quyết công ăn việc làm của 2 triệu dân Singapore, sau khi ông Lý kết hợp với đảng cộng sản Singapore để đấu tranh đuổi thực Dân Anh giành độc lập. Rồi sử dụng người Anh để tiêu diệt đồng đảng cộng sản ở Singapore, mà ông cho là thành phần nguy hiểm sẽ làm cho Singapore chậm tiến.

Qua đó cho thấy, tư duy của Ông Lý đối với đất nước non trẻ Singapore là xây dựng một thể chế chính trị, làm sao để biến Singapore là một trung tâm kinh tế tài chính hàng đầu Đông Á, làm sao bắt kịp và thay thế Hongkong. Nhiệm vụ đó Ông đã hoàn thành trong 31 năm - từ 1959 đến 1990. Đến năm 1990 Ông thoái vị và trao nhiệm vụ mới cho thế hệ kế thừa là, biến Singapore thành một trung tâm khoa học kỹ thuật và sáng tạo ở Đông Á.

Cho đến nay, tuy là một đất nước nhỏ bé có diện tích chỉ bằng 1/3 Sài Gòn. Mộng ước của Ông biến Singapore trở thành Hòn Ngọc Viễn Đông đã vượt tầm. Và trường National Singapore University đã đứng vào top 30 thế giới - cụ thể là xếp hạng thứ 22 năm 2013 này. Một thứ hạng đang sánh vai với các trường đại học hàng đầu của Hoa Kỳ, Anh, v.v.. như Cornell University một trong những IVy League của Hoa Kỳ, và như London School of Economics and Political Science, ngôi trường chuyên đào tạo ra những lãnh tụ hàng đầu thế giới của Vương Quốc Anh, nơi mà ông đã từng theo học.

Trong khi đó, Việt Nam đang chiến lược dân vận vĩ đại thời kỳ mới của đảng cầm quyền là, phấn đấu đạt chỉ tiêu đến 99% các sinh viên đại học có học chương trình nghị quyết của đảng cầm quyền vào năm 2016, cho sự nghiệp giáo dục của đảng cầm quyền, để đưa Việt Nam trở thành nước công nghiệp hóa vào năm 2020, thì chưa có trường đại học nào ở Việt Nam nằm trong top 400!

Tất cả những điều trên cho thấy, với một kiến thức luật sư bài bản từ Luân Đôn, và kiến thức kinh tế đang học dang dở nửa chừng cũng tại Luân Đôn, Ông Lý đã biết sử dụng nước mắt chính khách để khai sinh vùng đất mà trước đó Stamford Raffles đã tìm ra, và biến nó thành nơi giao lưu buôn bán Đông Tây sầm uất vào năm 1819.

Cũng thì nước mắt chính trị gia, nhưng nước mắt của ai đó, trong cải cách ruộng đất năm 1957 dùng để lừa gạt dân tộc mình, làm thân tay sai ngoại bang vì tiền đồ chính trị cho riêng mình. Nhưng nước mắt của Lý Quang Diệu thì khác, nó qua mặt một chính phủ lớn mạnh hơn Singapore gấp hàng trăm lần, để mang lại cho người dân Singapore tự lực, tự cường và có thu nhập đầu người đang đứng hàng đầu thế giới - 50.323USD/đầu người vào 2012.

Một câu nói đáng ghi vào sử sách của Ông Lý trong bộ phim này mà tôi nhớ mãi là: "Bạn đừng nên làm chính trị nếu bạn có ý định tham nhũng". Ông đã quy định tất cả thành viên nội các Singapore mang trang phục trắng khi tham chính, để chứng tỏ sự trong sạch bằng hành động. Một vấn đề mà nước Việt hôm nay đang có thể lao vào vực thẳm, nhưng không thể giải quyết được. Điều mà Ông Lý đã làm được trong suốt sự nghiệp chính trị của mình, và tạo ra một đất nước, mà nơi ấy là quê hương thứ hai của ông trở thành nơi mà, mọi người dân sống và làm việc trong một không khí chính trị trong sạch vào bậc nhất toàn cầu.

Asia Clinic, 14h36' ngày thứ Tư, 18/09/2013

Thứ Sáu, 28 tháng 6, 2013

THOÁT TRUNG LUẬN 1

Bài đọc liên quan:

Nhìn lại lịch sử cận đại của thế giới và Việt Nam, cũng như khu vực Đông Nam châu Á, địa chính trị, và cơ hội chúng ta thấy gì? Hãy điểm nó lại một cách khách quan để nhìn nước Việt đến vài thế kỷ tới xem sao? Đó là mục đích của bái viết này.

Địa chính trị và lịch sử

Các quốc gia Đông Nam Á khác, như Nam Dương(Indonesia) và Mã Lai Á nhờ địa lý tách ra khỏi bán đảo Đông Dương, nên bị thực dân Âu châu nhảy vào sớm hơn, từ đầu thế kỷ XVI. Cụ thể là Mã Lai Á thì Hà Lan bước chân vào năm 1511. Nam Dương cũng được Bồ Đào Nha đặt chân đầu tiên vào năm 1512. 

Miến Điện, một quốc gia có đường biên giới với Trung Hoa, nhưng gần với Ấn Độ và tiếp giáp giữa Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương cũng phải đến đầu thế kỷ XIX mới bị người Anh xâm chiếm ra khỏi sự quan tâm của Trung Hoa.

Ngay cả Ấn Độ có cùng đường biên giới hiểm trở với Trung Hoa, mà Ấn Độ là một nước lớn, nhưng cũng mãi đến khi Trung Hoa suy yếu vào cuối đời nhà Thanh thì các cường quốc châu Âu gồm: Bồ Đào Nha, Hà Lan, Anh và Pháp mới có thể xâu xé Ấn Độ vào cuối thế kỷ XVIII.

Cũng có địa chính trị cùng đường biên giới với Trung Hoa là bán đảo Đông Dương, nên cũng chịu dưới sự quan tâm đặc biệt của Trung Hoa từ ngàn năm trước.

Lịch sử Việt Nam đúng chỉ có khoảng 2.600 trăm năm, trong đó hơn ngàn năm bị đô hộ giặc Trung Hoa. Trong những khoảng trống không bị đô hộ đó, Việt Nam chưa bao giờ độc lập với Trung Hoa, mà phải quan hệ kiểu thiên triều và chư hầu, theo dạng triều cống và lãnh ấn chỉ chủ dụ từ Trung Hoa. 

Chỉ có một giai đoạn duy nhất từ giữa thế kỷ thứ XIX, khi cuối triều nhà Thanh suy yếu, Trung Hoa bị chia năm xẻ bảy bỡi các cường quốc châu Âu: Hà Lan, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Anh Quốc và kể cả Nhật Bản, lúc ấy Việt Nam mới bị sự dòm ngó của Pháp và xâm lược Đông Dương.

Khi Trung Hoa có nền Cộng Hòa xuất hiện do Tôn Trung Sơn lãnh đạo vào năm 1912, cũng là lúc suy thoái kinh tế toàn cầu 1929 - 1933 ập đến. Ba thập kỷ người Trung Hoa có nhiều nội loạn, vả lại chịu dưới sự xâm lược của người Nhật. Nên Trung Hoa không đủ sức dòm ngó đến Đông Dương và Miến Điện.

Sau chiến tranh thế giới II, người Pháp thất trận, Trung Hoa thành lập 1949, cũng là lúc họ bắt đầu quan tâm đến Đông Dương. Dù họ còn rất yếu do nhiều lý do khách quan và chủ quan của cách cai trị của Mao, nhưng Trung Hoa đủ mạnh để tranh đoạt bá vương và cùng với Hoa Kỳ để đi đến Thông Cáo Thượng Hải 1972 ăn chia Đông Dương và khu vực, cũng như toàn cầu.

Sau 30/4/1975, có một giai đoạn ngắn đến 1990, Việt Nam không bang giao với Trung Hoa nhờ vào sức mạnh của Liên Xô. Nhưng khi Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, thì Hội Nghị Thành Đô lại làm cho Việt Nam trở lại thời kỳ bằng mặt, nhưng không bằng lòng với Trung Hoa. Hiện nay thì ai cũng thấy rõ ràng chính sách ngoại giao đa phương - dĩ bất biến ứng vạn biến của Tôn Tử - đang là cách mà nước Việt đang đương đầu với Trung Hoa.

Cơ hội

Qua những điều đã điểm ra ở trên, cho ta thấy các nước nhỏ quanh Trung Hoa có cùng biên giới rộng lớn với họ đều được họ xem là vùng đệm và chư hầu trong quan hệ ngoại giao.

Điều đáng lo lắng nhất với các quốc gia cùng biên giới với Trung Hoa là, không bao giờ Trung Hoa muốn các quốc gia này hùng mạnh để dễ bề thao túng và cai trị. Hãy điểm lại mà xem, Việt, Miên, Lào, Bắc Hàn, Mông Cổ, Bắc Hàn, Hồi Quốc Pakistan. 

Và kể cả Miến Điện, một quốc gia hùng cường vào 2 thập niên 1960s và 1970s nhưng cũng bị Trung Hoa chi phối làm cho kiệt quệ, và chỉ mới đổi mới xoay chuyển chính trị bằng cách chuyển dời, xây dựng thủ đô mới để tránh những bí mật quốc gia bị tiết lộ với Trung Hoa mới từ chối được cái dự án 2,5 tỷ đô la làm đường ống dẫn dầu từ Yangon đến Vân Nam, và thay đổi thể chế chính trị triệt để tách khỏi Trung Hoa như hôm nay. Một sự thay đổi Miến Điện mà thế giới kinh ngạc, nhưng là bài học Thoát Trung Luận cho Đông Dương nói chung và Việt Nam nói riêng.

Báo cáo kinh tế thế giới của Ngân Hàng Thế Giới vào ngày 13/6/2013 cho thấy nợ tư trong nước của Trung Hoa cao nhất thế giới, lên đến 160% GDP. Việt Nam cũng không khá hơn với 110% GDP của nợ tư trong nước. Nhiều chuyên gia kinh tế trong và ngoài nước đang dự đoán một Trung Hoa hạ cánh nặng nề, và một tia hy vọng sáng sủa cho các quốc gia quanh khu vực có thể làm cuộc Thoát Trung Luận với Trung Hoa mà, lâu nay theo kiểu ngoại giao họ luôn tự cho mình là thiên triều.

Sự suy yếu của Trung Hoa trong những năm tới là có thực, không mơ hồ, do nền kinh tế định hướng xã hội chủ nghĩa mang màu sắc Trung Hoa gây ra không chỉ ở Trung Hoa mà ngay cả ở Việt Nam sau khi sao chép 23 năm qua. Dù khó khăn, nhưng đó là cơ hội cho Việt Nam rất lớn để làm cuộc Thoát Trung Luận.

Nhìn lại lịch sử cận đại của Việt Nam và Trung Hoa, thời nhà Nguyễn kéo dài 143 năm - từ 1802 đến 1945 - đất nước Việt hùng cường nhất mọi thời đại. Bở cõi được mở rộng đến Mũi Cà Mau, Hoàng Sa Trường Sa vững vàng không sợ họa xâm lăng, mà còn dẹp được khu vực phía Nam của người Hoa Minh Hương trấn giữ. Chúng ta không phải lệ thuộc Trung Hoa cũng một phần lớn là khi đó nhà Thanh suy tàn, và nhà Nguyễn của ta có chiến lược ngoại giao khôn khéo với cả các lâng bang và cả với thực dân châu Âu. Điều này lịch sử cần nhìn nhận trung thực và công bằng với nhà Nguyễn. Như vậy, chúng ta đã Thoát Trung rồi, sau khi Quang Trung thay đổi chữ viết từ Hán sang Nôm, thì Nhà Nguyễn thoát theo. Sao giờ này ta lại phải chịu một lần nhục cho tổ quốc và dân tộc?

Bài học và phương án Thoát Trung Luận

Từ thế kỷ XIX ở Nhật Bản, có ông thầy giáo Fukuzawa Yukichi đã viết và đưa ra chiến lược Thoát Á Luận. Các vị minh quân của nước Nhật đã đi theo và họ đã thành công như hôm nay, một phần nhờ địa chính trị. Nhưng có một quốc gia khác có địa chính trị giống Việt Nam - Miến Điện - họ đã và đang làm cuộc Thoát Trung Luận đến nay rất tốt.

Có thông tin cho rằng sở dĩ Miến Điện thoát được Trung Hoa là nhờ họ dời trung tâm hành chính quốc gia từ thủ đô cũ là thành phố Yangon đến Naypyidaw là do những trung tâm hành chính quốc gia Miến Điện dưới thời Thein Shwe là do Trung Hoa viện trợ và xây cất. Họ phải dời đô vào nơi an toàn, để bảo mật quốc gia, sau đó mới tính chuyện chuyển đổi thể chế chính trị, thì mới an toàn cho đất nước họ và Thoát Trung Luận mới thành công. 

Liệu rằng, những cơ sở hành chính quốc gia Việt được Trung Hoa giúp xây dựng thời chiến tranh có đảm bảo bí mật quốc gia?

Năm 2010, ở Việt Nam rộ lên việc di dời trung tâm hành chính quốc gia ra khỏi Ba Đình, nhưng một số thành phần ưu tú và trí thức Việt Nam lại cho là sai lầm. Rồi mọi chuyện rơi vào quên lãng.

Hôm nay, tình hình nước Việt như ngàn cân treo sợi tóc - kinh tế xem như đang trên đà sụp đổ hoàn toàn, chính trị rối ren vì nạn bè phái tranh ngôi đoạt vị - mà chuyện quốc sự quan trọng nhất là làm sao Thoát Trung Luận, thì đất nước mới mong thái bình, dân tộc mới mong thịnh vượng và độc lập tự chủ.

Trong lúc kinh tế khó khăn, chuyện xây dựng trung tâm hành chính quốc gia mới là điều nên làm, để vực nền kinh tế và tạo công ăn việc làm cho xã hội. Một công đôi việc vừa vực nền kinh tế quốc gia, vừa giúp cho tiến trình Thoát Trung Luận đẹp cả đôi bề.

Lý thuyết nhị nguyên luận trong triết học đã được người Mỹ áp dụng trong việc tạo ra hình thái chính trị xã hội cho một hời kỳ mới mà họ gọi là trật tự mới cho những thời đại tiếp theo rất thành công. Âm dương, nước lửa, trời đất, phá và xây, v.v... Cộng hòa và Dân chủ là 2 trường phái để xây dựng Hoa Kỳ ngày nay theo Nhị Nguyên Luận rất triết học và rất thành công. 

Người dân Việt hiếu hòa, không ai muốn và cũng chưa có lực lượng nào đủ sức để giành quyền lãnh đạo với đảng cầm quyền hiện nay. Đừng nên xem dân mình là thù địch vì quyền lợi cá nhân. Đã đến lúc cần phải tách đôi đảng cộng sản ra làm 2 đảng và cần một hành động cụ thể như Miến Điện để làm cuộc Thoát Trung Luận hoàn hảo, khi cơ hội bắt đầu hé mở ở chân trời - đó là một Trung Hoa đang và sẽ suy yếu. Thiên thời, nhân hòa lòng dân muốn và chỉ còn việc tạo ra địa lợi để biết chớp lấy thời cơ. Nếu không, 300 năm hay 1.000 năm nữa quan hệ Trung - Việt vẫn theo kiểu mà ngàn năm trước không thay đổi.

Đọc tiếp: phần 2phần 3 và phần 4

Asia Clinic, 18h38' ngày thứ Sáu, 28/6/2013

Thứ Sáu, 3 tháng 5, 2013

HỔ GIẤY TRUNG HOA

Bài dịch của Chu Giang Sơn

Bài viết gốc: Paper Tiger từ Foreign Policy

Bài viết của ông David Kang hiện đang là giáo sư về quan hệ và kinh doanh quốc tế tại Southern California University

Tại sao những nước châu Á không sợ Trung Hoa?

Liệu có sự căng thẳng đang gia tăng ở châu Á? Chắc chắn là sự căng thẳng ấy vẫn đang hiển hiện ở đây. Ít tháng  trước Bắc Triều Tiên đã tiến hành thử hỏa tiễn tầm xa và đe dọa Hoa Kỳ bằng chiến tranh hạt nhân. Trung Hoa thì vẫn đấu khẩu với Nhật Bản về chủ quyển của mấy quần đảo tranh chấp, và tranh cãi với vài nước Đông Nam Á về các bãi đá có người ở trên biển Đông. Trong khi đó, Hoa Kỳ vẫn tiếp tục chiến lược then chốt ở Đông Á mà đã được quảng bá rất tốt và liên tục nỗ lực gia tăng sức mạnh quân sự trong vùng.

Tuy nhiên trong năm 2012, chi phí quân sự ở Đông Á của Hoa Kỳ là ở mức thấp nhất trong vòng 25 năm, và cũng gần như là thấp nhất trong vòng 50 năm (mặc dù các số liệu từ trước năm 1988 còn bị nghi ngờ). Còn quá sớm để nói rằng nó là nhân tố gây ra căng thẳng gần đây, khi sự trỗi dậy của Trung Hoa đã sắp đặt lại khu vực sau hơn hai thập niên, các nước Đông và Đông Nam Á dường như không có phản ứng lại bằng việc tăng cường sức mạnh quân sự của họ. Nếu có một cuộc chạy đua vũ trang trong vùng thì đó là cuộc chạy đua đơn độc của Trung hoa.

Chi phí quân sự đã phản ánh nhận thức về mối đe dọa an ninh của các nhà nước, và cho thấy họ đã lên  kế hoạch cho các tình huống bất ngờ cả ngắn hạn và dài hạn. Trong lúc có mối đe dọa từ bên ngoài, quyền ưu tiên cho quân đội đứng trước các ưu tiên nội địa khác, như các dịch vụ kinh tế - xã hội khác. Trong thời kì hòa bình, các quốc gia sẽ dành phần nhiều kinh tế hơn  cho các nhu cầu nội địa. Cách tốt nhất để đo lường phí tổn quân sự là số phần trăm của nó trong tổng GDP, bởi vì cái này phản ánh một quốc gia có khả năng chi tiêu bao nhiêu. Năm 1988, khi chiến tranh lạnh đã hạ nhiệt, sáu nước Đông Nam Á đã dành khoảng gần 3,5% GDP cho chi tiêu quân sự. (Các dữ liệu này được lấy từ Viện nghiên cứu hòa bình quốc tế Stockholm, một nguồn dữ liệu tin cậy nhất của dữ liệu quân sự toàn cầu, mà  những số liệu quân sự toàn cầu đã được xuất bản năm 1988).

Vào năm 2012, con số này đã giảm xuống còn dưới 2% của GDP. Việt Nam, mặc dù vẫn đang căng thẳng với Trung Hoa trên biển, nhưng đã giảm chi phí quân sự xuống mức bất ngờ nhất, 2,4% trong năm 2012, từ 7,1% của GDP vào năm 1988. Cũng vào năm 1988, một Trung hoa nghèo đói đã bị lôi cuốn vào các hoạt động nổi dậy ở Miến Điện và Thái Lan, và cuộc cạnh tranh Hoa Kỳ - Liên Xô đe dọa sự ổn định toàn vùng. Singapore, Indonesia, và Malaysia có tranh chấp biên giới mới chỉ lắng xuống gần đây, cùng lúc đó Việt Nam  vẫn đang khôi phục lại từ sau chiến tranh với Hoa Kỳ và Trung Hoa. Hiện giờ, chỉ còn Bắc Triều Tiên và Đài loan là sợ hãi về sự tồn tại của họ - hầu hết các nước khác đã ổn định hoặc thịnh vượng hơn so với trước đây. (Chi phí quân sự của Đài Loan đã giảm từ 5,3% của GDP vào năm 1988 xuống còn 2,3% trong năm 2012; không có số liệu đáng tin cậy về chi phí quân sự của Bắc Triều Tiên).

Thậm chí năm 1995, sau khi Liên bang Xô Viết sụp đổ và trước khủng hoảng tài chính Đông Á, chi phí quân sự trung bình là khoảng 2.5% của GDP. Sự cắt giảm này không phải là điều kỳ lạ trên thế giới. Chi phí quân sự ở châu Mỹ Latinh, chẳng hạn, vào khoảng 2% của GDP kéo dài khoảng hai thập kỷ. (Chi phí của châu Âu giảm từ 2,9% GDP vào năm 1988 xuống còn 1,7% vào năm 2012).

Một sự ngoại lệ hiếm hoi là Trung hoa. Chi phí quân sự của Bắc Kinh, tính bằng đô la Mỹ năm 2011, tăng từ 18 tỷ vào năm 1989 lên 157 tỷ vào năm 2012, một sự gia tăng hơn 750%. Thật đáng ngạc nhiên, không có một quốc gia Đông và Đông Nam Á nào chịu nổi mức tăng tương tự. Chi phí quân sự của Nhật Bản, bị hạn chế theo hiến pháp thời Hòa Bình, cũng tăng từ 46 tỷ USD vào năm 1988 lên 59 tỷ USD vào năm 2012, chỉ tăng 29%. Hàn quốc tăng từ 14.4 tỷ USD vào năm 1988 lên 31 tỷ USD vào năm 2012, một sự gia tăng khá nhỏ khoảng 118%, hay là khoảng 4.7 % GDP của năm.

Liệu có phải một vài nước dành ngân sách quá ít cho quốc phòng là bởi vì họ đã được sự che chở của quân đội Mỹ? Không đúng như thế. Trong năm 2012, các nước nằm trong liên minh với Hoa kỹ dành 1,73% GDP cho quân sự, và cũng một con số tương đối chính xác tương tự đối với các nước không nằm trong liên minh này.  Và nếu các cam kết an ninh của Hoa kỳ được khôi phục, mang đến sự hỗ trợ cho các nước Đông Á, thì chi phí quân sự phải tăng lên ở các đồng minh Hoa Kỳ trong suốt những năm tiếp theo, cho đến khi tạo ra được một trục liên minh, thì nó sẽ giảm dần sau đó, nhưng thay vì thế, chi phí này lại giảm xuống dưới 2% vào năm 2000 và giữ nguyên con số đó.

Các nước trong vùng đã có những bằng chứng rõ ràng về sự gia tăng sức mạnh và tham vọng của Trung hoa, và có thể dễ dàng làm cân bằng sức mạnh. Sự giàu có, tiềm lực quân sự, vị thế ngoại giao của Trung hoa đã gia tăng ấn tượng kể từ sau thực hiện cải cách năm 1978. Trong khi ảnh hưởng của Trung hoa là chưa rõ ràng vào thập niên 1980, hay thậm chí thập niên 1990, thì ngày nay không còn nghị ngờ gì nữa Trung Hoa là quốc gia mạnh thứ hai trên thế giới. Nếu những quốc gia nào muốn cân bằng sức mạnh với Trung Hoa, thì sao họ không phải bắt đầu từ bây giờ?

Các tranh chấp vùng lãnh hải ngày càng trở lên gay gắt, và Trung hoa cho thấy họ càng trở lên ngạo mạn. Nếu các nước Đông Á bắt đầu chi tiêu nhiều hơn cho quốc phòng, thì nó là bằng chứng biểu thị sự quan tâm của họ. Nếu họ không làm vậy, nó thể hiện rằng họ không mảy may lo lắng - và có lẽ là cả chúng ta cũng vậy.

Asia Clinic, 12h02' ngày thứ Bảy, 04/5/2013

Chủ Nhật, 17 tháng 2, 2013

MỘT THOÁNG CAMBODIA (3)

Hai mươi hai năm trước, cũng vào mùa xuân, tôi có mặt ở Phnompenh, cũng là lúc ông Thái thượng hoàng Norodom Sihanuck chuẩn bị về Cambodia để xây dựng một xã hội hòa hợp hòa giải dân tộc dưới một chính quyền đa nguyên quân chủ lập hiến. Lúc ấy, lưu lại 9 tháng làm ăn sinh sống, đất nước Cambodia vừa trải qua một thời kỳ kinh hoàng diệt chủng của đảng cộng sản Khmer đỏ do Polpot cầm đầu. Con người hỗn loạn, xã hội còn mất an ninh, đêm đi đường không biết có toàn tính mạng dù giữa thủ đô của một nước. Cơ sở hạ tầng đổ nát, đường xá đầy hố bom. Các đảng phái tranh nhau mọc như nấm sau mưa. Ai cũng lo sợ một cuộc thanh trừng và có thể nội chiến giữa các đảng phái và phe nhóm, mà đặc biệt đứng đầu giữa 2 phe của chính quyền ông Hunxen và nhóm theo quốc vương sẽ trở về từ Trung Hoa lục địa sau 23 năm lưu vong. Mặc dù cuộc sống người dân Cambodia lúc này vẫn chảy đều, nhưng cũng lắm tiêu cực. Muốn có chứng minh nhân dân Cambodia lúc đó chỉ cần tốn 1000 Ria tương đương 4000 tiền Việt. Muốn có hộ khẩu chỉ cần tốn 5000 Ria tương đương 20.000 tiền Việt là có ngay trong ngày. Cái chết có thể đến ngay trong ban ngày giữa chợ bằng súng mà chính mắt tôi nhìn thấy. Tất cả trong một mối bòng bong sau một thảm họa.

Bây giờ, trở lại cũng là lúc ông Thái thượng hoàng vừa băng hà và vừa mới hỏa táng. Hoàng cung không được phép tham quan trọn vẹn. Mọi du khách chỉ được tham quan khu vực chùa Ngọc Bích - còn gọi là chùa Vàng Bạc - đường phố giăng đầy hình ảnh ông bọc dải tang đen. Nhưng, an ninh đã tốt hơn nhiều, đi ngày không phải lo lắng, đi đêm cũng rất an toàn, nhưng thủ đô Phnompenh đúng nghĩa là một thủ đô hành chánh khi đêm về chỉ khoảng 23h là hầu như đã vào giấc ngủ. Còn đối với thành phố Siêm Riệp đúng nghĩa là một thành phố du lịch và thương mại đầu tàu kinh tế quốc gia, nửa đêm vẫn còn khách vãng lai và sinh hoạt thương mại vẫn diễn ra.

Dù thế, đời sống một góc khuất vẫn hiện ra, tuy không nhiều như ở ta, nhưng đáng để quan tâm. Đó là hình ảnh của những người dân nghèo Khmer, và đặc biệt là dân nghèo Việt Nam. Các khu du lịch trên đất Khmer suốt 3 ngày tôi chỉ gặp đúng một gia đình với bà mẹ và 3 đứa con Khmer xin tiền. Không dày đặt như ở ta, những người ăn xin rất dễ thương trong cách xin và cách nhận với một cái lạy cúi rạp người và lời cảm ơn lơ ló tiếng Việt của người Khmer đói khổ. 

Song, khi đến tham quan làng người Việt nghèo trên biển Hồ thì một hình ảnh rất xấu diễn ra ở đây mà chúng tôi nói với nhau là, "thương hiệu cái bang Việt" đi đâu cũng thấy mà phát buồn. Chúng tôi được hướng dẫn viên giới thiệu, có một làng người Việt nghèo truyền kiếp từ thời trước 1975 vẫn cứ tồn tại trên những căn nhà nổi và trên những chiếc ghe vừa làm nhà, vừa làm phương tiện đánh cá trên biển Hồ Tonle Sap. Vài năm gần đây báo chí trong nước cũng ca ngợi ngôi trường dạy trẻ em nghèo trên biển Hồ này rất nhiều. Họ đáng thương, nên du khách cần tham quan, để có dịp kêu gọi giúp đỡ họ. Mỗi vé tham quan là 20 đô la Mỹ. Đã đi thì không thể bỏ, mà đặc biệt là người đồng bào mình làm sao bỏ được? Chúng tôi náo nức muốn làm cái gì đó cho đồng bào mình xa xứ nghèo khổ.

Một cháu trai xin tiền rất thông minh theo cách này, dù hơi ác cảm. Tốn 1000 Ria để chụp được hình cháu hoặc với con trăn.

Giữa trưa dưới cái nắng gắt 39 độ C, chúng tôi vẫn tranh thủ đi cho kịp lịch trình còn tham quan Naga World - một sòng bài lớn ở Phnompenh mà nhiều đại gia đình đám Việt đã phải tự tử vì nó - vào buổi chiều. Tâm trạng khi đi cứ nghĩ sẽ hết lòng với làng nghèo này. Nhưng trước khi đến trường trẻ em nghèo người Việt được UNESCO tài trợ từ hơn 5 năm qua, chúng tôi được uống nước dừa và ăn tép rang, thì đập vào mắt mình là một cháu xin ăn người Việt ôm trong lòng một con trăn lớn. Hình ảnh cháu không làm ai nghĩ cháu đi xin ăn, cứ nghĩ cháu là con chủ nhà hàng nổi trên biển Hồ. Nhưng lúc đang ăn uống thì cháu xuất hiện sau lưng mình với lời xin ăn, mọi người từ thương hại đến lo sợ con trăn mà cháu mang theo. Ác cảm từ lo lắng trở nên phòng thủ với "thương hiệu cái bang Việt".

Các cháu học sinh nghèo ở trường dạy tiếng Việt không tốn tiền của ông thầy Tư thành lập, bây giờ được một phần tài trợ của UNESCO?

Chúng tôi được đưa đến ngôi trường dạy tiếng Việt cho trẻ em nghèo trên biển Hồ. Cứ nghĩ sẽ đến để tìm hiểu, nhưng đến chưa đầy 5 phút là phải bỏ chạy lấy thân. Sự xuất hiện tàu du lịch của chúng tôi chưa đầy 1 phút thì hàng đàn ghe xuồng, thậm chí cả trẻ con bơi bằng chiếc thau giặt đồ vây quanh thuyền du lịch đông như kiến. Âm thanh kêu réo xin tiền, níu kéo khách du lịch như ong vỡ tổ. Một số người cử đại diện vào trường trao quà vì thấy trường chật hẹp. Một số ở lại trên thuyền bị bao vây sợ quá cũng nhảy theo lên trường để bớt bị níu kéo xin ăn. Tất cả diễn ra một hình ảnh không phải người đi tặng quà và kẻ nhận quà, mà là một sự hỗn độn đến mức khó tả. Cuối cùng có bao nhiêu quà và tiền lẻ chúng tôi vứt hết cho người Việt xin ăn và đại diện trường để thoát thân.

Trong khi đoàn du lịch thăm trường thì hàng đoàn thuyền người Việt bám thuyền du lịch để xin ăn.

Trên đường về, tôi suy nghĩ mãi, những người mà được các hướng dẫn viên du lịch mô tả rất đáng thương này có được để đáng thương không? Hơn 5 năm qua UNESCO tài trợ trường lớp, nhà thờ, khách du lịch và các đoàn ủng hộ, cộng thêm vào việc làm ăn sinh sống ở trên biển Hồ của họ thì họ có đáng để được gọi là nghèo theo kiểu này không? Hay là các công ty du lịch lợi dụng họ để khai thác kiếm tiền? Và họ thì lợi dụng du lịch để chỉ biết xin ăn mà không cần phải làm lụng vất vả? Tất cả đều có thể xảy ra trong bối cảnh người Việt hiện nay ở đâu cũng thấy.

Có một điều mà ai cũng tự hỏi, tại sao họ không về Việt nam sinh sống mà phải sống vất vưởn kiểu này? Vì họ không muốn về vì nhiều lý do, hay họ về mà không được tiếp nhận? Hay vì sống như thế này sướng hơn? Nhưng các câu hỏi không lấn át được một nỗi đau - nỗi đau của nước Việt ở thời đại "quanh vinh" - mà để dân mình bôi nhọ hình ảnh dân tộc mình ở xứ người thì không thể lãng quên.

Có thể cảm giác này của tôi và đoàn du lịch của chúng tôi đã từng diễn ra với nhiều đoàn đi trước, nhưng họ ngại sẽ phải viết ra. Nhưng không viết ra thì có tội với tổ tiên và đồng bào mình. Có thể có bạn cho rằng tôi ác độc khi viết ra. Nhưng họ, những "người nghèo Việt trên biển Hồ" cần một chính sách của nhà nước ta và nhà nước Cambodia liên kết nhau, bằng cách nào đó, để cho họ cái cần câu để kiếm cơm, chứ không thể để tồn tại mãi cách họ nhận cá cơm như thế này.

Asia Clinic, 12h08' ngày thứ Hai, 18/02/2013

Thứ Sáu, 15 tháng 2, 2013

MỘT THOÁNG CAMBODIA (2)

Đế chế Khmer hay còn gọi là Đế quốc Khmer bắt đầu từ vị vua Jayavarman đệ nhị. Ông là một hoàng tử của đảo Java thuộc Indonesia ngày nay. Giống như thời kỳ nước Việt sử dụng Huyền Trân Công chúa gả cho Chế Bồng Nga nước Champa. Ông Jayavarman đệ nhị cũng là một con tin chính trị được làm rể cho nước Chân Lạp. Ông mang văn hóa Java truyền bá và đánh chiếm các vị vua lâng bang vùng Đông Nam Á, và lập nên một diện tích bằng đất nước Cambodia hiện nay. Bắt đầu xây dựng đế chế Khmer từ 790 sau Công nguyên, đến năm 802 ông tuyên bố mình là Vua thiên hạ - Chakravartin - theo phương cách Ấn Độ giáo. Các đời vua sau đó đánh chiếm và tạo ra một Đế chế Khmer rộng lớn nhất khu vực Đông Nam Á với hơn 1 triệu cây số vuông, kéo dài 630 năm cai trị và suy tàn rồi tan rã vào năm 1432. Đế chế Khmer lúc cường thịnh bao gồm, Lào, Thái Lan, miền Nam Việt Nam và Cambodia bây giờ.

Bản đồ Đế chế Khmer lúc cường thịnh vào đời vua Jayavarman VII

Vì có nguồn gốc từ xứ sở ngàn đảo nên văn hóa và tôn giáo thời kỳ đầu của Chân Lạp nói riêng và đế chế Khmer sau này nói chung là Bà La Môn giáo, thờ linh vật là chủ yếu đi đôi với kiến trúc Tháp Champa, và ăn cơm bằng nhúm bàn tay bốc chứ không ăn đủa như bây giờ của hầu hết dân Khmer. Đến đời vua Jayavarman đệ Thất ảnh hưởng Phật giáo Nam tông - tiểu thừa - từ Ấn Độ và các nước lâng bang, Phật giáo được nhà vua đẩy lên thành quốc giáo để phủ dụ dân chúng dễ bề cai trị. Từ đó, mỗi nam thanh niên Khmer muốn thành người trọng dụng phải tốt nghiệp trường Phật học ở các chùa trong cả nước. Ngay các chính khách ngày này như Polpot hay Hunxen đều đã từng là các học viên tại các chùa lớn ở Phnompenh.

Tàng tích dân tộc Champa ở Cambodia ngày nay nằm dọc theo sông Mekong rải rác từ tỉnh Kongpong Cham qua Kongpong Thom đến Phnompenh. Hầu hết người Champa sống bằng nghề đánh bắt cá và làm mắm Bò hóc - prahoc hay pro hoc theo phiên ngữ tiếng Khmer - một loại mắm làm bằng cá nước ngọt rất công phu và ngon, chứ không thối như mắm bò hóc mà người ta vẫn thường hay kể. Tỷ lệ dân Champa ở Cambodia không nhiều chiếm khoảng 3% dân số. Một dân tộc đang tàn lụi và phải đi sống nhờ ở đậu xứ người để tồn tại cũng vì quá hiền lành và chất phát. Ở đâu có người Champa thì ở đó đạo Hồi và Bà La Môn vẫn hiện diện qua kiến trúc và văn hóa sống.

Dấu tích kiến trúc Champa trên đồi Bà Then

Nhà nước quân chủ lập hiến Cambodia hiện nay có một chính phủ điều hành dưới quyền của thủ tướng suốt 20 năm qua. Năm nay sẽ là năm tranh cử nhiệm kỳ thứ 5 của ông Hunxen sau 4 nhiệm kỳ liên tiếp thắng thế. Ở Cambodia hiện nay có rất nhiều đảng phái tranh cử, nhưng chỉ 5 đảng phái lớn là có tiếng nói với dân chúng và có ghế trong quốc hội. Vì là một chính phủ đa nguyên như các nước phương Tây và Hoa Kỳ, cho nên, thay vì tham nhũng và độc tài như các nước châu Á quanh vùng theo cộng sản, thì chính phủ hiện nay phải công khai các phí dịch vụ làm giấy tờ hoặc trong mọi thủ tục hành chính công. Ví dụ, dùng xe hơi phải đóng thuế 800 đô la Mỹ mỗi năm cho sở thuế, nhưng đi xe hơi sai luật thì tự động tốn 2 đô la Mỹ cho cảnh sát giao thông, mà nghĩ rằng nó là phí phải nộp hay tiền hối lộ cho cảnh sát giao thông cũng được, vì tiền 2 đô la này không nộp vào kho bạc nhà nước, mà vào túi cảnh sát giao thông trực tiếp xử phạt người đi xe sai luật không có mảnh giấy biên nhận. Nhưng không vì thế mà cảnh sát giao thông lạm dụng quyền xử phạt, vì cảnh sát và quân đội không được quyền tham gia chính trị, các đảng phái khác đảng nhân dân cách mạng của ông Hunxen chỉ trích chính phủ, vì sao để cảnh sát lạm quyền. Ở quốc hội Cambodia, theo hiến pháp được quyền truất phế thủ tướng đương nhiệm bị bất tín nhiệm và bầu thủ tướng mới thuộc đảng phái khác trong thành viên quốc hội. Có lẽ nhờ vào thể chế đa nguyên, và tam quyền phân lập, nên Cambodia đã phát triển rất vững chắc sau chỉ 22 năm trở lại vương triều của hoàng tộc Norodom Sihanuck.

Nền kinh tế của Cambodia là một nền kinh tế thị trường tự do đúng nghĩa theo quy luật cung cầu. Giống các nước phương Tây và Hoa Kỳ về mọi mặt, nên cũng thì một lít xăng, dầu, nhưng ở 2 công ty xuất nhập khẩu khác nhau thì có giá bán khác nhau, nhưng không ai quan tâm đến mua ở nơi giá rẻ hơn. Toàn bộ nền kinh tế Cambodia là một nền kinh tế nhập khẩu hoàn toàn, hầu như xuất khẩu là con số không to tướng, nhưng hầu như chưa nghe thấy có sự thâm hụt ngân sách quốc gia vì những đầu tư công, hay vì tham nhũng. Vì hầu hết tất cả các lĩnh vực chính phủ Cambodia đều giao cho tư nhân quản lý, điều hành và đóng thuế cho chính phủ. Tiền đóng thuế đó sẽ được dùng để làm việc chính sách công và lo lương cho hệ thống công quyền.

Trong cùng một ngày 14/02/2013, nhưng 2 cây xăng ở Phnompenh của 2 đại lý Tela và Sokimex có giá xăng dầu chênh lệch khác nhau, song không ai vì thế mà phải tranh nhau mua giá rẻ hơn. vì nó là chuyện rất bình thường ở một nền kinh tế thị trường tự do như Việt Nam Cộng Hòa ở miền Nam Việt nam trước 30/4/1975.

Hầu hết các khu vực kinh tế lớn của đất nước Cambodia được thầu bỡi các đại gia Hoa kiều và Việt kiều. Một ông Việt kiều giàu có nhất Cambodia có nguồn gốc là người Sóc Trăng. Ông là người tài trợ cho chính phủ ông Hunxen trong những ngày đầu thành lập quân đội để đánh lại chế độ cộng sản Khmer Đỏ diệt chủng Cambodia. Ông bao thầu rất nhiều lĩnh vực từ xuất nhập khẩu hầu hết các ngành nghề kể cả xăng dầu, vàng bạc, đến bất động sản và kể cả du lịch. Hiện Angkor Vat và Angkor Thum và toàn bộ rừng Angkor do ông thầu và khai thác, mỗi năm ông đóng cho chính phủ đương nhiệm 24 triệu đô la Mỹ. Trong khi đó, mỗi chiếc vé tham quan Angkor trong 1 ngày cho người lớn là 20 đô la, và trẻ em dưới 12 tuổi là 10 đô la Mỹ! Ước tính lượng du khách đến thăm Angkor hằng năm trên 3 triệu lượt người. Một con số khổng lồ ở một địa điểm du lịch cho ngành khai thác du lịch ở một đất nước chỉ 15 triệu dân. Kể cả bệnh viện Chợ Rẫy Phnompenh ở khu vực Chợ Chba Om Pau - Cầu Sài Gòn ở Phnompenh - ông này cũng là chủ đầu tư, hiện đang được xây dựng và đào tạo nhân lực.

Đạo Phật cũng góp phần không nhỏ cho nền kinh tế và an sinh xã hội Cambodia. Hằng năm đến ngày lễ lớn hoặc ngày tết truyền thống của người Khmer - vào khoảng tháng 3 âm lịch hằng năm do vua sãi quyết định theo việc chấm thiên văn - các đại gia kinh tài tư nhân trên đất nước Chùa Tháp thường làm lễ tạ ơn cho đất nước bằng việc đáp ứng lời kêu gọi của chính quyền như, đóng góp 1 ngôi trường học hoặc xây dựng một bệnh viện, hoặc xây dựng, tu bổ một con đường. Đất là thuộc sở hữu tư nhân hoàn toàn có luật người dân được sở hữu dưới lòng đất bao sâu và trên không bao cao tùy theo thành phố hay tỉnh có quy hoạch rõ ràng. Ví dụ, ở thành phố Siêm Riệp, khoảng không trên mãnh đất không được quá chốn linh thiêng của các đền Angkor, nên ở đây các khách sạn hầu hết chỉ trong khoảng đến 4 tầng lầu, mặc dù đền Angkor Wat cao đến 65 mét, nhưng các đền Angkor Thum thì ở khoảng dưới 20 mét cao.

Tên đường phố của Cambodia cũng rất khoa học theo cái cách mà chính phủ đặt ra. Ở Cambodia không có con đường nào mang tên của người như ở Việt Nam, mà chỉ mang tên số là vĩnh hằng. Còn tên người chỉ gắn vào con số tên đường chỉ để ghi nhớ công lao của người ấy đã tài trợ làm và bảo trì con đường ấy. Tại Phnompenh có 1 đại lộ 286 gắn với tên Mao Trạch Đông, nó được gọi là đại lộ 286 Mao Trạch Đông, vì Trung Hoa đã cung cấp tiền duy tu và bảo trì con đại lộ này. Nhưng đến một ngày nào đó, Trung Hoa không còn tài trợ để duy tu và bảo trì con đại lộ này thì nó sẽ trở lại tên đường là Đại lộ 286. Đường phố là của dân đi lại, nhưng vỉa hè là của chính phủ thu tiền đậu xe. Nên không có bất kỳ chủ nhân căn nhà mặt tiền nào được hoặc dám đuổi ai đó đậu xe trên vỉa hè trước cửa nhà mình. Trung tâm thành phố Siêm Riệp cũng có một Viện Nhi khoa không mất tiền khi đến đây khám chữa bệnh trẻ em dưới 15 tuổi do Thụy Điển tài trợ. Đó là một trong những cách mà chính quyền Cambodia làm nên nền kinh tế và an sinh xã hội tốt cho nước mình.

Đạo Phật cũng dạy cho người Khmer không có quan niệm kẻ thù đế quốc thực dân Pháp, Mỹ hay gọi Polpot là kẻ thù dân tộc ngụy quyền. Ở Cambodia, trong quan niện dân chúng chỉ có 2 mặt: thiện và ác, nhân và quả. Đêm đầu đến thành phố Siêm Riệp, với 25 đô la cho mỗi người lớn và 12,5 đô la cho trẻ em dưới 12 tuổi, chúng tôi đã được xem một vở đại hùng ca múa kịch sử thi mang tên "Angkor Smile" do nhà đạo diễn tài ba Trương Nghệ Mưu dàn dựng với trị giá 20 triệu đô la Mỹ. Tất cả vở đại hùng ca múa kịch sử thi này với hơn 300 con người diễn viên thực hiện suốt 70 phút đồng hồ kể lại lịch sử đế chế Khmer suốt hơn 1000 năm hình thành và phát triển, rồi lụi tàn cho đến hôm nay, vẫn một nụ cười đôn hậu vào quá khứ, hiện tại và tương lai, mà không một lời oán trách và chỉ mặt đặt tên kẻ thù, chỉ nhắc nhở con người hãy sống với nhau hiền hòa, trên đời này chỉ có kẻ thiện người ác là do nhân quả mà thành. Có lẽ vì thế mà đã có một sự hòa hợp hòa giải dân tộc Khmer và nhiều dân tộc khác sống ở Cambodia không hận thù, sau hơn 20 năm binh biến và nạn diệt chủng do Polpot gây ra, trong công cuộc hồi hương sau 23 năm lưu vong của Thái thượng hoàng Norodom Sihanuck.

 Vở đại hùng ca múa kịch sử thi mang tên "Angkor Smile" do nhà đạo diễn tài ba Trương Nghệ Mưu dàn dựng với trị giá 20 triệu đô la Mỹ.

Suốt 3 đêm và 4 ngày trên đất nước Chùa Tháp, tôi luôn liên tưởng đến đất nước Cambodia về việc điều hành nền kinh tế làm sao mà đồng tiền không lạm phát, thậm chí ngày càng có giá trị hơn so với đồng tiền Việt của chúng ta, trong khi hầu hết nền kinh tế Cambodia là nền kinh tế nhập khẩu mà không có xuất khẩu và không sản xuất gì, ngoại trừ sản xuất nông sản hải sản để chủ yếu tự cung, tự cấp. Càng khó hiểu hơn khi tận mắt nhìn thấy hải quan cửa khẩu Cambodia thu tiền qua lại của dân mình mỗi đầu người 20 ngàn đồng tiền Việt không chứng từ sổ sách, để thị thực sớm, cho qua luôn cả xe và người mà không cần kiểm tra. Tức có nghĩa là tham nhũng ở Cambodia chắc chắn là nhiều hơn ở ta. Cách đây 22 năm, mình đến Cambodia giá đổi tiền Ria sang Việt là 4 đồng Việt ăn 1 đồng Ria, còn năm nay thì 5 đồng Việt mới đổi được 1 đồng Ria theo thị trường chợ đen!

Ngược lại với chính sách tận thu thuế phí ở Việt Nam, Cambodia lại có chính sách ưu đãi thuế nhập khẩu để biến thị trường nội địa trở thành thị trường hàng hóa giá rẻ, để dân chúng Cambodia tự do buôn bán kiếm lãi với hàng nhập khẩu từ khắp nơi trên thế giới. Một chiếc Lexus đời mới nguyên thùng chỉ bằng giá một nửa so với ở Việt Nam. Hầu hết dân Cambodia đều dùng hàng xịn của các nước phương Tây và tiên tiến. Mấy ngày ở đây tôi chỉ thấy đúng 1 chiếc xe hơi hiệu Kia của Hàn Quốc ở vùng nông thôn Kampong Cham. Ở Siêm Riệp và Phnompenh thì kiếm một chiếc xe hơi có xuất xứ từ Hàn Quốc để bán giá đồ cổ cũng không ra. Còn các hiệu thời trang hàng đầu thế giới như Gucci, Levis, ... giá rẻ chỉ bằng 25-30% tại Việt Nam!

Đêm cuối ở Phnompenh, mình đến thăm người bạn cùng học trường Y ngày xưa, cũng đã từng là người nếm mùi thuốc súng thời làm nhiệm vụ quốc tế lật đổ chế độ cộng sản do Saloth Sar - tên thật của Polpot - để gầy dựng nhà nước Cambodia ngày nay. Anh em cùng tâm sự, mình hỏi, anh có định về lại Việt Nam để sống không? Anh ấy bảo, sống ở đây không phải nhức đầu bỡi cơm áo gạo tiền, bỡi lạm phát kịch trần, bỡi tham nhũng và bỡi nỗi đau lòng dân oan bị quan chiếm đất, v.v... Ngược lại là đằng khác cậu à, đời sống ở đây rất yên bình, giống như thời Đệ Nhất Cộng hòa ở miền Nam, xe hơi của tớ đêm ngủ, cứ để ngoài đường chả ai thèm lấy, đừng nói đến mất trộm kiếng chiếu hậu, hay mất mặt nạ. Hơn nữa, nó cũng gần quê nhà, nếu nhớ quê thì chỉ cần một cuốc xe mấy giờ đồng hồ là đến quê nhà, tội dại gì phải về nước, để phải khổ tâm vì những việc không phải mình gây ra hả cậu? Cậu cứ nghĩ mà xem, dù Cambodia là một thể chế chính trị có cả phong kiến, tăng lữ quý tộc, mẫu hệ và cộng hòa tồn tại, nhưng quyền tự do dân chủ tối thiểu của dân không thua bất cứ xứ nào. Và suy cho cùng chế độ cộng sản nào cũng vậy, thà giết sạch như Polpot đối với dân Khmer mà còn đạo đức hơn cái kiểu để dân sống mà không ra sống như ở Việt Nam hiện tại. Suốt đêm mùng 4 âm lịch tết Quý Tỵ, tôi không chợp mắt được vì cứ phải nghĩ đến câu trả lời của bạn mình, nghĩ về Cambodia, về Miến Điện và nghĩ về nước Việt hiện nay.

Đọc phần 3 Một thoáng Cambodia.

Tư gia, 1h05' ngày thứ Bảy, 16/02/2013

Thứ Năm, 14 tháng 2, 2013

MỘT THOÁNG CAMBODIA (1)

Đúng 22 năm mình trở lại Cambodia, một đất nước có một lịch sử và văn hóa bi hùng và phế tích với một dân tộc hiền hòa đến mông muội và là một cựu Đế chế hùng cường, nằm trong số 10 Đế chế lớn nhất trong lịch sử của nhân loại.

Bi kịch và số phận đã đẩy đưa Cambodia - một trong 3 quốc gia thành viên thuộc địa Đông Dương của Pháp: Việt Nam, Lào và Cambodia - đã trở thành quốc gia duy nhất có nền chính trị Quân chủ lập hiến. Có nghĩa là, ở đây hình thái chính trị lại giống với Vương quốc Anh, mà không giống với nền chính trị Cộng Hòa của cựu mẫu quốc Pháp.

Quân chủ lập hiến là một nền chính trị mà ở đó, gia đình hoàng tộc không tham gia vào chính trị. Họ chỉ là biểu tượng của đất nước dùng để làm công việc lễ tân cho cả nội vụ và ngoại giao khi chính phủ cần. Chính phủ là tổ chức điều hành chính của quốc gia, đứng đầu là thủ tướng, dựa trên một nền chính trị đa nguyên tranh cử của nhiều đảng phái khác nhau, với tam quyền phân lập. Ai đã từng đến Cambodia cách đây 20 năm sẽ thấy đất nước bi hùng này thay da đổi thịt rất nhiều đến ngỡ ngàng.

Từ chỉ còn khoảng 1,3 triệu dân sau cuộc tàn sát của đảng cộng sản Khmer Đỏ vào giữa cuối thập niên 1970s của thế kỷ trước, ngày nay dân số Cambodia đã đạt con số khoảng 15 triệu với 30% là Hoa kiều, 20% là Việt kiều và 50% còn lại là người Khmer và các dân tộc khác. Đảng cộng sản Khmer Đỏ đã giết hầu hết tầng lớp tinh hoa và giới nhà giàu của dân tộc Khmer. Hầu hết người dân Khmer chính gốc là tầng lớp nhân dân lao động, hiền lành, chất phát như đất. Nền kinh tế của Cambodia phồn thịnh hiện nay hầu như nằm trong số 50% Hoa kiều và Việt kiều đang sinh sống trên đất nước Cambodia. Có lẽ, chính điều này sẽ là một tín hiệu không lành cho dân tộc Khmer trong vài thế kỷ tới.

Người ta thấy rằng, ở đâu mà các chính khách sử dụng thần quyền đến tột đỉnh của nghệ thuật chính trị - là nghệ thuật của sự có thể - thì ở đấy người dân rất dễ sai bảo, và bạo chúa có thể làm nên những kỳ tích để đời cho nhân loại, hoặc chính khách cũng có thể xúi giục dân chúng tắm máu vì ngai vàng của họ. Cambodia là một quốc gia có một tầng lớp chính khách và nhân dân như thế. Angkor Vat và Angkor Thum là 2 phế tích còn sót lại của một đế chế kiêu hùng làm minh chứng cho điều này. Công cuộc diệt chủng của đảng cộng sản Khmer Đỏ cũng là một minh chứng hùng hồn đối với dân tộc Khmer.

Văn hóa đặc thù của Cambodia là văn hóa của chùa chiền. Một đất nước mà ngày nay chỉ vỏn vẹn khoảng 15 triệu dân, nhưng có hơn 5000 ngôi chùa hoành tráng và to lớn. Sự giao thoa giữa thần quyền Phật giáo và thế quyền phong kiến đã tạo ra ở đất nước này một chế độ tăng lữ quý tộc trong giáo dục và định hướng dân chúng trong việc điều hành đất nước, biến đất nước này còn một cái tên gọi là, đất nước Chùa Tháp. Cho nên chùa cũng là nơi mà bất kỳ một nam thanh niên nào cũng phải vào đó để học làm người lương thiện thì mới được trở thành người có giá trị của xã hội. Không có tấm bằng Phật học, thì nam thanh niên khó lòng thành công khi bước vào đời.

Ngoài ra, ở Cambodia còn tồn tại hình thái xã hội Mẫu hệ từ thời loài người còn ăn lông ở lổ và săn bắt hái lượm. Nam thanh niên lớn lên chưa từng đi tu ở chùa để học đạo ít nhất là 6 tháng đến 3 năm, để có tấm bằng Phật học, thì khó hy vọng để lấy được vợ. Ở Cambodia, con gái đi cưới chồng, con trai đi lấy vợ và ở rể. Con cái sinh ra, không mang theo họ cha hoặc mẹ, mà cái tên của con cái là ghép thành từ tên cha và tên mẹ. Cho nên cái dòng họ không có ý nghĩa trong việc duy trì chủng tộc và dòng tộc. Đó cũng là một nét văn hóa đặc thù góp phần cho một đế chế lừng lẫy phải điêu tàn như hôm nay.

Ở khu rừng Lộc Vừng quanh biển Hồ Tonle Sap, cứ đến mùa nước nổi thì rắn bò lên đọt cây nhiều như thế này, và người dân chỉ việc chống thuyền đi bắt đem về bán cho nhà hàng hoặc các nhà sản xuất khô rắn xuất khẩu.

Đất nước chùa Tháp còn là đất nước của Rắn. Đi bất cứ nơi đâu, biểu tượng rắn cũng được điêu khắc và đúc tượng. Đây là tàn tích của thần quyền Bà La Môn ngày đầu du nhập vào Cambodia. Hồ Tonle Sap - biển Hồ - là một túi chứa nước ngọt rộng lớn nhất thế giới làm nhiệm vụ điều tiết nước cho dòng Mekong có nguồn từ cao nguyên Tây Tạng. Quanh biển Hồ là rừng cây Lộc Vừng bạc ngàn, nếu ở Việt Nam dân tình sẽ biến rừng cây này thành bãi hoang vì trò phong thủy và mê tín dị đoan. Nhưng ở Cambodia, rừng cây Lộc Vừng không có ý nghĩa, mà ý nghĩa của nó là tất cả các loài rắn sống ở rừng này. Mùa nước nổi từ tháng 3 đến tháng 10 âm lịch rừng này ngập nước, và rắn sẽ trèo lên đọt cây để tránh lũ. Lúc đó, người dân Cambodia dùng thuyền để đi săn rắn về bán cho các nhà hàng và các xưởng làm thức ăn khô, nên giá khô rắn ở Cambodia rẻ hơn giá thịt bò. Rắn nuôi một phần đời sống nông dân Cambodia, nên rắn được đạo Bà La Môn đặt làm biểu tượng của họ ở đất nước Chùa Tháp.

Rừng lộc vừng quanh biển Hồ Tonle sap và cột đánh dấu mốc nước lũ theo cấp độ nước dâng lên trong mùa  nước nổi.

Cambodia là một đồng bằng thấp, mùa nước nổi từ biển Hồ Tonle Sap đổ về cũng là mùa dân Khmer làm ruộng. Hệ thống thủy lợi ở đây còn rất kém phát triển một phần vì hơn 98% diện tích Cambodia là đồng bằng màu mỡ. Đất thịt bazan và phù sa từ biển Hồ đem lại cho đồng bằng ở đây làm ruộng trồng cây mà không cần phân bón. Người Khmer được thiên nhiên ưu đãi như người dân miền Tây Nam bộ nước Việt, nên ở đây lúa chỉ làm một mùa nước nổi, và lúa ở đây là loại lúa nước, rãi trên đồng nước lên bao nhiêu thì lúa cao lên bấy nhiêu, khi lúa chín cũng là lúc mùa nước rút - khoảng 6 tháng - và dân chỉ việc ra đồng cắt ngọn lúa có hạt mang về. Đó cũng chính là cái mà làm cho chính phủ Cambodia không quan tâm đến việc làm hệ thống thủy lợi để tăng canh, tăng vụ. Hơn nữa dân số chưa đông, áp lực an ninh lương thực chưa đòi hỏi và dân tình không chỉ sống bằng nghề làm lúa, mà còn có những cái khác để mưu sinh.

Cây thốt nốt có tuổi đời đến cả trăm năm được dân Khmer làm hàng rào

Văn hóa Cambodia cũng gắn liền với cây Thốt Nốt. Vua Jayavarman đệ nhị - người khởi đầu tạo dựng đế chế Khmer - là người đưa ra việc trồng cây thốt nốt để ghi lại ranh giới đế chế Khmer và cũng là ranh giới cho những mãnh ruộng vườn của mỗi gia đình đã khai hoang và làm ăn. Nên cây thốt nốt cũng là biểu tượng của đất nước Chùa Tháp ngoài chức năng là một loại cây công nghiệp ẩm thực làm ra đường, rượu và nước uống giải khát ở vùng đất đầy nắng này.  Nếu ai để ý, cây thốt nốt ở Cambodia luôn trồng ở các hàng rào của căn nhà ở và ở các bờ đất phân ranh giới giữa các thửa ruộng với nhau. Cho nên người Cambodia vẫn còn truyền miệng nhau rằng, ở đâu có cây thốt nốt thì ở đó là đất của người Khmer một thời lừng lẫy.


Asia Clinic, 9h20' ngày thứ Sáu, 15/02/2013

Thứ Sáu, 3 tháng 8, 2012

KÊU GỌI TẨY CHAY HÀNG TRUNG HOA


Bài dịch của Nguyễn Ngọc Khánh

Bài viết liên quan của tác giả khác:
Bài viết của chủ blog:


Bài viết của một công dân Phi Luật Tân. Ông Randolf "Randy" S. David một nhà báo, phát thanh viên chương trình truyền hình nhà xã hội học của Phi Luật Tân. Ông hiện đang là cây bút viết một cột báo hàng tuần choPhilippine Daily Inquirer. Ông là một giáo sư của University of Phillipines, đồng thời là giáo sư danh dự về hội học tạiUniversity of the Phillipines Diliman.

Một nhóm người gốc Phi Luật Tân đang sinh sống tại Hoa Kỳ, đã được tập hợp lại bởi nhà lãnh đạo kinh doanh đại tài Loida Nicolas-Lewis và luật sư Ted Laguatan, đã kêu gọi một cuộc tẩy chay hang hóa Trung Hoa như là một cách phản đối hành vi bắt nạt của Trung Hoa trên các vùng tranh chấp ở biển Tây Phi Luật Tân (biển Đông). Họ không bàn về một sự khởi xướng được chính phủ hỗ trợ, mà bàn về sự tẩy chay hoàn toàn do người tiêu dùng dẫn đầu được thúc đẩy bởi lòng yêu nước. Những lời kêu gọi như vậy có khả năng lôi kéo được bất kỳ điều gì với trong nước Phi Luật Tân?

Chúng ta hãy tạm thời gác qua một bên bất kỳ cuộc thảo luận nào về những ảnh hưởng chính trị và kinh tế có thể xảy ra của một phong trào như vậy, và thay vào đó tập trung vào tính khả thi và những tác động xã hội học của nó. Quan điểm của tôi là một sự kêu gọi tẩy chay hàng hóa Trung Hoa vào thời điểm này có thể đạt được sự ủng hộ rộng rãi từ công chúng nếu nó được thực hiện bởi những nhân vật công chúng uy tín và các phong trào xã hội. Song tôi ít vọng tưởng rằng một sự kêu gọi như thế sẽ làm giảm sút thói quen người tiêu dùng Phi Luật Tân.

Chỉ có một vài điều có khả năng làm nên sự đoàn kết của một quốc gia, ngoài những thành công của cá nhân người gốc Phi Luật Tân trên trường quốc tế ra. Sức thuyết phục mạnh mẽ nhất của những người của công chúng là một xung đột với quốc gia khác, đặc biệt là với một đế quốc sử dụng sự lớn mạnh để khẳng định sự thống trị của mình lên chúng ta và đe dọa chủ quyền cùng tự do của chúng ta. Người dân ta đã chiến đấu chống lại Tây Ban Nha, Hoa Kỳ và Nhật Bản. Không phải cường điệu khi nói rằng quốc gia non trẻ Phi Luật Tân đã được sinh ra trong lửa đạn của những cuộc đấu tranh quả cảm chống thực dân.

Do đó không có lí do nào để cho rằng nhân dân Phi Luật Tân không thể đoàn kết chống lại một cường quốc như Trung Hoa nếu cần. Mặc dù trên thực tế phân nửa số người dân Phi Luật Tân có dòng tộc là Trung Hoa, không có sự mai một tình yêu thương giữa những con người Phi Luật Tân và Trung Hoa. Thành kiến ​​chống Trung Hoa thấm nhuần vào tinh thần dân tộc chúng ta. Sự bất mãn này đã có nguồn gốc từ một lịch sử bất hạnh. Nó đã tồn tại suốt nhiều thế kỷ qua, và thực sự được nhắc lại mạnh mẽ vì người Phi Luật Tân gốc Hoa đang giành được uy thế trong nền kinh tế quốc gia.

Do đó, một cách chính xác là một lời kêu gọi tẩy chay hàng hóa Trung Hoa có thể dễ dàng đạt được nhiều người ủng hộ bởi vì, cho dù chúng ta có muốn hay không, nó sẽ xoáy vào cái hố ngăn cách mênh mông của niềm căm phẫn mang tính dân tộc hầu như không được khỏa lấp. Đó là một định kiến có giá trị đối ứng. Chủ nghĩa Sô vanh hiếu chiến mà làm dấy lên tuyên bố của Trung Hoa chống lại Phi Luật Tân trên các phương tiện truyền thông Trung Hoa ngày nay là cùng một kiểu, song bị làm cho tồi tệ hơn bởi các chính trị gia và các nhà lãnh đạo quân sự Trung Hoa, những người lợi dụng những tình cảm trong dân chúng một cách vô trách nhiệm để thúc đẩy nghị trình quyền lực của họ.

Có lẽ sẽ không khó để nhấn mạnh tình trạng kém chất lượng của hàng hóa Trung Hoa, cho dù là chúng ta đang nói về ô tô, xe máy, các công cụ nông nghiệp và công nghiệp, hàng tiêu dùng như đồ gia dụng, quần áo, đồ dùng học tập, và các sản phẩm điện và điện tử của Trung Hoa. Sức lôi cuốn duy nhất của những món hàng là mức giả rẻ mạt của chúng. Người ta không nên tìm kiếm chất lượng, phong cách, độ tin cậy hoặc độ bền ở các sản phẩm của Trung Hoa. Các mặt hàng này hiện đang ở nấc thang thấp nhất trong hệ thống phân cấp của hàng hoá nhập khẩu, thấp hơn nhiều những sản phẩm được sản xuất từ Nhật Bản hoặc Nam Hàn. Người ta mua chúng bởi vì chúng cực kỳ rẻ tiền, cung cấp giá trị tuyệt vời cho các nhóm người có thu nhập thấp, cách mà tập đoàn Mã Lăng(馬陵: Maling) trong những năm đầu là chủ đạo ngành xuất khẩu hàng hóa Trung Hoa cho người nghèo Phi Luật Tân, một phiên bản giá cả phải chăng của thịt hộp giăm bông.

Tuy nhiên, sẽ là không công bằng khi tiêu biểu hóa tất cả các hang hóa Trung Hoa trong những điều kiện này. Bốn năm trước, vợ tôi và tôi quyết định mua một chiếc xe thương hiệu mới của Trung Hoa với thấp hơn 400, 000 pê sô Phi Luật tân. Chúng tôi vẫn còn chiếc xe đó, một chiếc ô tô nhỏ 800 phân khối mà chúng tôi sử dụng nó như một chiếc xe thứ hai cho những cuộc đi chơi ngắn. Một vài bạn bè ở tập đoàn Union Pacific nhìn thấy tôi lái chiếc xe, và, sau khi được đảm bảo rằng nó chạy tốt, đã nhanh chóng tậu một chiếc minis cho chính họ. Vấn đề là sau đó  hai năm, nhiều chiếc trong những chiếc minis loại này của Trung Hoa đã bị bỏ đi không dùng đến bởi vì đã không còn những phụ tùng thay thế sẵn có, và tồi tệ hơn, tất cả các trung tâm bảo hành cho thương hiệu Trung Hoa này đã biến mất. May mắn thay cho chúng tôi, một đại lý mới với trung tâm bảo hành riêng của họ đã khai trương chỉ mới một vài tuần trước đây. Tuy nhiên, sự thiệt hại cho danh tiếng của thương hiệu đã đến. Tôi vẫn tin rằng nó là một chiếc xe khá tốt, mặc dù bây giờ tôi do dự khi giới thiệu nó cho bạn bè của tôi.

Một chiến dịch tẩy chay hàng hóa Trung Hoa sẽ chắc chắn tấn công vào những hàng hóa mang nhãn hiệu Trung Hoa như chiếc ô tô của tôi. Song tôi ngờ  rằng có khi nó sẽ ảnh hưởng đến sự phổ biến của các sản phẩm của Apple tại Hoa Kỳ, chúng được thiết kế ở Hoa Kỳ nhưng được làm tại Trung Hoa. Nhiều loại ô tô và xe máy hãnh diện về các nhãn hiệu đáng tự hào của châu Âu, châu Mỹ, và các nhà sản xuất Nhật Bản hiện nay sử dụng rất nhiều các bộ phận có nguồn gốc từ Trung Hoa. Nhiều loại giày và trang thiết bị thể thao, cùng các mặt hàng cao cấp với giá cả phải chăng mang nhãn hiệu của các công ty đáng kính toàn cầu luôn luôn được làm tại Trung Hoa. Với thực tế của các chuỗi cung ứng trên toàn thế giới mà hầu như tất cả các sản phẩm mang nhãn hiệu hiện giờ, không còn dễ dàng để xác định những sản phẩm nào được làm ra tại đâu.

Tôi đã lớn lên trong một kỷ nguyên khi mà mục tiêu của việc xây dựng quốc gia khuyến khích chúng tôi dành ưu tiên cho các sản phẩm được làm ra bởi nhân dân của chúng tôi. Tôi vẫn nghĩ rằng những lý tưởng truyền cảm hứng cho nhiều loại hình chủ nghĩa kinh tế dân tộc nên tiếp tục nhắc nhở chúng ta về sự cần thiết cho việc không ngừng phát triển năng suất sản xuất của nhân dân ta. Tuy nhiên, đồng thời, chúng ta không thể phớt lờ một thực tế là các nền kinh tế ngày nay được kết nối với nhau mà hầu như là một sự đánh lừa dư luận khi trói buộc tên của các quốc gia với những gì là sản phẩm toàn cầu.

Không nghi ngờ gì nữa khi một lời kêu gọi tẩy chay hàng hóa Trung Hoa sẽ thu hút sự chú ý, nhưng có lẽ nó sẽ không làm gì có lợi cho người dân Phi Luật Tân hơn là khuyến khích cuộc thảo luận về mối đe dọa từ Trung Hoa. Nó có thể làm sống lại tinh thần yêu nước trong dân Phi Luật tân bằng cách cung cấp cho họ một cơ hội để xác thực tinh thần yêu nước  trong cuộc sống hàng ngày của họ. Nhưng tôi không biết làm thế nào để người ta có thể ngăn chặn được tình cảm phức tạp mà nó sẽ làm cho họ bị trượt dần vào một dạng phá hoại của chủ nghĩa phân biệt chủng tộc. Đây là những gì tôi lo sợ, nhiều hơn so với những trả đũa được dự kiến ​​từ người láng giềng phách lối Trung Hoa.

BS Hồ Hải hiệu đính - Asia Clinic - 12h07', ngày thứ Bảy, 04/8/2012