nha ban quan tan binh | mua nha quan tan binh
Hiển thị các bài đăng có nhãn Đông Á. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Đông Á. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 6 tháng 6, 2013

NHỮNG BÀI HỌC ĐÔNG Á CHO CHÂU PHI

Hôm nay ông thủ tướng đang tham gia Diễn Đàn Kinh Tế thế giới Đông Á tại Miến Điện. Nên tôi dịch bài này để ai muốn tham khảo thì đọc chơi.

Bài đọc của cùng tác giả trên blog này:

Bài viết của Joseph E. Stiglitz, ông đã đoạt giải Nobel về kinh tế học năm 2001, và là giáo sư tại Columbia University, là Chủ tịch Hội đồng Cố vấn Kinh tế của Tổng thống Bill Clinton và từng là Phó Chủ tịch và kinh tế trưởng của Ngân hàng Thế giới. Cuốn sách gần đây nhất của ông là “Cái giá của bất bình đẳng: Mâu thuẫn xã hội hôm nay đe dọa tương lai của chúng ta như thế nào”( The Price of Inequality: How Today’s Divided Society Endangers our Future).



NEW YORK - Ngày 1/3/2013, Nhật Bản sẽ tổ chức cuộc họp thứ năm của TICAD(the Tokyo International Cooperation on African Development), Hợp tác quốc tế Tokyo về Phát triển châu Phi. Cuộc họp này là một lời nhắc nhở rằng, trong khi phần còn lại của thế giới bị ám ảnh những khốn cùng về kinh tế của châu Âu, tê liệt chính trị của nước Mỹ, và sự suy giảm tăng trưởng ở Trung Quốc và các thị trường mới nổi khác, đó là một khu vực – tiểu vùng Sahara ở Châu Phi - nơi nghèo gần như là quy luật, không phải là ngoại lệ.

Từ năm 1990 đến năm 2010, số lượng người sống trong nghèo đói (thu nhập 1.25 đô la mỗi ngày) trên toàn tiểu vùng Sahara châu Phi đã tăng từ dưới 300 triệu đến gần 425 triệu người, trong khi đó số người có mức sống dưới 2 đô la một ngày đã tăng từ khoảng 390 triệu đến gần 600 triệu. Tuy nhiên, tỷ lệ những người sống trong nghèo đói giảm từ 57% xuống 49% trong giai đoạn này. [Xem biểu đồ dưới đây.]

Những cam kết viện trợ hoặc thương mại đã bị các nước phát triển nhiều lần phá vỡ. Tuy nhiên, Nhật Bản, vẫn còn khốn khổ với hai thập kỷ trong tình trạng bất ổn kinh tế, nhưng bằng mọi giá họ vẫn còn tích cực tham gia - không phải vì lợi ích chiến lược của mình, nhưng để đáp ứng một mệnh lệnh đạo đức chân chính, cụ thể là những người có đời sống tốt hơn nên giúp đỡ những người có nhu cầu.

Châu Phi ngày nay thể hiện một bức tranh hỗn hợp. Có một số thành công đáng kể - từ 2007 đến 2011, năm trong số mười quốc gia phát triển nhanh nhất thế giới với dân số hơn 10 triệu người ở châu Phi. Và tiến bộ của họ đã không chỉ dựa trên nguồn khai thác tài nguyên thiên nhiên.

Trong số các nước hoạt động tốt nhất có Ethiopia, nơi GDP tăng trưởng khoảng 10% mỗi năm trong 5 năm liên tục đã kết thúc vào năm 2011, và Rwanda, Tanzania, và Uganda, nơi sản lượng hàng năm đã tăng hơn 6% trong một thập kỷ hoặc hơn. Nhưng, trong khi một số nguồn tin cho biết rằng bây giờ có nhiều gia đình thuộc tầng lớp trung lưu ở châu Phi (trung lưu được định nghĩa là có thu nhập hàng năm vượt quá 20,000 đô la Mỹ) hơn so với Ấn Độ, châu lục này cũng là nơi có nhiều quốc gia có bất bình đẳng cao nhất toàn cầu.

Nông nghiệp, ngành mà rất nhiều người nghèo bị lệ thuộc, đã không được làm tốt. Năng suất mỗi hecta rất trì trệ. Chỉ có 4% đất thích hợp trồng trọt canh tác là được tưới tiêu, so với 39% ở Nam Á và 29% ở Đông Á. Sử dụng phân bón ở châu Phi với số lượng chỉ 13 kg cho mỗi hecta, so với 90 kg ở Nam Á và 190 kg ở Đông Á.

Đáng thất vọng nhất là, ngay cả những quốc gia đã đặt kinh tế vĩ mô theo thứ tự ưu tiên hàng đầu và đã đạt được tiến bộ trong quản trị vẫn khó khăn trong việc thu hút đầu tư ngoài cho ngành tài nguyên thiên nhiên.

Sự tham gia của Nhật Bản đặc biệt quan trọng không chỉ về tiền bạc và hỗ trợ tinh thần, mà còn vì châu Phi có thể học được điều gì từ kinh nghiệm phát triển ở Đông Á. Điều này có thể đặc biệt thích đáng cho hôm nay, khi việc tăng lương và đưa về đúng tỷ giá hối đoái đồng nhân dân tệ của Trung Quốc, nó nhấn mạnh sự thay đổi nhanh chóng trong lợi thế so sánh và cạnh tranh toàn cầu.

Một số ngành sản xuất sẽ di chuyển ra khỏi Trung Quốc và châu Phi có cơ hội nắm bắt một số phần nhỏ này. Điều này đặc biệt quan trọng, người ta cho rằng, trong 30 năm qua, Tiểu vùng Sahara châu Phi đã bị thiệt hại từ việc từ chối công nghiệp hóa. Thực vậy, vào cuối năm 2000, sản xuất như một phần của GDP trong nền kinh tế đang phát triển châu Phi lại thấp hơn so với năm 1980 - một phần do các chính sách điều chỉnh cơ cấu bị thúc đẩy bởi các tổ chức tài chính quốc tế.

Nhưng một sự bùng nổ sản xuất sẽ không xảy ra bởi chính nó. Cho nên chính phủ châu Phi phải thực hiện chính sách công nghiệp để giúp cơ cấu lại nền kinh tế của họ.

Các chính sách này đã gây nhiều tranh cãi. Một số người lên án chính phủ là không tốt trong chọn lựa theo kẻ mạnh. Một số người khác cho rằng không có sự khác biệt giữa một quốc gia sản xuất khoai tây chiên(potato chip) và quốc gia sản xuất con chip máy tính(computer chip).

Cả hai quan điểm là sai lầm. Mục đích của chính sách này là để giải quyết những hạn chế hiểu biết tốt trong thị trường - ví dụ, các yếu tố quan trọng bên ngoài việc học như, các kỹ năng liên quan đến một ngành công nghiệp lợi ích ngành công nghiệp phụ cận.

Mục tiêu của chính sách công nghiệp là để xác định những tác động lan tỏa, và chính phủ đã thực hiện một công việc rất đáng tin cậy trong lĩnh vực này. Tại Hoa Kỳ, chính phủ khuyến khích nông nghiệp trong thế kỷ XIX, hỗ trợ đường dây điện báo đầu tiên (giữa Baltimore và Washington, thực hiện vào năm 1844) và sau đó là cáp quang xuyên lục địa đầu tiên, qua đó tạo nên cuộc cách mạng viễn thông, và sau đó khởi nguồn cho cuộc cách mạng Internet. Chắc chắn, chính phủ - thông qua cơ sở hạ tầng, pháp luật và các quy định (bao gồm cả thuế), và hệ thống giáo dục – định hình nền kinh tế. Ví dụ, thuế Mỹ và luật phá sản, kết hợp với chính sách bãi bỏ quy định, có hiệu quả khuyến khích việc tạo ra một khu vực tài chính tăng trưởng(hypertrophy).

Với nguồn tài nguyên quá khan hiếm, những quốc gia đang phát triển không có khả năng hoang phí như vậy. Họ phải suy nghĩ cẩn thận về hướng tương lai của nền kinh tế của họ - về những lợi thế tương đối động của họ.

Các quốc gia đang phát triển thành công nhất trên thế giới - những nước trong khu vực Đông Á - đã làm điều này, và một trong những bài học được chia sẻ là những quốc gia này về cách họ thực hiện chính sách công nghiệp tại một thời điểm khi chính phủ của họ thiếu sự tinh tế và sâu sắc về tài năng để họ có ngày hôm nay. Những yếu kém trong quản trị có thể ảnh hưởng đến các công cụ của chính sách công nghiệp, vì chúng không được phát huy.

Nhật Bản có những bài học khác rất tốt để đào tạo. Chìa khóa của chiến lược phát triển của mình - bao gồm đặt trọng tâm vào giáo dục, bình đẳng và cải tạo đất canh tác - những điều này của Nhật, ngày hôm nay thậm chí còn quan trọng hơn ở châu Phi. Thế giới đã thay đổi đáng kể từ khi Đông Á bắt đầu quá trình chuyển đổi phát triển vượt trội của mình hơn một nửa thế kỷ trước, và với sự khác biệt về lịch sử, tổ chức, và hoàn cảnh có nghĩa là chính sách phải được thích nghi với từng điều kiện ở mỗi khu vực.

Nhưng có cái gì đó khác nhau rõ ràng là Nhật Bản và các nước Đông Á đã theo đuổi việc thực hiện những khuyến cáo bỡi Đồng thuận Washington(*) về thế giới tân tự do. Những chính sách của họ đã làm; tất cả rất thường xuyên, nhưng Đồng thuận Washington hầu như thất bại thảm hại. Các nước châu Phi sẽ được hưởng lợi từ những thực tế thành công và thất bại, và những thất bại thành công này có ý nghĩa cho các chiến lược phát triển của họ. 

@Project Syndicate 2013

Ghi chú:
(*)Đồng thuận Washington(Washington Consensus):  là cụm từ xuất hiện từ đầu thập niên 1990 để mô tả một chương trình cải cách kinh tế bao gồm mười chính sách khác nhau được các tổ chức đóng trụ sở tại Washington (Mỹ) như Quỹ tiền tệ Quốc tế: IMF, Ngân hàng Thế giới: World Bank, và Bộ Tài chính Mỹ đề nghị áp dụng ở những nước trải qua khủng hoảng kinh tế.

Mười chính sách cải cách kinh tế bao gồm:
1. Kỷ luật trong thực thi chính sách tài chính.

2. Chuyển hướng chi tiêu công sang đầu tư cho giáo dục, y tế và cơ sở hạ tầng.

3. Cải cách hệ thống thuế - Kéo dãn đường cong thuế: Giảm thuế suất đối với các nhóm thuế cao theo tỷ lệ (điển hình là thuế đánh vào mức thu nhập trên trung bình), tăng thuế suất đối với các nhóm thuế thấp theo tỷ lệ (điển hình là thuế đánh vào mức thu nhập dưới trung bình); giảm thuế suất biên.

4. Để thị trường quy định lãi suất, song giữ sao cho lãi suất thực tế dương và ở mức thấp.

5. Chế độ tỷ giá hối đoái cạnh tranh.

6. Tự do hóa thương mại: thay thế các hạn chế định lượng bằng các loại thuế quan thống nhất và ở mức thấp.

7. Mở cửa cho đầu tư trực tiếp nước ngoài.

8. Tư nhân hóa các doanh nghiệp nhà nước.

9. Giải điều tiết: loại bỏ các quy chế ngăn cản xâm nhập thị trường và ngăn cản cạnh tranh, ngoại trừ những quy định chính đáng liên quan đến an toàn, môi trường và bảo vệ người tiêu dùng; giám sát cẩn thận các thể chế tài chính.

10 . Củng cố khung pháp lý đảm bảo quyền sở hữu.

Sau này, ý nghĩa của thuật ngữ trên đã được mở rộng hơn và phạm vi áp dụng cũng rộng hơn. Nó được dùng để chỉ tất cả những chính sách mà các nhà kinh tế chủ nghĩa tự do mới cổ vũ áp dụng ở nhiều nơi trên thế giới nhằm cái mà họ cho là thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Cụ thể, “Đồng thuận Washington” đề xuất hàng loạt chính sách cải cách kinh tế theo định hướng thị trường tự do để cho các nền kinh tế sẽ trở nên tự do hơn giống như các nền kinh tế ở Thế giới thứ nhất mà Mỹ là đại biểu.

Asia Clinic, 18h11' ngày thứ Năm, 06/6/2013

Thứ Sáu, 3 tháng 5, 2013

HỔ GIẤY TRUNG HOA

Bài dịch của Chu Giang Sơn

Bài viết gốc: Paper Tiger từ Foreign Policy

Bài viết của ông David Kang hiện đang là giáo sư về quan hệ và kinh doanh quốc tế tại Southern California University

Tại sao những nước châu Á không sợ Trung Hoa?

Liệu có sự căng thẳng đang gia tăng ở châu Á? Chắc chắn là sự căng thẳng ấy vẫn đang hiển hiện ở đây. Ít tháng  trước Bắc Triều Tiên đã tiến hành thử hỏa tiễn tầm xa và đe dọa Hoa Kỳ bằng chiến tranh hạt nhân. Trung Hoa thì vẫn đấu khẩu với Nhật Bản về chủ quyển của mấy quần đảo tranh chấp, và tranh cãi với vài nước Đông Nam Á về các bãi đá có người ở trên biển Đông. Trong khi đó, Hoa Kỳ vẫn tiếp tục chiến lược then chốt ở Đông Á mà đã được quảng bá rất tốt và liên tục nỗ lực gia tăng sức mạnh quân sự trong vùng.

Tuy nhiên trong năm 2012, chi phí quân sự ở Đông Á của Hoa Kỳ là ở mức thấp nhất trong vòng 25 năm, và cũng gần như là thấp nhất trong vòng 50 năm (mặc dù các số liệu từ trước năm 1988 còn bị nghi ngờ). Còn quá sớm để nói rằng nó là nhân tố gây ra căng thẳng gần đây, khi sự trỗi dậy của Trung Hoa đã sắp đặt lại khu vực sau hơn hai thập niên, các nước Đông và Đông Nam Á dường như không có phản ứng lại bằng việc tăng cường sức mạnh quân sự của họ. Nếu có một cuộc chạy đua vũ trang trong vùng thì đó là cuộc chạy đua đơn độc của Trung hoa.

Chi phí quân sự đã phản ánh nhận thức về mối đe dọa an ninh của các nhà nước, và cho thấy họ đã lên  kế hoạch cho các tình huống bất ngờ cả ngắn hạn và dài hạn. Trong lúc có mối đe dọa từ bên ngoài, quyền ưu tiên cho quân đội đứng trước các ưu tiên nội địa khác, như các dịch vụ kinh tế - xã hội khác. Trong thời kì hòa bình, các quốc gia sẽ dành phần nhiều kinh tế hơn  cho các nhu cầu nội địa. Cách tốt nhất để đo lường phí tổn quân sự là số phần trăm của nó trong tổng GDP, bởi vì cái này phản ánh một quốc gia có khả năng chi tiêu bao nhiêu. Năm 1988, khi chiến tranh lạnh đã hạ nhiệt, sáu nước Đông Nam Á đã dành khoảng gần 3,5% GDP cho chi tiêu quân sự. (Các dữ liệu này được lấy từ Viện nghiên cứu hòa bình quốc tế Stockholm, một nguồn dữ liệu tin cậy nhất của dữ liệu quân sự toàn cầu, mà  những số liệu quân sự toàn cầu đã được xuất bản năm 1988).

Vào năm 2012, con số này đã giảm xuống còn dưới 2% của GDP. Việt Nam, mặc dù vẫn đang căng thẳng với Trung Hoa trên biển, nhưng đã giảm chi phí quân sự xuống mức bất ngờ nhất, 2,4% trong năm 2012, từ 7,1% của GDP vào năm 1988. Cũng vào năm 1988, một Trung hoa nghèo đói đã bị lôi cuốn vào các hoạt động nổi dậy ở Miến Điện và Thái Lan, và cuộc cạnh tranh Hoa Kỳ - Liên Xô đe dọa sự ổn định toàn vùng. Singapore, Indonesia, và Malaysia có tranh chấp biên giới mới chỉ lắng xuống gần đây, cùng lúc đó Việt Nam  vẫn đang khôi phục lại từ sau chiến tranh với Hoa Kỳ và Trung Hoa. Hiện giờ, chỉ còn Bắc Triều Tiên và Đài loan là sợ hãi về sự tồn tại của họ - hầu hết các nước khác đã ổn định hoặc thịnh vượng hơn so với trước đây. (Chi phí quân sự của Đài Loan đã giảm từ 5,3% của GDP vào năm 1988 xuống còn 2,3% trong năm 2012; không có số liệu đáng tin cậy về chi phí quân sự của Bắc Triều Tiên).

Thậm chí năm 1995, sau khi Liên bang Xô Viết sụp đổ và trước khủng hoảng tài chính Đông Á, chi phí quân sự trung bình là khoảng 2.5% của GDP. Sự cắt giảm này không phải là điều kỳ lạ trên thế giới. Chi phí quân sự ở châu Mỹ Latinh, chẳng hạn, vào khoảng 2% của GDP kéo dài khoảng hai thập kỷ. (Chi phí của châu Âu giảm từ 2,9% GDP vào năm 1988 xuống còn 1,7% vào năm 2012).

Một sự ngoại lệ hiếm hoi là Trung hoa. Chi phí quân sự của Bắc Kinh, tính bằng đô la Mỹ năm 2011, tăng từ 18 tỷ vào năm 1989 lên 157 tỷ vào năm 2012, một sự gia tăng hơn 750%. Thật đáng ngạc nhiên, không có một quốc gia Đông và Đông Nam Á nào chịu nổi mức tăng tương tự. Chi phí quân sự của Nhật Bản, bị hạn chế theo hiến pháp thời Hòa Bình, cũng tăng từ 46 tỷ USD vào năm 1988 lên 59 tỷ USD vào năm 2012, chỉ tăng 29%. Hàn quốc tăng từ 14.4 tỷ USD vào năm 1988 lên 31 tỷ USD vào năm 2012, một sự gia tăng khá nhỏ khoảng 118%, hay là khoảng 4.7 % GDP của năm.

Liệu có phải một vài nước dành ngân sách quá ít cho quốc phòng là bởi vì họ đã được sự che chở của quân đội Mỹ? Không đúng như thế. Trong năm 2012, các nước nằm trong liên minh với Hoa kỹ dành 1,73% GDP cho quân sự, và cũng một con số tương đối chính xác tương tự đối với các nước không nằm trong liên minh này.  Và nếu các cam kết an ninh của Hoa kỳ được khôi phục, mang đến sự hỗ trợ cho các nước Đông Á, thì chi phí quân sự phải tăng lên ở các đồng minh Hoa Kỳ trong suốt những năm tiếp theo, cho đến khi tạo ra được một trục liên minh, thì nó sẽ giảm dần sau đó, nhưng thay vì thế, chi phí này lại giảm xuống dưới 2% vào năm 2000 và giữ nguyên con số đó.

Các nước trong vùng đã có những bằng chứng rõ ràng về sự gia tăng sức mạnh và tham vọng của Trung hoa, và có thể dễ dàng làm cân bằng sức mạnh. Sự giàu có, tiềm lực quân sự, vị thế ngoại giao của Trung hoa đã gia tăng ấn tượng kể từ sau thực hiện cải cách năm 1978. Trong khi ảnh hưởng của Trung hoa là chưa rõ ràng vào thập niên 1980, hay thậm chí thập niên 1990, thì ngày nay không còn nghị ngờ gì nữa Trung Hoa là quốc gia mạnh thứ hai trên thế giới. Nếu những quốc gia nào muốn cân bằng sức mạnh với Trung Hoa, thì sao họ không phải bắt đầu từ bây giờ?

Các tranh chấp vùng lãnh hải ngày càng trở lên gay gắt, và Trung hoa cho thấy họ càng trở lên ngạo mạn. Nếu các nước Đông Á bắt đầu chi tiêu nhiều hơn cho quốc phòng, thì nó là bằng chứng biểu thị sự quan tâm của họ. Nếu họ không làm vậy, nó thể hiện rằng họ không mảy may lo lắng - và có lẽ là cả chúng ta cũng vậy.

Asia Clinic, 12h02' ngày thứ Bảy, 04/5/2013

Thứ Tư, 1 tháng 8, 2012

LÀM DỊU TÌNH HÌNH BIỂN ĐÔNG

Bài dịch của Trang La
Bài viết liên quan của tác giả khác:
Bài viết của chủ blog:

Bài viết gốc: Calming the South China Sea

Bài viết của ông Gareth Evans, cựu Bộ trưởng ngoại giao Úc trong 8 năm và Chủ tịch danh dự của Nhóm Khủng hoảng Quốc tế (International Crisis Group), hiện là hiệu trưởng danh dự của ĐH Quốc gia Úc (ANU) và đồng chủ tịch của Trung tâm toàn cầu về Trách nhiệm bảo vệ. Là một Ngoại trưởng, ông đã đi đầu trong việc nối lại mối quan hệ của Úc với Trung Hoa, Ấn Độ và Indonesia, trong khi thắt chặt thêm mối liên minh với Hoa Kỳ, và hỗ trợ việc thành lập diễn đàn an ninh APEC và ASEAN. Ông cũng giữ vai trò lãnh đạo trong việc đem lại hòa bình ở Campuchia và đàm phán Công ước quốc tế về Vũ khí hóa học, và là người đứng đầu xây dựng khung học thuyết “trách nhiệm bảo vệ” của Liên Hợp quốc.

CANBERRA - Vùng biển Đông (bài dịch sẽ sử dụng từ biển Đông thay vì biển Nam Trung Hoa) - được quan tâm lâu nay, cùng với eo biển Đài Loan và bán đảo Triều Tiên, là một trong ba điểm nóng của khu vực Đông Á - lại dậy sóng một lần nữa. Tuyên bố của Trung Hoa về việc triển khai quân tới quần đảo Trường Sa trong vòng một tháng tới thể hiện sự ngang nhiên cạnh tranh chủ quyền, sự hiện diện của hải quân Trung Hoa trong khu vực tranh chấp trở nên rõ ràng hơn, và Trung Hoa đã làm chia rẽ Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN), nó đã làm cho việc các bộ trưởng ngoại giao của các nước trong khu vực không thể thống nhất về một thông cáo, điều mà chưa hề xảy ra trong 45 năm qua.

Vấn đề này đã gay gắt từ lâu - tương tự như việc bố trí quân đội và đấu tranh ngoại giao từ 2009 tới giữa 2011. Một điều đáng lưu tâm nho nhỏ: trải dài từ Singapore tới Đài Loan, vùng biển Đông là đường biển nhộn nhịp thứ hai trên thế giới, với một phần ba lưu lượng vận chuyển hàng hải của thế giới quá cảnh qua đây.

Nhiều quốc gia lân cận tuyên bố chủ quyền nhiều hơn đối với nhiều khu vực của biển Đông - và có xu hướng đẩy các tuyên bố này trở nên quyết liệt - hơn là bất cứ vùng hải phận tương tự nào khác. Và bây giờ nó được xem như một nơi thử nghiệm chủ chốt cho cuộc cạnh tranh Trung - Mỹ, với việc Trung Hoa bành trướng thêm vây cánh, và Mỹ cố gắng cắt bỏ những vây cánh đó để duy trì vị thế số một của mình trong khu vực và trên phạm vi toàn cầu.

Các vấn đề pháp lý và chính trị đi kèm với cuộc cạnh tranh giành chủ quyền lãnh thổ - và tài nguyên biển, tài nguyên năng lượng, và các quyền hàng hải đi kèm với chúng - là vấn đề phức tạp đau đầu. Các sử gia tương lai có lẽ sẽ nhắc tới vấn đề của Biển Đông giống như Lord Palmerston(1) đã nói về vấn đề Schleswig - Holstein(2) trong thế kỷ 19: “Chỉ có ba người hiểu được nó. Một đã chết, một bị điên và người thứ ba là tôi - và tôi thì quên rồi.”

Vấn đề lãnh thổ cốt lõi hiện nạy đang xoay quanh lợi ích của nhà nước Trung Hoa – thể hiện qua việc phân chia ranh giới không chính xác trong bản đồ “chín đường gián đoạn” (đường lưỡi bò) năm 2009 – trong gần như toàn bộ biển Đông. Tuyên bố của đường lưỡi bò bao gồm cả bốn quần đảo đang tranh chấp: Quần đảo Hoàng Sa ở phía tây bắc, vốn được tuyên bố chủ quyền bởi cả Việt Nam; bãi đá Macclesfield, bãi đá ngầm Scarborough Reef ở phía bắc, được tuyên bố chủ quyền bởi cả Phillipin; và quần đảo Trường Sa ở phía Nam (rất nhiều tuyên bố chủ quyền từ cả Việt Nam, Phillipin, Malaysia và Brunei, giữa từng quốc gia và giữa các quốc gia với Trung Hoa).

Hiện đang có tranh chấp giữa nhiều bên để chiếm chủ quyền của các quần đảo này càng nhiều càng tốt - trong khi một số đảo chẳng có gì ngoài đá. Điều này, một phần là do Luật biển của Liên hợp quốc, đã được tất cả các quốc gia này phê chuẩn, rằng các quốc gia ven biển được quyền tuyên bố chủ quyền trong vòng 200 dặm biển cho vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) (cho phép đặc quyền khai thác thủy sản và tài nguyên dầu) do chúng có thể duy trì đời sống kinh tế tự túc. Nếu không, các quốc gia này chỉ có quyền tuyên bố chủ quyền trong phạm vi 12 hải lý của lãnh hải.

Điều làm tăng thêm mối quan ngại của khối Asean về ý đồ của Bắc Kinh đó là, ngay cả khi Trung Hoa có thể tuyên bố chủ quyền một cách hợp lý đối với toàn bộ các quần đảo ở biển Đông, và tất cả các quần đảo đều có thể sinh sống, thì vùng đặc quyền kinh tế EEZ gắn liền với các đảo đó không bao gồm các vùng biển nằm trong đường lưỡi bò trong bản đồ năm 2009 mà Trung Hoa đưa ra. Điều này đã gây ra những lo ngại, không phải là vô căn cứ, rằng Trung Hoa không có ý định hành động tuân thủ những điều khoản quy định trong Công ước biển, và có lẽ sẽ đưa ra tuyên bố chủ quyền rộng hơn dựa trên lịch sử.

Một cách thức hợp lý hơn cho thời gian tới có thể bắt đầu nếu các nước đều bình tĩnh trước hành động khiêu khích ra bên ngoài của Trung Hoa và lời kêu gọi chủ nghĩa dân tộc cực đoan bên trong. Chưa có gì đáng báo động từ phía nhà nước cộng sản, bao gồm toàn bộ chính phủ và đảng cộng sản, qua đó Trung Hoa quyết định hành động triệt để. Thay vào đó, theo một báo cáo xuất sắc được phát hành vào tháng Tư bởi Nhóm Khủng hoảng Quốc tế (International Crisis Group), các hành động của Trung Hoa tại biển Đông trong vòng ba năm qua có vẻ đã nổi lên từ những sự khơi mào không nhất quán của các ‘diễn viên’ nội địa khác nhau, bao gồm chính quyền địa phương, cơ quan thực thi pháp luật, các công ty năng lượng thuộc sở hữu nhà nước, và Quân đội giải phóng nhân dân Trung Hoa(PLA).

Bộ Ngoại giao Trung Hoa hiểu rõ về những hạn chế trong luật quốc tế hơn bất cứ ai, chưa hề làm gì vượt quá giới hạn. Nhưng với các hành động của Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Hoa và các hành động khác gần đây, khi quá trình chuyển giao quyền lực của quốc gia này (gây ra căng thẳng cho nhiều quan chức chủ chốt ở trung ương) sẽ xong xuôi vào cuối năm nay, đó là lý do để hy vọng rằng trạng thái kiềm chế hơn của Trung Hoa sẽ được xác lập.

Trung Hoa có thể và nên hạ nhiệt bằng cách cân nhắc lại các phương sách giảm thiểu rủi ro và gây dựng lòng tin một cách ôn hòa hơn như đã thỏa thuận với ASEAN năm 2002 - và xây dựng trên nền tảng đó bộ nguyên tắc ứng xử đa phương mới. Và, càng sớm càng tốt, nó cần phải được định nghĩa chính xác, với sự tham khảo các nguyên tắc đã được hiểu và chấp nhận, để biết tuyên bố chủ quyền của họ thực ra tới đâu. Chỉ khi đó lập trường của nhà nước Trung Hoa mới có được sự tin tưởng - với những nguyên tắc không phải không hấp dẫn - về thỏa thuận chia sẻ tài nguyên  trong khu vực tranh chấp lãnh thổ mà hiện vẫn còn chờ nghị quyết cuối cùng từ các tuyên bố chủ quyền cạnh tranh.

Hoa Kỳ, về phần mình, trong khi bào chữa cho việc tham gia vào việc tuyên bố chủ quyền của ASEAN là nhằm chống lại hành động quá khích của Trung Hoa trong giai đoạn 2010 - 2011, cần phải cẩn trọng về việc leo thang ảnh hưởng của mình. Việc quân đội Mỹ “cắm chốt” ở châu Á đã gây ra sứt mẻ tình cảm với Trung Hoa và việc duy trì quan hệ ngoại giao cũng khó khăn hơn trong thời kỳ chuyển giao quyền lực. Trong bất cứ sự kiện nào, mối quan ngại nhà nước của Hoa Kỳ về tự do hàng hải trong khu vực này có vẻ hơi cường điệu.

Một điểm tích cực, và được hoan nghênh rộng rãi là, một bước mà Hoa Kỳ có thể tiến tới đó là cuối cùng phê chuẩn Công ước biển, qua đó các nguyên tắc sẽ buộc phải là nền tảng cho việc chia sẻ tài nguyên một cách hòa bình - trong vùng biển Đông cũng như ở mọi nơi. Yêu cầu các bên làm theo lời một bên là điều không tưởng nó cũng như sẽ không hiệu quả nếu yêu cầu các nước phải tuân theo hành động của một nước. 

@Project Syndicate 2012

Ghi chú:
1. Lord Palmerston (20 tháng 10 năm 1784 -18 tháng 10 năm 1865): một chính khách Anh đã từng phục vụ hai lần làm Thủ tướng Chính phủ trong giữa thế kỷ 19. Ông được nhớ đến vì chính sách đối ngoại của Anhthông qua một khoảng thời gian khi Anh đang ở đỉnh cao quyền lực toàn cầu. Ông đã từng Bộ trưởng Ngoại giao Thủ tướng Chính phủ Anh.

2. Schleswig – Holstein: là 2 vùng đất của tiểu bang cùng tên đôi hiện là tiểu bang thứ 6 thuộc cực Bắc của Liên Bang Đức kể từ sau chiến tranh thế giới II. Trước đó, 2 vùng đất này thuộc tranh chấp giữa 2 quốc gia Đan Mạch và Đức. Dù các lãnh đạo của 2 vùng đất soạn thảo văn bản pháp luật và xin theo Liên Bang Đức vào năm 1848. Nhưng chiến tranh đã xảy ra từ năm1848 đến1851 và Đan Mạch đã thắng. Sau đó đến thời kỳ thủ tướng thép Otto von Bismarck - một người đã đưa Đức hùng cường trong thế kỷ XIX - can thiệp và Phổ cùng Áo tuyên chiến với Đan Mạch. Đây là cuộc chiến tranh thứ hai của Schleswig kết thúc với sự thất bại Đan Mạch. Anh cố gắng để hòa giải không thành công, và Đan Mạch bị mất Schleswig (miền Bắc và miền Nam Schleswig), cả Holsteinvào cuộc chiến tháng 11/1863.

 Bản đồ vùng Schleswig – Holstein thuộc Đức hiện nay tiếp giáp với biên giới Đan Mạch

Đến chiến tranh thế giới I, Đức thất bại thì lực lượng đồng minh lại quyết định tiểu bang này thuộc về Đan Mạch. Năm 1937 Đức quốc xã đã thông qua cái gọi là Greater Hamburg Act để chiếm vùng này. Sau khi Chiến tranh thế giới thứ hai, tỉnh Schleswig-Holstein nằm dưới sự chiếm đóng của Anh. Ngày 23 tháng tám năm 1946. Chính phủ quân sự bãi bỏ tỉnh và thiết lập lại chúng như là một vùng đất riêng biệt. Schleswig-Holstein có quốc hội riêng của mình và chính phủ được đặt tại thành phố Kiel. Tuy nhiên hiện nay thuộc về nước Đức.

BS Hồ Hải hiệu đính và ghi chú - Asia Clinic - 11h35' ngày thứ Năm, 02/8/2012

Thứ Hai, 30 tháng 4, 2012

NHỮNG GIÁ TRỊ CỦA TRUNG HOA?


Bài viết của tác giả:

Bài đọc liên quan:

Bài viết gốc: Chinese Values?

Joschka Fischer là Ngoại trưởng và Phó thủ tướng Đứcgiai đoạn 1998-2005, một thời kỳ được đánh dấu bởi quan điểm về quốc phòng mạnh mẽ của ông về sự tham gia của Đức trong việc can thiệp của NATO ở Kosovo năm 1999, sau đó ông phản đối mạnh mẽ về chiến tranh ở Iraq. Fischer tham gia chính trị sau khi tham gia các cuộc biểu tình đối lập về chính trị xã hội trong những năm 1960s và 1970s, và ông đóng một vai trò quan trọng trong việc thành lập Đảng Xanh của Đức, đảng mà ông đã lãnh đạo trong gần hai thập kỷ.

BÁ LINH Hiện nay có thể có chút nghi ngờ hợp lý rằng nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa sẽ thống trị thế giới trong thế kỷ 21. Tăng trưởng kinh tế nhanh chóng, tiềm năng chiến lược, thị trường nội địa to lớn, và đầu tư rất lớn cho cơ sở hạ tầng, giáo dục, và nghiên cứu và phát triển, cũng như sự tăng cường xây dựng quân đội to lớn của Trung Hoa, đã cho thấy điều đó. Điều này có nghĩa là, về chính trị và kinh tế, chúng ta đang bước vào một thế kỷ Đông Á và Đông Nam Á.

Vì sợ rằng chúng ta quên, nhưng hậu quả đối với thế giới sẽ còn tồi tệ hơn nếu sự đi lên của Trung Hoa thất bại. Nhưng thế giới này sẽ như thế nào? Chúng ta có thể thấy trước quyền lực về địa chính trị của Trung Hoa, nhưng những giá trị nền tảng gì sẽ làm nên việc thực hiện quyền lực đó?

Chính sách của Trung Hoa về "Bốn Hiện đại hóa" (công nghiệp, nông nghiệp, quân sự, và khoa học - công nghệ) đã củng cố sự trỗi dậy của Trung Hoa kể từ cuối những năm 1970 đã không giúp được việc trả lời cho câu hỏi đó, bởi vì "Năm hiện đại hóa" vẫn còn thiếu - đó là sự phát triển của nền dân chủ và giá trị của pháp luật. Thật vậy, hiện đại hóa chính trị phải đối mặt với đa số chống đối từ Đảng Cộng sản Trung Hoa, họ không quan tâm đến việc từ bỏ quyền lực đơn nguyên. Hơn nữa, hầu như mọi tư tưởng đều chỉ quan tâm đến ngăn chặn việc chuyển đổi sang một hệ thống đa nguyên, xung đột chính trị thực sự sẽ là rủi ro, nguy cơ sẽ phát triển một nền cai trị độc đảng kéo dài (và đặc quyền tham nhũng đi kèm với nó) vẫn còn tồn tại.

Về y thức hệ, lãnh đạo Trung Hoa từ chối các quyền con người, dân chủ, và pháp quyền. Trên cơ sở sự bất đồng với những giá trị được cho là phổ quát của thế giới, thì Trung Hoa cho nó như một con chim mồi (*stalking horse) chỉ lợi ích của phương Tây, và họ khước từ, do đó họ xem việc này như là một vấn đề của lòng tự trọng (self-respect). Trung Hoa sẽ không bao giờ bàn luận trở lại với phương Tây về quân sự, vì vậy quân sự không nên đem ra làm chuẩn mực của phương Tây.

Và ở đây chúng ta quay trở lại với khái niệm "những giá trị châu Á", ban đầu được phát triển tại Singapore và Malaysia. Nhưng cho đến ngày nay, sau ba thập kỷ, ý nghĩa của nó vẫn chưa rõ ràng. Về cơ bản, khái niệm của chữ "phục vụ" để biện minh cho chủ nghĩa tập thể, độc tài cai trị bằng cách quy kết nó với văn hóa và truyền thống địa phương, với quyền tự chủ quy định tại các điều khoản của sự khác biệt - có nghĩa là, sự khác biệt những nguyên lý giá trị giữa Trung Hoa và phương Tây. Như vậy, "những giá trị châu Á" không phải là những tiêu chuẩn phổ quát, là một chiến lược tự vệ đã được khai thác để đồng nhất văn hóa và truyền thống vào chính trịcủa Trung Hoa.

Với lịch sử chủ nghĩa thực dân ở châu Á của phương Tây, Trung Hoa mong muốn duy trì một bản sắc khác biệt là cả hai vấn đề hợp pháp và dễ hiểu, nó cũng như là niềm tin ở nhiều nước châu Á - đầu tiên và quan trọng nhất Trung Hoa - mà đã có thời nó được dùng để bảo vệ các quan điểm . Tuy nhiên, các nỗ lực để duy trì quyền lực của một quốc gia, nhu cầu cho một bản sắc riêng biệt "châu Á", và mong muốn giải quyết các quan điểm lịch sử sẽ không giải quyết được vấn đề quy phạm pháp luật làm trổi dậy một Trung Hoa mới nổi như là quyền lực thống trị của thế kỷ.

Làm thế nào để câu hỏi đó được trả lời là điều quan yếu, bởi vì nó sẽ xác định đặc trưng của một quyền lực toàn cầu, và do đó làm thế nào để Trung Hoa quan hệ với các quốc gia khác, những nước yếu hơn. Khi một quốc gia trở thành một cường quốc của thế giới thì tiềm năng và ý nghĩa chiến lược của nó phải đủ khả năng để tiếp cận toàn cầu. Và, như một quy luật, những quốc gia như vậy sau đó cố gắng bảo vệ lợi ích của mình bằng cách áp đặt sự ưu thế của mình (quyền bá chủ), đó là một công thức cho những xung đột nguy hiểm, nếu cường quốc đó chỉ biết dựa vào cưỡng chế hơn là hợp tác.

Sự thích nghi của thế giới với một cấu trúc bá quyền toàn cầu còn lại sau chiến tranh lạnh - trong đó các cường quốc thế giới đảm bảo một trật tự quốc tế. Liên Xô không có ý thức hệ chống lại phương Tây, bởi vì chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa xã hội là những phát minh của phương Tây, mà Liên Xô chỉ chống phương Tây về lĩnh vực chính trị. Và nó đã thất bại không chỉ vì những lý do kinh tế, mà còn vì những hành vi đối nội và đối ngoại của Liên Xô được xây dựng trên sự ép buộc, và bất đồng.

Ngược lại, mô hình kinh tế và chính trị của Hoa Kỳ, và phương Tây, với các quyền cá nhân và xã hội cởi mở, đã tỏ ra là vũ khí sắc bén nhất của nó trong Chiến tranh Lạnh. Mỹ chiếm ưu thế không phải vì ưu thế quân sự của nó, bởi vì quyền lực mềm của nó, và độc quyền của nó không dựa vào một nền tảng cưỡng chế (mặc dù nó cũng tỷ lệ nhỏ cưỡng chế bên trong), nhưng phần lớn là dựa vào sự đồng thuận.

Con đường nào để cho Trung Hoa sẽ lựa chọn? Trong khi Trung Hoa sẽ không thay đổi nền văn minh cổ xưa và đáng ngưỡng mộ của mình, thì nó lại công nhận sự trổi dậy của nó để lang chạ với những mô hình hiện đại hóa của phương Tây đương đại - những thành tựu to lớn của Đặng Tiểu Bình, người đã đưa đất nước Trung Hoa như ngày hôm nay từ cách đây hơn ba thập kỷ. Nhưng câu hỏi quyết định về hiện đại hóa chính trị vẫn chưa có ai trả lời.

Rõ ràng, lợi ích quốc gia, và đôi khi là quyền lực thuần túy, đóng vai trò một phần ở Mỹ và các nước phương Tây khác nhờ vào áp dụng các giá trị nhân quyền, giá trị của pháp luật, dân chủ và đa nguyên. Nhưng các giá trị này không chỉ là cánh cửa sổ tư tưởng được trang trí bằng những tấm rèm đẹp cho lợi ích của phương Tây, trong thực tế, các giá trị đó là quyền căn bản của mỗi con người. Chúng như không khí để thở, và còn hơn thế nữa trong một thời đại toàn cầu hóa toàn diện.

Sự đóng góp của châu Á - đặc biệt Trung Hoa - đến sự phát triển của các giá trị có khuynh hướng toàn cầu là không thể dự đoán được, nhưng chắc chắn nó sẽ đến nếucông cuộc "Năm hiện đại hóa" dẫn đến sự thay đổi chính trị của Trung Hoa. Để Trung Hoa trở thành một cường quốc có tiếng nói quyết định đáng kể với thế giới, buộc Trung Hoa phải đối mặt với vấn đề thứ năm này.

@Project - Syndicate 2012
Ghi chú của người dịch:
* Stalking Horse: Đúng nghĩa của nó là ngựa mồi. Từ stalking horse xuất phát từ những người thợ săn bắn. Họ thấy rằng khi đi săn bắn thì các loài động vật sẽ sợ con người. Và khi họ dắt theo con ngựa của mình thì các loài động vật bị săn lùng sẽ không sợ và họ dễ dàng săn bắt. Ở ta khi đi bẫy chim thường dùng chim mồi. Với các nước cộng sản thì chim mồi dân chủ kiểu trăm hoa đua nở, trăm nhà đua tiếng thời Mao làm Đại Văn Cách thanh trừng phe nhóm, và thời kỳ Nhân Văn Giai Phẩm cũng giống tương tự. Và hiện nay ở Việt Nam, trên diễn đàn ảo không thiếu những loại chim mồi dân chủ chuyên dụ người khác đứng ra biểu tình, bất đồng chính kiến, etc...

BS Hồ Hải dịch – Tư gia – 20h30’ ngày thứ Hai, 30/4/2012

Thứ Sáu, 20 tháng 4, 2012

LIỆU BẮC HÀN CÓ ĐANG MẤT TRUNG HOA?


Bài đọc cùng tác giả: 

Bài đọc liên quan:

Bài viết gốc: Is North KoreaLosing China?


Bài viết của Christopher R. Hill, hiện đang là hiệu trưởng Trường Nghiên cứu Quốc tế Korbel của University of Denver. Ông là một trong những kiến ​​trúc sư chính của ngoại giao Mỹ trong những năm 1990s và 2000s. Một cựu trợ lý ngoại trưởng về Châu Á Thái Bình Dương, đã từng là Đại sứ Mỹ tại Iraq, Hàn Quốc, Macedonia, và Ba Lan, đặc phái viên Mỹ tại Kosovo cuối thặp niên 1990s, một nhà đàm phán chính cho Hiệp định Hòa bình Dayton, làm kết thúc chiến tranh Bosnia,  và là nhà lãnh đạo của hoa Kỳ đàm phán sáu bên về vấn đề hạt nhân của Bắc Hàn giai đoạn từ năm 2005 đến 2009.

DENVER - Đối với hầu hết các quốc gia, sự thất bại làm thu hút sự chú ý toàn cầu của một vụ phóng tên lửa có nghĩa là quay trở lại từ đầu(a return to the drawing board = back to drawing board), hoặc ít nhất là cần có một số cái nhìn nội tình nhằm tìm ra những gì đã đi sai đường. Nhưng điều đó không xảy ratrường hợp của Bắc Hàn, nơi mà sự ra mắt tên lửa tầm xa Unha 3 chỉ đơn thuần là thiết lập một thời kỳ cho một cấp độ mới của sự thách thức: một vụ nổ hạt nhân khác, có lẽ lớn hơn trong quá khứ.

Có vẻ như, thế giới phải thấy cái mà các nhà khoa học Bắc Hàn đã làm chủ như thế nào để sản xuất một loại vũ khí hủy diệt hàng loạt, mặc dù bị đói kém trong sản xuất thực phẩm. Và như một cuộc biểu dương lực lượng cần thiết để thực hiện việc trao quyền hợp pháp cho nhà lãnh đạo mới thuộc thế hệ thứ ba, Kim Chính Ân, một cậu bé độc tài mà cho đến nay mới chỉ được chứng minh trên truyền hình rằng ông có thể cưỡi được ngựa, và thể hiện mình là người biết đọc.

Từng được sử dụng như là một thước đo của sự cảm thông ở châu Á cho một Bắc Hàn dũng cảm và thách thức hệ thống của họ đối với Hoa Kỳ và phần còn lại của cộng đồng quốc tế. Nhưng những ngày đó đã qua. Khi Hội đồng Bảo An Liên Hợp Quốc thông qua sự nhất trí về tuyên bố vào ngày 16 tháng 4 cho thấy, không có quốc gia nào, kể cả Trung Hoa, cố gắng làm bất kỳ cái gì ngoài việcđối phó với Bắc Hàn.

Đặc biệt, Trung Hoa dường như đã mất kiên nhẫn. Được biết, trong thời gian chuẩn bị để phóng tên lửa, Bắc Hàn từ chối đáp ứng những lời khẩn cầu(plea) của Trung Hoa rằng họ nên rút lui (stand down). Trung Hoa đã có nhiều thế kỷ kinh nghiệm đối phó với các vấn đề trên bán đảo Triều Tiên, đây là lần khó khăn nhất của các nước láng giềng nhỏ, chư hầu của đế chế Trung Hoa, nhưng thậm chí Trung Hoa không nhận được bất kỳ một thông tin hồi đáp nào của Bắc Hàn, đó là một sự xúc phạm mới.

Nếu vấn đề nào với Bắc Hàn được giải quyết không, thì nó sẽ được Trung Hoa trả lời rằng họ đã làm hết sức mình. Việc kiểm soát Bắc Hàn vẫn đang diễn ra, nhưng trong lúc này, có những dấu hiệu đáng lo ngại là những đầu tư và thương mại của Trung Hoa ở Bắc Hàn, trong đó có 1 siêu thị Trung Hoa, mà ở đó tiền tệ địa phương có thể được giao dịch như những tỷ giá của một thị trườngtự do (có nghĩa là thị trường chợ đen), kỳ lạ là nó có thể làm cho Trung Hoa phải phụ thuộc vào Bắc Hàn.

Những nhà đầu tư và thương nhân vào Trung Hoa trong những năm gần đây đến từ Nhật Bản và Hàn Quốc, hai đối tác thương mại lâu đời của Bắc Hàn, đã rút lui, do các biện pháp trừng phạt chính thức và tăng kích thích cộng đồng với hành vi không khoan nhượng của Bắc Hàn. Trong khi đó, thương mại của Trung Hoa với Bắc Hàn đã tăng từ khoảng 1 tỷ đô la trong năm 2005 lên hơn 5,1 tỷ vào năm 2011. Các mô hình tổng thể là quen thuộc: Trung Hoa nhập khẩu những nguyên vật liệu từ Bắc Hàn, chẳng hạn như than đá, và xuất khẩu máy móc, hàng tiêu dùng, và các sản phẩm dầu mỏ tinh chế.

Chính phủ Trung Hoa đã chứng minh việc trao đổi thương mại đang phát triển này bằng cách tuyên bố rằng, Bắc Hàn sẽ phải đánh giá cao những kỳ diệu của một nền kinh tế thị trường. Nhưng đó đơn giản chỉ một nỗ lực để làm một nghĩa cử cần thiết: cho một quốc gia mà ở đó có một trong những chế độ quan liêu bậc nhất trên toàn cầu, Trung Hoa có một thời kỳ khó khăn đến kinh ngạc để nói với cộng đồng kinh doanh của nó, là không phải để làm kinh doanh với một ai đó, đặc biệt là đối với một người bạn và đồng minh có tính lịch sử.

Sự miễn cưỡng từ lâu của các nhà lãnh đạo Trung Hoa để tham gia vào các biện pháp trừng phạt quốc tế thường là do niềm tin của họ bằng vào việc đánh giá có hoặc không trong việc phán xét những hành động, để họ thực hiện. Có lẽ chủ nghĩa thực dụng thực sự được phô bày trong trường hợp của Bắc Hàn là một sự miễn cưỡng để kiềm chế trong cộng đồng doanh nghiệp ở thời điểm mà kinh tế Trung Hoa đang tăng trưởng chậm hơn và lo việc củng cố nội bộ như hiện nay.

Sự trỗi dậy của Trung Hoa là một trong những sự phát triển được nghiên cứu nhiều nhất trong thời đại của chúng ta. Với tất cả những gì của một quốc gia có thể được mô tả như là một nền văn minh, và con đường đi của Trung Hoa đã tạo ra rất nhiều ấn tượng hơn bất kỳ những thử nghiệm tên lửa nào của Bắc Hàn. Nó đã nổi lên từ cái mà họ gọi là sau "một thế kỷ tủi nhục" để trở thành một trong những động lực phát triển kinh tế và thành tựu trí tuệ cũng như văn hóa của thế giới. Khi thăm Trung Hoa bạn sẽ phải choáng váng bởi những thành tựu của trên phạm vi của sự nổ lực cho đời sống con người.

Nhưng, như nhiều người Trung Hoa thừa nhận, đất nước của họ vẫn còn nhiều việc phải làm, cả trong nội bộ và trong giao dịch với phần còn lại của thế giới. Một số việc mà doanh nghiệp chưa hoàn thành, bao gồm việc hòa giải các cam kết trong quá khứ với những lợi ích hiện hành. Tất cả các quốc gia đều phải mang trong mình một số gánh nặng từ quá khứ, và Trung Hoa không là ngoại lệ. Nhưng gánh nặng bảo vệ Bắc Hàn từ sự phẫn nộ chính đáng của thế giới thì Trung Hoa không thể đủ khả năng để thực hiện lâu dài.

Bây giờ sẽ là một thời điểm rất tốt cho Trung Hoa, như thành ngữ, bỏ tiền vào những nơi mà bạn đặt niềm tin bằng cửa miệng (to put its money where its mouth is). Trung Hoa nên tiếp bước với lá phiếu của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc lên án hành vi của Bắc Hàn, bằng cách đóng cửa thương mại song phương.

@Project – Syndicate 2012

BS Hồ Hải dịch - Asia Clinic - 14h05' ngày thứ Sáu, 20/4/2012