nha ban quan tan binh | mua nha quan tan binh

Thứ Hai, 24 tháng 2, 2014

KÝ SỰ HOA KỲ 3: GIẢI QUYẾT NHỮNG BẤT CẬP

Bài đọc liên quan:

Cũng như mọi quốc gia khác trên toàn cầu, Hoa Kỳ cũng có những bất cập của loài người tồn tại từ 1776 đến nay. Nếu những quốc gia nhược tiểu có cái bất cập của xứ hoang dã, hạ đẳng của loài động vật gần như bậc thấp, thì Hoa Kỳ có những bất cập của quốc gia đại ca toàn cầu.

Bất cập lớn nhất và có tính bản chất của Hoa Kỳ là thể chế của Hoa Kỳ luôn phải thúc đẩy toàn dân Hoa Kỳ trong tư thế chủ động để làm đại ca toàn cầu. Từ bất cập này, công dân Hoa Kỳ như một cái máy làm việc cật lực, ăn chơi hết mình, và luôn tiên phong trong mọi sáng tạo.

Câu chuyện bất cập của Hoa Kỳ luôn phải tiên phong trong mọi sáng tạo thì ai cũng rõ. Vì từ khoa học xã hội đến khoa học tự nhiên hầu hết mọi phát minh, phát kiến được trao giải Nobel hằng năm thì Hoa Kỳ luôn chiếm phần đông. Ngoài ra, ngay cả giải Nobel cho những khoa học gia ngoài Hoa Kỳ, thì phần đông họ cũng phải làm việc, nghiên cứu tại Hoa Kỳ. Hơn nữa, ngay những phát kiến, phát minh phục vụ cho thực tế cuộc sống hầu hết cũng có nguôn gốc xuất xứ từ Hoa Kỳ. Ví dụ, Bill Gates với hệ điều hành Microsoft mở một cửa sổ cho nhân loại nhìn ra toàn cầu; Steve Jobs với sự khiêm nhường chỉ xin cắn 1 phần quả táo toàn cầu, nhưng máy tính cá nhân, Ipad, Iphone đã làm thay đổi cả thế giới; v.v... Thế giới còn lại hầu như mua bảng quyền hoặc ăn cắp sao chép từ Hoa Kỳ.

Động lực làm đại ca toàn cầu, để giữ ngôi vị siêu cường số 1 toàn cầu của Hoa Kỳ là một thúc bách lớn làm người dân Hoa Kỳ luôn phải năng động và cật lực trong cuộc mưu sinh. Nhưng để động lực ấy được truyền từ thể chế chính trị xuống đến người dân, mà người dân cảm thấy nó là một niềm hứng khởi để làm việc hết mình, để sống chết vì lý tưởng tự do là một nghệ thuật mà các chính khách phải vắt óc để đưa ra chính sách hợp lý và khoa học.

Nơi Alejandro - một binh lính viễn chinh của Hoa Kỳ tại Iraq - nằm cũng chính là nơi các tướng lĩnh Hải quân Hoa Kỳ cùng nằm tại Nghĩa trang Nghĩa tử Quốc gia California. Ở đó là mảnh đất vàng đẹp nhất Hoa Kỳ và California nằm ở vịnh Cabrillo. Ở đó không phân biệt cấp bậc và chủng tộc.

Ngày 18/02/2014, tôi được người bạn đưa đi thăm San Diego - thủ phủ của căn cứ hải quân Hoa Kỳ trên toàn cầu. Ở đây tôi đã rơi nước mắt trước tấm bia mộ của chàng trai trẻ có tên Alejandro A. Dominguez. Anh đã nằm xuống ở tuổi 25 tại chiến trường Iraq, với lời âu yếm của bậc sinh thành trên bia mộ: "Ta sẽ luôn yêu mến con, con trai bé bỏng - I will always love you baby!" Nơi Alejandro nằm là nơi mà cả tướng lĩnh và đô đốc cùng nằm. Không có sự phân biệt thứ hạng, cấp bậc trong quân ngũ khi còn sống. Nơi Alejuandro nằm là nơi đất vàng, đẹp nhất của tiểu bang California!

Tại sao ở tuổi thanh niên phơi phới của một công dân số 1 toàn cầu, đang ở thời vàng son, mộng mơ, yêu đương vẫn còn mài đủng quần trên ghế nhà trường như Alejandro, lại tự nguyện đi đến vùng đất mà, chưa có một ngày ân oán với đời mình để hy sinh cho một dân tộc khác một cách tự nguyện?

Cũng như tại sao nhà giàu ở Hoa Kỳ sau khi về hưu thì di chúc lại tài sản hiến cho quốc gia, trường học, cộng đồng. Nhưng điều đó chưa bao giờ xảy ra ở những quốc gia nhược tiểu luôn tự sướng và cho rằng mình là quốc gia hạnh phúc nhất toàn cầu?

Tại sao người dân Hoa Kỳ luôn phải sắp xếp thời gian mợt cách chi ly cả năm từ khi còn là học sinh tiểu học, trong cuộc sống đầy đặc những công việc, nhưng họ vẫn sống trung thực, theo pháp luật, vui vẻ đóng thuế rất cao cho tương lai của thế hệ sau và cho bản thân mình. Nhưng ở các quốc gia nhược tiểu luôn tự sướng cho mình là xứ thiên đàng lại lắm lừa dối và gian manh?

Tại sao người dân Hoa Kỳ chấp nhận đóng thuế thổ trạch cho mảnh đất có căn nhà được quyền sở hữu của mình, nhưng ở những quốc gia tự sướng, và tự cho mình là thiên đường - như Việt Nam - hiện vẫn chưa có việc đóng thuế thổ trạch trên mảnh đất có căn nhà, mà dân chỉ được quyền sử dụng mà không được quyền sở hữu?

Có rất nhiều câu hỏi tại sao cho những bất cập ở Hoa Kỳ. Nhưng những bất cập ấy lại là động lực để người công dân Hoa Kỳ biến nó thành sức mạnh cho tiềm năng vô hạn của mình để thực hiện nhiệm vụ vinh quan cai quản toàn cầu của họ. Trong khi đó, những bất cập ở các quốc gia nhược tiểu - như Việt Nam - nó lại là trở lực ngăn cản sự tiến bộ và văn minh. Đó là nhiện vụ của một thể chế chính trị làm nên.

Tôi còn nhớ bài phát biểu của cựu Tổng thống Bill Clinton năm 2000 tại Hà Nội, Vào WTO là nhập vào với cơn bão tố và sóng dữ, nhưng nếu biết cách biến sóng dữ và gió to của bão tố thành năng lượng điện để dùng thì WTO sẽ là cơ hội, mà không còn là nguy cơ nguy hiểm. Đó là nhiệm vụ của chính trị, vì chính trị là nghệ thuật của sự có thể.

Không có quốc gia nào không có bất cập. Mọi bất cập do chính con người gây ra. Vấn đề là một thể chế xã hội tốt là thể chế biết biến những bất cập và trở ngại ấy thành thuận lợi và nhân bản. Đó là nhiệm vụ của chính trị - nghệ thuật của sự có thể. 

Đừng lừa dối, mà hãy làm tròn trách nhiệm của mình ở mọi vị trí xã hội, thì sẽ không trở thành quốc gia nhược tiểu và dân tộc đớn hèn. Đó là cách mà Hoa Kỳ đưa thông điệp đến toàn cầu trong cách giải quyết những bất cập của xã hội loài người.

Asia Clinic, 18h46; ngày thứ Hai, 24/02/2014

Mời đọc tiếp: Ký sự Hoa Kỳ 4: Vì dân, do dân và của dân

Chủ Nhật, 23 tháng 2, 2014

KÝ SỰ HOA KỲ 2: SỰ KHÁC BIỆT CỦA HOA KỲ

Bài đọc liên quan:

Nói về sự khác biệt của Hoa Kỳ với thế giới còn lại thì nói cả năm không hết. Muốn nắm bắt sự khác biệt của Hoa Kỳ thì phải nắm từ bản chất của vấn đề, mà vấn đề cốt lõi ở đây là: đã là công dân của Hoa Kỳ thì sẽ là công dân số 1 toàn cầu. Tôi làm hồ sơ nhập cảnh Hoa Kỳ bắt đầu lúc 13h15' ngày 12/02/2014 theo giờ Los Angeles - tức khoảng 20h15' ngày 13/02/2014 giờ Việt Nam. Dù chỉ là một cửa khẩu quốc tế trong hàng chục cửa khẩu tương tự, nhưng chỉ buổi chiều hôm ấy có đến hàng trăm công dân từ các quốc gia trên toàn cầu từ Việt Nam, Trung Hoa, Trung Đông, Bắc Phi đến các quốc gia Đông Âu, và Tây Âu như, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Pháp, Đức, Anh, Israel, đến cả Thụy Sỹ, Đan Mạch, v.v... Chiều hôm đó có đến 56 quốc gia có công dân xin thị thực nhập cư Hoa Kỳ tại cửa khẩu phi trường Los Angeles!

Ngay từ khi đến sân bay quốc tế Los Angeles là văn hóa sống theo kỹ luật và pháp luật đã dạy cho tất cả mọi người một bài học: văn hóa xếp hàng, và chờ cho đến lượt mình, không phân biệt màu da, sắc tộc và chức vụ của bất kỳ ai. Hôm đó, có một gia đình của một viên chức làm việc cho chính phủ Mỹ, người Hoa Kỳ lấy vợ và sinh con gốc Ấn Độ. Ông bảo lãnh cho vợ con ông nhập cư, nên ông đích thân ra làm thủ tục cho vợ con ông, nhưng chính vợ con ông ta cũng phải xếp hàng đúng thứ tự như mọi người!

Dân nhập cư xếp hàng trước tòa nhà chính phủ của Hạt Los Angeles để chờ đến lượt mình vào làm thẻ và lấy số an sinh xã hội sáng ngày 13/02/2014 

Hôm sau đi đăng ký số an sinh xã hội - Social Security Number - cũng thế, ai đến trước vào trước, ai đến sau vào sau. Nhưng có một sự công bằng là, người già đi xe lăn và trẻ con thì được ưu tiên trước.

Văn hóa khác biệt làm nên một Hoa Kỳ khác biệt

Hoa Kỳ là một Hiệp Chủng Quốc với hầu hết các dân tộc toàn cầu tụ hội về đây tìm cho mình một tương lai. Trên cơ sở đó, nếu thể chế Hoa Kỳ không khác biệt và khoa học thì khó mlo2ng tạo nên một xã hội ổn định, phát triển hùng cường và trở thành siêu cường số 1 toàn cầu vào năm 1944, chỉ sau 168 năm lập quốc.

Nhưng sự khác biệt văn hóa đó đã làm nên một sự khác biệt lớn nhất của Hoa Kỳ so với thế giới còn lại là cơ sở hạ tầng - infrastructure - của nước Mỹ. Chữ cơ sở hạ tầng ở đây là một nghĩa đầy đủ của một hệ thống chính quyền từ cơ sở vật chất cơ bản, dịch vụ, và thiết lập những thành tố cần thiết cho sự hoạt động của một cộng đồng hay xã hội, chẳng hạn như giao thông vận tải và các hệ thống thông tin liên lạc, nước và đường dây điện, và các tổ chức công cộng như trường học, bưu điện, và nhà tù. 

Từ thập niên 1950s, TT Eisenhower đã đưa ra dự án lớn về cơ sở hạ tầng cho toàn bộ Hoa Kỳ. Trong đó, bắt đầu xây dựng xa lộ trong tiểu bang(Freeway) và xuyên bang (Interstate Highway) vì họ biết cơ sở hạ tầng như loại xa lộ này là cực quan trọng cho xự phát triển kinh tế.

Có câu chuyện vui nhưng là thực, khi anh em đi với nhau trên Freeway 10. Hôm ấy giờ tan tầm xa lộ 10 bị "kẹt xe", anh bạn đưa chúng tôi đi chơi với tốc độ 35 miles/h. Anh ta buộc miệng, tiên sư nó California, kẹt xe là chuyện thường ngày ở huyện. Mình thấy lạ, mình bảo, xe chạy hơn 50km/h mà kẹt gì cha nội? Anh ta bảo, xa lộ cho phép chạy 70miles/h, mình chỉ chạy được một nửa tốc độ là kẹt chứ còn gì ông anh? Khái niệm kẹt xe ở Mỹ không phải là kẹt cứng ngắt, đứng yên một chỗ như ở Việt Nam, ông anh ơi!

Ở các xa lộ xuyên bang - Interstate - cứ 1 mile là có 1 call box dành cho người đi đường gặp chuyện bất trắc có cái để gọi 911 không tốn tiền.

Ai muốn hiểu sự vĩ đại của Hoa Kỳ thì hãy đi hết những xa lộ tiểu bang và xa lộ liên bang trong toàn nước Mỹ. Ở các xa lộ xuyên bang - Interstate - cứ 1 mile là có 1 call box dành cho người đi đường gặp chuyện bất trắc có cái để gọi 911 không tốn tiền. Khi công nghệ viễn thông không dây và Ipad và Iphone của Steve Jobs ra đời chính phủ Mỹ đang lo dự án nhổ bỏ toàn bộ các cây điện thoại công cộng này. Nhưng trên free way và interstate Highway cứ 40miles lại có 1 rest area - nhà đi giải quyết những gì tồn đọng cho khách lữ hành. Nhiều Rest Areas này lại còn có cả phòng tắm đứng nữa để những chàng tài xế xe tải đường trường ghé nghỉ/ngủ.

Nhưng vấn đề ở cơ sở hạ tầng của Hoa Kỳ không chỉ là hệ thống xa lộ tiểu bang và xuyên bang. Nó còn là quy hoạch đô thị. Nói chuyện với một chuyên gia chuyên đầu tư bất động sản thì mới rõ, ở California, xin giấy phép xây dựng một căn nhà phải mất thời gian trung bình 8 tháng. Nhưng xin xây dựng từ 2 căn nhà trở lên tại một khu nhà ở thì phải mất thời gian trung bình 4 năm, dù 2 căn hay 30 căn cũng chừng ấy thời gian. Vì sao? Vì phải làm dự án điện, nước, cống rảnh, đường xá, v.v... cho phù hợp với thành phố mà anh muốn xây nhà trình lên chính phủ thành phố. Sau khi chính phủ phê duyệt, chính phủ sẽ trình với dân chúng trong thành phố, có những đại diện thành phố góp ý kiến, bảo sửa chỗ này, di dời chỗ kia, không được chặt cây này, phải trồng cây mới, diện tích dành cho sân vườn, cây cảnh, gần chợ siêu thị, trường học cho trẻ em, bệnh viện cho mọi người, v.v... phải đúng với tiêu chuẩn. Sau đó nhà đầu tư mang hồ sơ về chỉnh sửa theo ý dân và ý của chính quyền thì hồ sơ mới được thông qua.

Cổng vào phía Tây khu Bel Air trên đại lộ Sunset - khu của giới thượng lưu trong đồi Beverly Hills. Hai bên là 2 cổng gác an ninh có camera quan sát và ghi hình cho khu Bel Air

Cái văn hóa duy lý của Hoa Kỳ quan niệm nhà ở là nơi để nghỉ dưỡng, và phục hồi sức lao động sau những giờ làm việc cực nhọc. Đó là sự khác biệt lớn với văn hóa duy tình xứ Á Đông, nhà ở cũng là nơi mua bán làm ra lợi nhuận.

Nhà ở Hoa Kỳ đắt rẻ tùy theo thành phố, đường phố yên tỉnh hay náo nhiệt. Thành phố có giá trị tùy theo trường học, bệnh viện, siêu thị, và tầng lớp dân chúng cư ngụ. Khu vực nhà ở luôn đắt tiền và an toàn nhất ở mọi tiểu bang của Hoa Kỳ là khu làng của những trường đại học. Trường đại học càng lớn và danh tiếng thì thành phố ở đó nhà cửa cũng đắt đỏ theo.

Nhà ở chỉ dùng để ở, không được dùng để kinh doanh và làm ăn. Nhà càng đắt khi càng yên tỉnh, vì nhà nào cũng ở mặt tiền đường nội địa. Nên càng ở mặt tiền đường càng lớn thì nhà có giá càng rẻ, do ồn ào có nhiều xe chạy qua. Nhà ở khu vực có nhiều giống dân có tầng lớp thấp thì càng mất giá. 

 Một căn biệt thự ở khu Bel Air thuộc Beverly Hills, với con đường quanh co nhỏ hẹp ở phía trước trị giá 12.5 triệu đô la thời giá 2006, mà nó có chủ nhân là diễn viên Sharon Stone trong phim Bản Năng Gốc - Basic Instinct.

Nhà ở góc ngã tư đường thì rẻ hơn nhà ở giữa đường. Ngược lại thuê hoặc mua một căn khu buôn bán góc ngã tư đường thì đắt hơn khu buôn bán ở giữa đường.

Cũng một câu chuyện vui khác, khi trên đường rong rủi, anh bạn đưa chúng tôi đi thăm khu trung tâm phố Beverly Hills dành cho dân trọc phú điện ảnh Hollywood, nói rằng, khu Bel Air đường rất hẹp, chỉ 2 làn xe đủ để 2 xe đi ngược chiều nhau, nhưng đắt nhất và quý phái nhất của Beverly Hiils. Quả thật, vào Bel Air đường thì hẹp, lại quanh co khúc khuỷu, nhưng nhà thì cây cối um tùm, kín cổng cao tường, ở trên, hoặc trong những quả đồi nho nhỏ, chỉ nghe thấy tiếng chim hót và một không khí yên bình. Đâu đó, có những nhân viên an ninh được thuê từ các hãng tư nhân đứng gác trên đường, hoặc bên trong những tòa nhà ở Beverly Hills hoặc của Bel Air.

Do quy hoạch cho cơ sở hạ tầng tốt, nên khu làm ăn buôn bán riêng biệt với khu nhà ở. Hầu hết những khu nhà làm ăn buôn bán là do các tập đoàn lớn mua và xây dựng, rồi cho thuê người khác kinh doanh, hoặc làm văn phòng đại diện. Một số khu là sở hữu chủ của những người sinh cơ lập nghiệp ở địa phương ngay từ đầu khu phố còn đất trống. Đại lộ Hollywood là một con đường nhỏ, với quy hoạch cho trung tâm điện ảnh. Khu Phúc Lộc Thọ ở phố Bolsa là trung tâm mua bán của người Việt tại thành phố Wesminster thuộc Quận Cam, v.v... Song những khu nhà ở thì tách biệt hoàn toàn với những khu thị tứ như thế này.

Kết

Cái văn hóa duy lý đến tận cùng đã làm nên Hoa Kỳ có một sự khác biệt trong quy hoạch cơ sở hạ tầng xã hội. Và cũng chính cái văn hóa duy lý này cũng làm nên một nền giáo dục khác biệt, luôn đi đầu trong xét tuyển nhân tài cho việc dạy, việc học và làm việc. Nền văn hóa đó đã đẩy Hoa Kỳ trở thành siêu cường số 1 toàn cầu từ 70 năm qua, mà có lẽ trong một thế kỷ tới chưa có bất kỳ quốc gia nào có thể soán ngôi được Hoa Kỳ. Đó là điều mà các quốc gia có thân phận nhược tiểu cần phải suy nghĩ cho một tương lai sáng lạn, chứ không phải bằng những câu khẩu hiệu hứa hảo của các chính khách dối trời, lừa dân.

Asia Clinic, 15h06' Chúa nhựt, 23/02/2014

Bài đọc tiếp theo: Ký sự Hoa Kỳ 3: Giải quyết những bất cập

Thứ Sáu, 21 tháng 2, 2014

KÝ SỰ HOA KỲ 1: NGƯỜI VIỆT VÀ HOA KỲ

Bao giờ cũng vậy, một sự việc luôn có 2 mặt của nó, như tế ông thất mã. Sau 30/4/1975, nếu nhìn ở mặt tiêu cực thi đây là lần di dân lớn nhất và nhục nhã nhất lịch sử nước Việt, khi người Việt cai trị dân mình, mà dân mình phải bỏ tổ quốc ra đi. Nhưng nếu nhìn ở mặt tích cực, thì đây là lần mà người Việt chứng tỏ với thế giới, dân tộc ta có mặt trên toàn cầu. Trong cuộc chơi đó, có nhiều nỗi vui, và niềm đau. Đó là những bất cập của cuộc đời. Sau 1 tuần bươn trải ở 3 thành phố lớn: Los Angeles, San Diego và Las Vegas như con thoi, tôi xin trải lòng với các thế hệ tương lai trong loạt bài ký sự Hoa Kỳ, hòng có cái nhìn thực tế và chuẩn bị hành trang khi các bạn trẻ muốn trở thành công dân toàn cầu, và có một tương lai tốt, dù sống ở bất cứ nơi đâu trên quả đất này.

Bên bức tường của các mạnh thường quân đóng góp xây dựng UCLA - University of California, Los Angels - mà họ là những sinh viên cũ của trường quay về làm cho trường ngày một hùng cường và lớn mạnh hơn. Ảnh của tác giả vào 7h sáng ngày 19/02/2014.

Thành công và thất bại

Tất cả những người tha phương cầu thực, cầu danh vọng ở Hoa Kỳ mà tôi gặp trực tiếp tâm sự, hoặc gián tiếp qua điện thoại đều có một mẫu số chung là: thành công dù ở bất cứ lứa tuổi nào đều hội nhập tốt với đất nước này. Những ai thất bại hay còn long đong đều có một mẫu số chung là, khó hoặc không thể hội nhập vì còn mang trong đầu tư duy sĩ diện, cái tôi quá lớn do văn hóa làng xã, tiểu nông gắn chặt trong tâm thức của họ.

Có những kỹ sư, bác sỹ biết bỏ cái tôi, hoặc học lại từ đầu để làm việc, hoặc học một bằng cấp thấp hơn để làm việc. Tất cả họ đều có gia đình hạnh phúc, công ăn việc làm đảm bảo đời sống tốt và một tương lai tốt đẹp cho thế hệ thứ hai.

Song những trí thức nửa mùa, vì quá quan trọng quá khứ một thời, họ không chịu từ bỏ vinh quang của quá khứ, họ lặn ngụp với cuộc sống hằng ngày chật vật, dù có sự chở che của dòng họ, gia đình, thì bản thân họ đầy bất trắc, nhưng thế hệ thứ hai của họ cũng đầy vinh quang. 

Dù thành công, hay thất bại thì có một điều chắc chắn với những người Việt Nam ở Hoa Kỳ đều có một kết quả chung là, thế hệ thứ hai đều thành đạt ngoài mong muốn. Có hàng chục đến hàng trăm trẻ ngày nào ở Việt Nam đã từng khó khổ mà tôi biết được, không biết có thể bước vào đại học lớn của Việt Nam hay không, thì bây giờ, các cháu hiển nhiên lấy học bổng toàn phần ở Harvard hay Stanford một cách đàng hoàng, và tương lai một vài năm tới là bác sỹ, dược sỹ rất đỉnh đạt đường hoàng.

Tôi vô cùng xúc động khi tiếp xúc với một bà mẹ phải đi làm tiếp viên quán phở suốt 10 năm liền, để nuôi 5 đứa con ăn học, và ngày nay chúng đã thành bác sỹ, kỹ sư, mà ước mớ đó, người Mẹ tần tảo này, dù ngày xưa ở Việt Nam chị ta thuộc tầng lớp giàu có, vẫn không mơ được con mình sẽ vào đại học! chị tâm sự với tôi trong nước mắt của sung sướng và hạnh phúc rằng: "Giờ chị chết cũng mãn nguyện Hải ơi!". Chị em cùng khóc trong hạnh phúc, dù hạnh phúc đó được trả giá bằng khổ cực ở xứ người.

Tùy hoàn cảnh, tùy tầng lớp lúc ra đi, và tùy tư thế, tâm thế khi đến Hoa Kỳ mà mỗi gia đình có một mức độ thành công khác nhau. Đặc biệt, thế hệ 1.5 ra đi nếu, không còn đường lùi và biết dẹp bỏ quá khứ giàu sang, danh vọng thì hầu hết thành công, có nhà cửa, vợ con đuề huề. Nhưng nếu, không biết dẹp bỏ quá khứ vinh quang thì tổ ấm gia đình hầu như tan vỡ.

Cái tự do của Hoa Kỳ như cái súng trao cho người phụ nữ Việt, mà ở đó, người phụ nữ Việt như một đứa bé chưa biết dùng súng. Họ bóp cò và vết thương gia đình rỉ máu, khi người đàn ông thế hệ 1.5 không sống với thực tế của cuộc đời, mà mãi ôm quá khứ mộng mơ. Nhưng miền đất mà thì giờ được tính bằng tiền bạc này lại không làm chết đi thế hệ thứ 2, mà tạo ra những thế hệ thành công ngoài sức mong đợi, dù thế hệ 1.5 có tan vỡ. Đó là điều khác biệt tốt đẹp cần ghi nhận.

Tình người

Dù ở đâu thì người Việt vẫn vậy. Đây là ghi nhận thấm thía mà tôi đã trải qua trong một tuần ở Hoa Kỳ. Nó làm đọng lại trong tôi những niềm yêu thương quý trọng và nỗi đau của văn hóa duy tình, mà người Việt chưa xóa bỏ được.

Có những người tiếng tăm lừng lẫy trong quá khứ cũng như hiện tại, họ có những lời hứa tốt đẹp, nhưng có cánh và biến mất khi tôi đến Hoa Kỳ, chỉ vì tiếng tăm đó không có thực khi họ đang ở Hoa Kỳ. Họ làm tôi buồn cho thân phận nhược tiểu với cái văn hóa duy tình!

Nhưng ngoài sự chăm lo hết mình của người trong gia đình, còn có những người bạn thầm lặng. Họ không tiếng tăm, họ đến Hoa Kỳ bằng đôi bàn tay trắng. Họ cật lực mưu sinh và họ trụ được ở Hoa Kỳ bằng sức của mình. Họ sống rất tình người ấm áp yêu thương và đùm bọc. Những con người này đã giúp tôi đến nỗi, tôi có một thời khóa biểu lấp đầy trong chỉ 7 ngày cưỡi ngựa xem hoa, nhưng ghi nhận được bản chất của cộng đồng Việt tại Hoa Kỳ. Những Henry ngày nào là sinh viên y khoa bỏ dở ra đi, những Gavin đến đất Mỹ chật vật mưu sinh, những Khiêm, v.v... cũng tần tảo để hôm nay, tất cả họ có gia đình, nhà cửa đàng hoàng bằng tiềm lực vô biên của chính mình, quả thật đáng yêu và đáng tự hào. Tôi kính trọng và yêu các bạn suốt cuộc đời này, vì các bạn đã làm tôi ấm lòng đến bất ngờ!

Kết

Dù thành công hay thất bại ở thế hệ 1.5, thì thế hệ 2.0 của người Việt đều thành công. Đó là điều đọng lại cho mỗi chúng ta cần suy nghĩ.

Muốn thành công ở Hoa Kỳ dù bất kỳ ai, già, trẻ, trai, gái đều phải vứt bỏ cái văn hóa duy tình, hội nhập với cuộc sống. Không thể ôm quá khứ oai hùng để tính chuyện đội đá vá trời.

Đoạn phim ngắn quay ở quảng trường trung tâm của UCLA - University of California, Los Angeles của tác giả lúc 9h sáng ngày 19/02/2014.

Đến thăm UCLA - University of California, Los Angeles - đứng bên bức tường ghi tên những đóng góp cho trường của các thế hệ đã từng học ở đây, tôi mới nhận ra sự thành công của một thể chế xã hội như thế nào? Có 4 mức độ đánh giá sự thành công của một thể chế xã hội. 

Ở mức thấp nhất, thì thể chế chỉ có thể ổn định xã hội, mà không lo được dân có cơm ăn, áo mặc. Ở mức trung bình, thể chế chính trị vừa lo được ổn định xã hội, và vừa lo cho dân có cơm ăn, áo mặc. Ở mức độ khá, thể chế chính trị lo được ổn định xã hội và người dân không còn lo chuyện cơm ăn, áo mặc, mà còn tính chuyện tiêu khiển ở cuộc đời đầy bất trắc. Hoa Kỳ là quốc gia đã đưa được người dân ở mức cao nhất, chẳng những ổn định xã hội, mà còn cho người dân ngoài việc tiêu khiển, ăn chơi, còn làm được việc lớn cho cộng đồng. Cho nên Hoa Kỳ mới có những Bill Gates, Steve Jobs, Mark Zuckerberg, v.v... sau khi làm giàu, quay lại giúp trường đại học, giúp thế giới cùng khổ ở Phi Châu. Không chỉ một Bill Gates, mà Hoa Kỳ còn có nhiều những con người như Bill Gates, ít nhiều, và họ đã làm nên những đại học đứng đầu toàn cầu cũng từ sự thành công của thể chế xã hội mà họ đã tạo ra.

Biết đến khi nào đất nước Việt có được những thế hệ biết chăm lo cho cộng đồng bằng một tâm thế và nhân cách đáng kính trọng, là một câu hỏi lớn, mà mỗi chúng ta phải suy nghĩ. Vì chỉ có thế thì nước Việt mới hùng cường.

Tư Gia, 15h58' ngày thứ Sáu, 21/02/2014

Bái đọc tiếp theo: Ký sự Hoa Kỳ 2: Sự khác biệt của Hoa Kỳ

Thứ Tư, 5 tháng 2, 2014

HỒ SƠ HỌC BỔNG ĐẠI HỌC HOA KỲ PHẢI NHƯ THẾ NÀO LÀ TỐT?

Bài đọc liên quan:
+ Essay là sự khác biệt
+ Tổng kết học bổng đại học Mỹ
+ Một số khái niệm học bổng bậc đại học Mỹ

Khai bút đầu xuân Giáp Ngọ bằng một bài học bổng đại học Hoa Kỳ là điều may mắn cho bản thân và cộng đồng.

Cứ tưởng xét tuyển vào đại học như Hoa Kỳ là không tốt, và nó là cái gốc để tham nhũng trong giáo dục. Nhưng khác với các nền giáo dục thi tuyển như Việt Nam, xét tuyển ở đại học Hoa Kỳ lại là rất văn minh, và không bao giờ có chuyện tham nhũng xảy ra, mà còn là mô hình cho hầu hết các nền giáo dục khác trên toàn cầu noi theo trong hơn nửa thế kỷ qua.

Như vậy, tại sao việc xét tuyển vào đại học Hoa Kỳ lại là hình mẫu, khuôn vàng thước ngọc để thế giới đi theo? Vì tuy xét tuyển, nhưng để một thí sinh hoàn thành bộ hồ sơ để được nhận vào học - chưa kể đến những kỳ thi bắt buộc dành cho du sinh như Toefl, SAT hay ACT - thì có khối việc mà một thí sinh phải gồng mình để đạt được nó.

Có 16 yếu tố mà một thí sinh là học sinh bản xứ nói tiếng Anh cần phải hoàn tất cho bộ hồ sơ của mình như sau:

1. Academic GPA: Điểm trung bình
2. Interview: Phỏng vấn
3. Recommendations: Những thư giới thiệu từ thầy cô 
4. Rigor of secondary school record: Độ khó của các môn học ở trung học
5. Application Essay: Bài luận nhập học
6. Character/Personal Qualities: Nhân cách đặc trưng
7. Extracurricular Activities: Những hoạt động ngoại khóa
8. Level of Applicant's Interest: Mức độ quan trọng của thí sinh đối với nhà trường
9. Talent/Ability: Tài năng
10. Alumni Relation: Liên lạc với các lớp đàn anh ở trường
11. Class Rank: Xếp hạng trong khối lớp 12.
12. First generation college student: Thế hệ ông bà, cha mẹ, anh chị của thí sinh đã từng có học tại trường
13. Geographical Residence: Thường trú nhân tại tiểu bang của trường
14. Standardized Test Scores(SAT): Kỳ thi chuẩn hóa quốc gia để nhập học đại học Hoa Kỳ
15. Volunteer Work: Việc làm công quả tình nguyện của thí sinh trong thời phổ thông
16. Work Experience: Kinh nghiệm làm việc của thí sinh trong các hội đoàn thời phổ thông.

Ai chưa rõ từng yếu tố trên thì, để cắt nghĩa từng yếu tố bạn đọc muốn hiểu, tôi sẽ trả lời và giải thích ở phần bàn luận. Ở đây tôi cần nhắc đến một yếu tố cực kỳ quan trọng cho du học sinh, nếu chưa học đủ 4 năm trung học Hoa Kỳ - trung học của Hoa Kỳ từ lớp 9 đến lớp 12 - thì bắt buộc phải thi Toefl là bài thi tiếng Anh dành cho người nói tiếng Anh như là một ngoại ngữ. Toefl - Test of English as a Foreign Language - quan trọng hơn cả SAT. Nếu SAT - Standard Admission Test: Cuộc thi chuẩn hóa quốc gia để nhập học đại học Hoa Kỳ - là để đánh giá mức độ thông minh của thí sinh, vì hầu hết những câu hỏi ở SAT là sử dụng trí thông minh hơn là kiến thức trường phổ thông trung học mà thí sinh được học, thì Toefl là yếu tố cực kỳ quan trọng để du sinh có đủ khả năng học ở bậc đại học Hoa Kỳ hay không? Cho nên, dù du sinh có thông minh đến đâu, hay các yếu tố khác đầy mề đay, bảng vàng, mà không nghe, nói, đọc và viết được bằng tiếng Anh trôi chảy thì thí sinh đó đừng hy vọng được nhập học, chứ đừng nói đến nhận học bổng đại học Hoa Kỳ! 

Hay nói cách khác, Toefl quan trọng hơn SAT cho du học sinh trong bộ hồ sơ nhập học. Dĩ nhiên, cả 2 đều tốt thì hoàn hảo, nhưng không phải là tất cả. Vậy thì cái gì làm nên một bộ hồ sơ tốt để có học bổng?

Những yếu tố quan tâm khi làm hồ sơ nhập học của Harvard University

Có một đặc điểm về cái gọi là chiến lược tuyển sinh các đại học ở Hoa Kỳ trên College Board mà ít thí sinh nào quan tâm. Trong chiến lực tuyển sinh thì các trường mà họ có thể phân làm 1, 2, hay 3 nhóm quan tâm đến hồ sơ của thí sinh. Thường các trường nổi tiếng hàng đầu như các Ivy League thì chia làm 1 hay 2 nhóm yếu tố. Ví dụ như Harvard College thì chỉ 1 nhóm considered(quan tâm). Vì nó là trường danh giá hàng đầu thế giới, hằng năm hồ sơ của thí sinh nộp về hàng chục ngàn từ khắp nơi trên toàn cầu, nhưng chỉ 6% được nhập học, và con số cho học bổng cũng giới hạn tối thiểu cho từng quốc gia chỉ 1 hoặc 2 thí sinh thậm chí là không có thí sinh nào vì kinh phí tài trợ. Nhưng với Yale University thì các yếu tố này được chia làm 2 nhóm: Very important và considered.(rất quan trọng và quan tâm)

Những yếu tố rất quan trọng và quan tâm khi làm hồ sơ nhập học trong chiến lược tuyển sinh của Yale University

Trong khi đó, những trường có xếp hạng ở top 100 hoặc hơn thì thường chia các yếu tố trên làm 3 nhóm. Ví dụ như Lake Forest College thì chia 16 yếu tố trên thành: very important, important và considered(rất quan trọng, quan trọng và quan tâm)

Những yếu tố rất quan trọng, quan trọng và quan tâm khi làm hồ sơ nhập học trong chiến lược tuyển sinh của Lake Forest College

Qua những khảo sát trên, chúng ta thấy, ngoại trừ ở các trường chỉ đưa ra một loạt yếu tố quan tâm thì thí sinh phải hoàn thiện tất cả các yếu tố đó. Ví dụ như Harvard có 15 yếu tố, mà không xem nặng nhẹ yếu tố nào. Lúc đó, essay và talent là sự khác biệt. Vì hầu hết những thí sinh vào Harvard các yếu tố là như nhau.

Trong khi đó, đối với Yale University thì chia làm 2 loại rất quan trọng, thì thí sinh cần đặc biệt chú tâm vào những yếu tố này để tạo sự khác biệt hơn các thí sinh khác cùng trình độ tương đương.

Và đối với các trường chia 16 yếu tố này làm 3 mức độ khác nhau thì có nhiều sự chọn lựa cho cả hội đồng xét tuyển cũng như thí sinh. Dĩ nhiên thí sinh phải xem xét các yếu tố cực quan trọng của mình có phù hợp yêu cầu của trường không là ưu tiên hàng đầu. Sau đó, là các yếu tố quan trọng, rồi mới đến các yếu tố quan tâm. 

Sự bù trừ của yếu tố này cho yếu tố khác sẽ giúp hồ sơ thí sinh được hội đồng xét tuyển quan tâm và châm chước. Nhưng bao giờ cũng vậy, một cuộc xét tuyển của bất kỳ trường đại học nào cũng phải trải qua 3 vòng sau đây.

Vòng sơ tuyển các trường luôn có phần mềm đưa vào tất cả những yếu tố trên gọi là tiêu chuẩn. Tất cả các hồ sơ sẽ được nhập vào hệ thống đã được cài đặt tiêu chuẩn thanh lọc bằng máy. 

Vòng thứ hai là đưa về từng ngành, ở đó, hội đồng khoa sẽ xét từng hồ sơ. Lúc này các yếu tố sẽ được đọc và so sánh từng hồ sơ thí sinh để chọn ra những ai được nhập học theo chiến lược xét tuyển của từng trường, khoa mà thí sinh làm hồ sơ nhập học.

Vòng cuối cùng là hội đồng khoa và nhà trường gồm những người quyết định về tài chính hoạt động nhà trường, họ sẽ ngồi với nhau tìm ra những hồ sơ khác biệt, và xuất sắc theo chiến lược tuyển sinh của khoa, trường để cho học bổng theo những kê khai tài chính của từng thí sinh. Đây là vòng quyết định ai sẽ quán quân với học bổng toàn phần, ai sẽ nhận bán phần. Tùy theo tài chính nhà trường và khoa ngành mà mức độ học bổng sẽ khác nhau, và loại học bổng khác nhau - chỉ 1 năm rồi cập nhật lại từng năm hay cả 4 năm đại học.

Và học bổng luôn là sự chọn lựa sự khác biệt của thí sinh. Sự khác biệt ấy, được chọn lựa qua hồ sơ bằng những yếu tố trên. Sau đó, những thí sinh được học bổng còn phải gặp mặt một thành viên của hội đồng tuyển sinh để phỏng vấn. Có thể phỏng vấn sẽ mang lại mức học bổng cao hơn từ vòng 3 của hồ sơ, nhưng phỏng vấn cũng có thể làm thất vọng hội đồng tuyển sinh và thí sinh có thể mất cả việc được nhận vào nhập học, đặc biệt ở các trường tốt hàng đầu Hoa Kỳ. Nhưng hầu như phỏng vấn chỉ là để khẳng định lại những gì hội đồng tuyển sinh đánh giá, và thí sinh đạt được nguyện vọng của mình.

Hy vọng những phát thảo sơ khởi này có thể giúp cho các bạn trẻ Việt tìm thấy một hướng đi khi chuẩn bị hồ sơ nhập học, và săn tìm học bổng đại học Hoa Kỳ, mà lâu nay tất cả đều cho là may rủi. Nhưng nếu nắm được cái rất quan trọng của trường mà các bạn muốn nhập học, và hoàn thiện nó tối ưu nhất thì việc săn học bổng để học là tự mỗi người có thể quyết định, và nắm được tỷ lệ % cao được học bổng khi làm hồ sơ nhập học.

Asia Clinic, 18h55' ngày thứ Tư, 05/02/2014 

Thứ Ba, 28 tháng 1, 2014

ESSAY LÀ SỰ KHÁC BIỆT

Bài đọc liên quan:

Việc học là con thuyền đi ngược nước, không tiến ắt phải lùi. Việc học có nhiều cái khó. Nó đòi hỏi người ta phải có sự kiên trì, kỷ luật và một đầu óc tối thiểu phải bình thường. Nhưng học làm sao mà để cho người khác phải bỏ tiền ra cho mình ăn học, thì mới nên học. Đặc biệt, việc du học mà có học bổng thì càng khó hơn. Trong 18 yếu tố mà các trường trung học và đại học của Hoa Kỳ đưa ra để xét tuyển cho học bổng đối với du học sinh thì yếu tố nào cũng có thể tạo ra sự khác biệt cho thí sinh. Nhưng essay - bài luận - là một yếu tố vô cùng quan trọng hầu như tất cả mọi trường, dù, nặng nhẹ khác nhau. Essay cũng là cái mà làm cho thí sinh khó khăn nhất, căng thẳng đến stress mất ăn, mất ngủ để nghĩ ra được ý tưởng viết làm sao tốt nhất. Thế thì, hội đồng xét tuyển nhìn vào bài luận ở yếu tố nào để có ấn tượng với thí sinh, mà cho học bổng?

Đó là sự khác biệt! Sự khác biệt của bài luận nói lên điều gì, và nó nằm ở đâu trong bài luận của một thí sinh?

Văn là người, qua bài luận người đọc sẽ tìm thấy người viết thuộc loại người nào? Thẳng thắng, trung thực?Lắm lời, hay hiệu quả? Loại người có thể làm nghiên cứu hay loại người có thể làm việc thương trường? Loại thông minh hay bình thường? v.v... và v.v... Tại sao?

Đối với những trường danh tiếng, việc đòi hỏi không chỉ một bài luận, mà thậm chí đến 5 bài luận là chuyện bình thường. Trong những bài luận ấy, hội đồng tuyển sinh muốn biết thí sinh trả lời những câu hỏi loại 5Ws: Who - bạn là ai? Where - bạn từ đâu đến? What - bạn là thuộc loại người có thiên hướng, tài năng gì? và How - bạn làm thế nào để thuyết phục hội đồng tuyển sinh? Một số trường còn đặc biệt lưu ý đến When - bạn biết đến chuyện du học và trường mà bạn đang xin học bổng từ khi nào?

Vì mỗi năm, hội đồng tuyển sinh phải bỏ thì giờ vàng bạc ra để đọc hàng ngàn, thậm chí hàng chục ngàn bài luận của thí sinh để tìm ra sự khác biệt. Cho nên, rất mệt mỏi và nhàm chán khi phải lướt qua những câu văn nhàm chán, lập đi, lập lại kiểu: Tôi tên là gì. Tôi từ đâu đến. Tôi đã học những gì ở đâu. Tôi thích trường XYZ vì... tất cả những điều này thể hiện thí sinh kém thông minh, mà đã kém thông minh thì không có sự khác biệt, dù bảng điểm của thí sinh có đẹp bằng vàng mười!

Sự khác biệt cũng được chia làm nhiều cấp độ khác nhau. Ở mức độ nhận thí sinh học thì sự khác biệt phải khác với những thí sinh không được nhận vào học. Ở mức độ cao hơn nữa, đã được nhận vào học, nhưng sự khác biệt phải gây ấn tượng hơn để được nhận học bổng. Trong nhận học bổng còn chia ra nhận bán phần, hay toàn phần, thì sự khác biệt của toàn phần phải là sự khác biệt rất đặc biệt.

Với một bài luận khác biệt với các thí sinh khác thì đòi hỏi phải hội đủ những yếu tố gì? 

Thứ nhất, bài luận phải ngắn mà đủ nói lên điều muốn nói để trả lời 5Ws mà tôi đã nói ở trên. Ngắn để chứng tỏ thí sinh có khả năng tư duy tổng hợp và đúc kết một vấn đề phức tạp. Nó chứng minh người viết là người khoa học và thông minh. Ngắn bao nhiêu thì tốt nhất? Phải dưới hoặc bằng 400 từ, không nên quá 400 từ. 200 từ mà nói đủ còn hơn dài mà đủ làm loảng điều ta muốn nói. Vì không ai có thì giờ để xem thí sinh ca cẩm, tả cảnh, tả tình kiểu tiểu thuyết! Các bạn nên hiểu rằng, người Mỹ thực dụng, và họ hiểu viết dài ai cũng có thể viết được, nhưng viết ngắn mà đủ thì không phải ai cũng có khả năng để viết.

Thứ hai, phải trung thực đúng với cái mình có, nhưng lại khác biệt với những thí sinh khác trong cùng một hoàn cảnh. Tôi đã từng tư vấn bài luận về chủ đề Who làm sao để khác biệt cho một bạn trẻ là người Việt. Bạn trẻ này có hoàn cảnh là được sinh ra ở châu Âu, vì ba mẹ gặp nhau và lấy nhau khi là du sinh Đông Âu, sinh bạn ấy ra ở Đông Âu. Bạn trẻ ấy phải học chương trình cấp phổ thông trung học ở Việt nam, trong khi học cấp phổ thông cơ sở ở Đông Âu. Và bạn này đã lấy học bổng toàn phần một đại học danh tiếng Hoa Kỳ, chỉ bằng 200 từ về hoàn cảnh học tập khó khăn sau khi về Việt Nam bằng một đoạn văn về văn hóa ứng xử, và sự kiên trì để thành công rất thực của bạn trẻ này. Dĩ nhiên, bài luận phải thể hiện đúng những gì bạn trẻ này đã thể hiện trong học tập.

Các bạn nên nhớ rằng, không cần phải kể chuyện học hành nhì nhằng, dài dòng như thế nào mới nói ra mình là ai. Ta có thể thông qua hoàn cảnh khó khăn của một người trẻ 14 tuổi thay đổi hoàn cảnh sống, văn hóa sống, khó khăn về ngôn ngữ khi về nước, nhưng vẫn phấn đấu để học giỏi là hội đồng tuyển sinh đủ thấy hết khả năng của thí sinh. Và đó là sự khác biệt trong essay. Việc này không khó cho những du học sinh Việt Nam du học từ lúc còn phổ thông, khi làm bài luận xin học bổng vào đại học.

Và thứ ba cũng là cuối cùng, bất kỳ bài luận nào cũng nên chọn một tình huống khác biệt để vào đề, và trả lời đủ 5Ws càng tốt cho các bạn. Tôi xin đơn cử bài luận quan trọng nhất trong tất cả các bài luận là Who, nói về mình - Personal Statement Essay - mà tôi đã tư vấn cho bạn trẻ đoạt học bổng toàn phần vào Yale University như sau:

"Tôi là một đứa trẻ mang trong tâm hồn hai dòng văn hóa khác biệt. Tôi sinh ra ở Cộng Hòa Séc khi bố mẹ tôi còn là những du học sinh tại đây. Tôi đã là một đứa trẻ sống, suy nghĩ, hành động, nghe, nói, đọc và viết bằng bản ngữ là tiếng Tiệp Khắc cho đến năm tôi học lớp 9. Năm tôi 14 tuổi 9 tháng - năm 2009 - gia đình tôi chuyển về sống ở Việt Nam, vì ba mẹ tôi phải chuyển công tác về lại quê nhà. 

Sự bở ngỡ ban đầu khi phải học tiếp tục chương trình trung học phổ thông bằng tiếng Việt, và cung cách đối xử cảm tính của các bạn cùng trang lứa là những khó khăn to lớn mà tôi tưởng chừng như không vượt qua được. Nhưng với những động viên của gia đình, tư duy độc lập tự tin và sự năng động của một đứa trẻ được giáo dục với văn hóa duy lý phương Tây, chúng đã giúp tôi hội nhập với cộng đồng học sinh Việt nam chỉ trong học kỳ đâu tiên năm học mới, và đạt thành quả tốt trong học tập, hoạt động cộng đồng trong 3 năm trung học tại Việt Nam.

Tôi có thể tự tin rằng mình có thể hòa nhập và đủ khả năng học tập cũng như làm việc trong bất kỳ hoàn cảnh khó khăn nào trong tương lai, dù đó là Yale University - một ngôi trường thuộc nhóm Ivy League mà tôi hằng mong ước kể cả trong những giấc mơ!"

Chỉ cần vậy thôi, không dài dòng cũng đủ để cả hội đồng thấy được cái thông minh, khoa học và cả 5Ws mà họ cần biết về bạn một cách khác biệt. Mặc dù không ai dám vỗ ngực xưng tên rằng mình là người viết bài luận nhập học đại học Hoa Kỳ tốt nhất.

Các bạn nên nhớ rằng, mỗi từ trong bài luận của bạn đáng giá 1.000 đô la khi viết nó ra để làm sao Hội đồng xét tuyển phải giật mình vì bạn quá thông minh, quá bất ngờ sao ở trên đời lại có đứa học sinh thông minh như thế này? Và họ phải đọc đi, đọc lại vì sướng khi gặp một đứa trẻ vừa thông minh, vừa có đầu óc sắp xếp các ý tưởng, vừa có tư chất leader trong chỉ một vài trăm từ.

Mùa tuyển sinh năm nay đã qua đi ở Hoa Kỳ ở các trường danh tiếng, nhưng ở các trường không có deadline nhập học vẫn còn đó, và ngay cả tuyển sinh mùa xuân vẫn còn đang chờ phía trước, thậm chí cả những mùa sau vẫn không quá muộn cho những ai có một ước mơ. Chúc các bạn trẻ thành công trên con thuyền ngược nước.

Tư Gia, cuối Đông Quý Tỵ, đầu Xuân Giáp Ngọ - 17h33' ngày 28/01/2014 

Chủ Nhật, 26 tháng 1, 2014

CỐ BS DƯƠNG QUỲNH HOA: CUỘC ĐỜI VÀ CÁI CHẾT RẤT BUỒN CỦA MỘT CON NGƯỜI CHÍNH TRỰC

Bài này của tác giả Mai Thanh Truyết viết sau khi cố BS Dương Quỳnh Hoa mất. Mới mà đã 8 năm rồi. Một số các bạn muốn biết về nữ chí sĩ được xem là người đầu tiên thẳng thắn ra khỏi đảng cộng sản ở Việt Nam vào năm 1979. Bài viết tương đối đầy đủ. Ai chưa đọc thì nên đọc, vì gần đây rộ lên phong trào ra khỏi đảng của những nhân vật một thời sùng kính đảng cộng sản như một tôn giáo. Hôm nay, tôi xin lưu lại ở đây như một nén hương tưởng nhớ 8 năm ngày mất của Bà, một đồng nghiệp đàn Chị, mà tôi đã từng gặp, và tâm sự năm 1986 và vài lần sau đó năm 2001. Vẫn còn nhiều vấn đề về Bà mà một số bài báo phỏng vấn sau này đều bịa đặt để bôi nhọ Bà.

Mai Thanh Truyết 

Bà Bác sĩ Dương Quỳnh Hoa (DQH) vừa nằm xuống ngày thứ bảy 25–2–2006 tại Sài Gòn, và cũng vừa được hỏa táng vào ngày thứ ba 28/2. Báo chí trong nước cho đến hôm nay, không hề loan tải tin tức trên. Đài BBC có phỏng vấn Ông Võ Nhơn Trí ở Pháp về tin nầy và phát đi ngày 28/2.

Sự im lặng của Việt Nam khiến cho người viết thấy có nhu cầu trang trãi và chia xẻ một số suy nghĩ về cái chết của BS DQH để từ đó rút ra thêm một kinh nghiệm sống về tính chất “chuyên chính vô sản” của những người cầm quyền tại Việt Nam hiện tại.

Ô. Bà DQH và Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam

BS DQH là một người sống trong một gia đình theo Tây học, có uy tín và thế lực trong giới giàu có ở Sài Gòn từ thập niên 40. Cha là GS Dương Minh Thới và anh là LS Dương Trung Tín; gia đình sống trong một biệt thự tại đường Bà Huyện Thanh Quan xéo góc Bộ Y tế (VNCH) nằm trên đường Hồng Thập Tự. LS Tín đã bị ám sát tại Đà Lạt trong đó cái chết của ông cũng không được soi sáng, nhưng đa phần có nhiều nghi vấn là do lý do chính trị vì ông có khuynh hướng thân Pháp thời bấy giờ.

Về phần Bà Hoa, được đi du học tại Pháp vào cuối thập niên 40, đã đỗ bằng Bác sĩ Y khoa tại Paris và về lại Việt Nam vào khoảng 1957 (?). Bà có quan niệm cấp tiến và xã hội, do đó Bà đã gia nhập vào Đảng CS Pháp năm 1956 trước khi về nước.

Từ những suy nghĩ trên, Bà hoạt động trong lãnh vực y tế và lần lần được móc nối và gia nhập vào Đảng CSVN. Tháng 12/1960, Bà trở thành một thành viên sáng lập của Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam VN dưới bí danh Thùy Dương, nhưng còn giữ bí mật cho đến khi Bà chạy vô “bưng” qua ngõ Ba Thu –Mõ Vẹt xuyên qua Đồng Chó Ngáp. Ngay sau biến cố Tết Mậu Thân, tin tức trên mới được loan tải qua đài phát thanh của Mặt Trận.

Khi vào trong bưng, Bà gặp GS Huỳnh Văn Nghị (HVN) và kết hôn với GS. Trở qua GS Huỳnh Văn Nghị, Ông cũng là một sinh viên du học tại Pháp, đỗ bằng Cao học (DES) Toán. Về VN năm 1957, ông dạy học tại trường Petrus Ký trong hai năm, sau đó qua làm ở Nha Ngân sách và Tài chánh. Ông cũng có tinh thần thân Cộng, chạy vô “bưng” năm 1968 và được kết nạp vào đảng sau đó.

Do “uy tín” chính trị quốc tế của Bà Hoa thời bấy giờ rất cao, Mặt Trận, một lá bài của CS Bắc Việt, muốn tận dụng uy tín nầy để tạo sự đồng thuận với chính phủ Pháp hầu gây rối về mặt ngoại giao cho VNCH và đồng minh Hoa Kỳ. Từ những lý do trên, Bà Hoa là một người rất được lòng Bắc Việt, cũng như Ông Chồng là GS HVN cũng được nâng đở theo. Vào đầu thập niên 70, Ông được chuyển ra Bắc và được huấn luyện trong trường đảng. Tại đây, với một tinh thần thông thoáng dân tộc, cộng thêm nhiều lý luận toán học, Ông đã phân tích và chứng minh những lý thuyết giảng dạy ở trường đảng đều không có căn bản lý luận vững chắc và Ông tự quyết định rời bõ không tiếp tục theo học trường nầy nữa.

Nhưng chính nhờ uy tín của Bà DQH trong thời gian nầy cho nên ông không bị trở ngại về an ninh. Cũng cần nên nói thêm là ông đã từng được đề cử vào chức vụ Bộ trưởng Kinh tế nhưng ông từ chối.

Ô.B DQH và Đảng Cộng sản VN

Chỉ một thời gian ngắn sau khi CS Bắc Việt giải tán Chính phủ Cách mạng Lâm thời miền Nam, Ô Bà lúc đó mới vở lẽ ra. Về phần Ô HVN, ông hoàn toàn không hợp tác với chế độ. Năm 1976, trong một buổi ăn tối với 5 người bạn thân thiết, có tinh thần “tiến bộ”, Ông đã công khai tuyên bố với các bạn như sau:”Các “toi” muốn trốn thì trốn đi trong lúc nầy. Đừng chần chờ mà đi không kịp. Nếu ở lại, đừng nghĩ rằng mình đã có công với “cách mạng” mà “góp ý” với đảng”. Ngay sau đó, một trong người bạn thân là Nguyễn Bá Nhẫn vượt biên và hiện cư ngụ tại Pháp. Còn 4 người còn lại là Lý Chánh Trung (giáo sư văn khoa Sài Gòn), Trần Quang Diệu (TTKý Viện Đại học Đà Lạt), Nguyễn Đình Long (Nha Hàn..g không Dân sự), và một người nữa người viết không nhớ tên không đi. Ông Trung và Long hiện còn ở Việt Nam, còn ông Diệu đang cư ngụ ở Canada.

Trở lại BS DQH, sau khi CS chiếm đóng miền Nam tháng 4/1975, Bà Hoa được “đặt để” vào chức vụ Tổng trưởng Y tế, Xã hội, và Thương binh trong nội các chính phủ. Vào tháng 7/75, Hà Nội chính thức giải thể chính phủ Lâm thời và nắm quyền điều hành toàn quốc, chuyển Bà xuống hàng Thứ trưởng và làm bù nhìn như Nguyễn Hữu Thọ, Nguyễn Thị Bình, Nguyễn Thị Định… Chính trong thời gian nầy Bà lần lần thấy được bộ mặt thật của đảng CS và mục tiêu của họ không phải là phục vụ đất nước Việt Nam mà chính là làm nhiệm vụ của CS quốc tế là âm mưu nhuộm đỏ vùng Đông Nam Á.

Vào khoảng cuối thập niên 70, Bà đã trao đổi cùng Ô Nguyễn Hữu Thọ:”Anh và tôi chỉ đóng vai trò bù nhìn và chỉ là món đồ trang sức rẻ tiền cho chế độ. Chúng ta không thể phục vụ cho một chế độ thiếu dân chủ và không luật lệ. Vì vậy tôi thông báo cho anh biết là tôi sẽ trả lại thẻ Đảng và không nhận bất cứ nhiệm vụ nào trong chính phủ cả”. Đến năm 1979, Bà chính thức từ bỏ tư cách đảng viên và chức vụ Thứ trưởng. Dĩ nhiên là Đảng không hài lòng với quyết định nầy; nhưng vì để tránh những chuyện từ nhiệm tập thể của các đảng viên gốc miền Nam, họ đề nghị Bà sang Pháp. Nhưng sau cùng, họ đã lấy lại quyết định trên và yêu cầu Bà im lặng trong vòng 10 năm.

Mười năm sau đó, sau khi được “phép” nói, Bà nhận định rằng Đảng CS Việt Nam tiếp tục xuất cảng gạo trong khi dân chúng cả nước đang đi dần đến nạn đói. Và nghịch lý thay, họ lại yêu cầu thế giới giúp đỡ để giải quyết nạn nghèo đói trong nước. Trong thời gian nầy Bà tuyên bố :” Trong hiện trạng của Đất Nước hiện tại (thời bấy giờ), xuất cảng gạo tức là xuất cảng sức khỏe của người dân” Và Bà cũng là một trong những người đầu tiên lên tiếng báo động vào năm 1989 cho thế giới biết tệ trạng bán trẻ em Việt Nam ngay từ 9,10 tuổi cho các dịch vụ tình dục trong khách sạn và các khu giải trí dành cho người ngoại quốc do các cơ quan chính phủ và quân đội điều hành.

Sau khi rời nhiệm vụ trong chính phủ, Bà trở về vị trí của một BS nhi khoa. Qua sự quen biết với giới trí thức và y khoa Pháp, Bà đã vận động được sự giúp đở của hai giới trên để thành lập Trung Tâm Nhi Khoa chuyên khám và chữa trị trẻ em không lấy tiền và Bà cũng được viện trợ thuốc men cho trẻ em Việt Nam suy dinh dưỡng nhất là acid folic và các lọai vitamin. Nhưng tiếc thay, số thuốc trên khi về Việt Nam đã không đến tay Bà mà tất cả được chuyển về Bắc. Bà xin chấm dứt viện trợ, nhưng lại được “yêu cầu” phải xin lại viện trợ vì…nhân dân (của Đảng!). Về tình trạng trẻ con suy dinh dưỡng, với tính cách thông tin, chúng tôi xin đưa ra đây báo cáo của Bà Anneke Maarse, chuyên gia tư vấn của UNICEF trong hội nghị ngày 1/12/03 tại Hà Nội :” Hiện Việt Nam có 5,1 triệu người khuyết tật chiếm 6,3% trên tổng số 81 triệu dân. Qua khảo sát tại 648 gia đình tại ba vùng Phú Thọ, Quảng Nam và Tp HCM cho thấy có tới 24% trẻ em tàn tật dạng vận động, 92,3% khuyết tật trí tuệ, và 19% khuyết tật thị giác lẫn ngôn ngữ. Trong số đó tỷ lệ trẻ em khuyết tật bẩm sinh chiếm tới 72%.

Vào năm 1989, Bà đã được ký giả Morley Safer, phóng viên của đài truyền hình CBS phỏng vấn. Những lời phỏng vấn đã được ghi lại trong cuốn sách của ông dưới tựa đề Flashbacks on Returning to Việt Nam do Random House, Inc. NY, 1990 xuất bản. Qua đó, một sự thật càng sáng tỏ là con của Bà, Huỳng Trung Sơn bị bịnh viêm màng não mà Bà không có thuốc để chữa trị khi còn ở trong bưng và đây cũng là một sự kiện đau buồn nhất trong đời Bà. Cũng trong cuốn sách vưà kể trên, Bà cũng đã tự thú là đã sai lầm ở một khoảng thời gian nào đó. Nhưng Bà không luyến tiếc vì Bà đã đạt được mục đích là làm cho những người ngoại quốc ra khỏi đất nước Việt Nam.

Sau cùng, chúng tôi xin liệt kê ra đây hai trong những nhận định bất hủ của BS DQH là :”Trong chiến tranh, chúng tôi sống gần nhân dân, sống trong lòng nhân dân. Ngày nay, khi quyền lực nằm an toàn trong tay rồi, đảng đã xem nhân dân như là một kẽ thù tiềm ẩn”. Và khi nhận định về bức tường Bá Linh, Bà nói:” Đây là ngày tàn của một ảo tưởng vĩ đại”.

BS DQH và Vụ kiện Da Cam

Theo nhiều nguồn dư luận hải ngoại, trước khi ký kết Thương ước Mỹ-Việt dưới nhiệm kỳ của Tổng thống Clinton, hai chính phủ đã đồng ý trong một cam kết riêng không phổ biến là Việt Nam sẽ không đưa vụ Chất độc màu Da cam để kiện Hoa Kỳ, và đối lại, Mỹ sẽ ký thương ước với Việt Nam và sẽ không phủ quyết để Việt Nam có thể gia nhập vào Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) trong t ương lai.

Có lẽ vì “mật ước” Mỹ-Việt vừa nêu trên, nên Việt Nam cho thành lập Hội Nạn nhân chất Độc Da cam/Dioxin Việt Nam ngày 10/1/2004 ngay sau khi có quyết định chấp thuận của Bộ Nội vụ ngày 17/12/2003. Đây là một Hội dưới danh nghĩa thiện nguyện nhưng do Nhà Nước trợ cấp tài chính và kiểm soát. Ban chấp hành tạm thời của Hội lúc ban đầu gồm:
- Bà Nguyễn Thị Bình, nguyên Phó chủ tịch nước làm Chủ tịch danh dự;
- Thượng tướng Đặng Vũ Hiệp, nguyên Phó chủ nhiệm Tổng cục chính trị QĐND làm Chủ tịch;
- GS,BS Nguyễn Trọng Nhân, nguyên Bộ trưởng Y tế, Chủ tịch Hội Chữ thập đỏ Việt Nam làm Phó Chủ tịch;
- Ô Trần Văn Thụ làm Thư ký.

Trong buổi lễ ra mắt, Bà Bình đã khẳng định rõ ràng rằng:”Chính phủ Mỹ và các công ty sản xuất chất độc hoá học da cam phải thừa nhận trách nhiệm tinh thần, đạo đức và pháp lý. Những người phục vụ chính thể Việt NamCộng Hòa cũ ở miền Nam không được đưa vào danh sách trợ cấp”. Theo một bản tin của Thông tấn xã Việt Nam thì đây là một tổ chức của những nạn nhân chất Da cam, cũng như các cá nhân, tập thể tự nguyện đóng góp để giúp các nạn nhân khắc phục hậu quả chất độc hoá học và là đại diện pháp lý của các nạn nhân Việt Nam trong các quan hệ với các tổ chức và cơ quan trong cũng như ngoài nước. Thế nhưng, trong danh sách nạn nhân chất da cam trong cả nước được Việt Nam ước tính trên 3 triệu mà chính phủ đã thiết lập năm 2003 để cung cấp tiền trợ cấp hàng tháng, những nạn nhân đã từng phục vụ cho VNCH trước đây thì không được đưa vào danh sách nầy (Được biết năm 2001, trong Hội nghị Quốc tế tại Hà Nội, số nạn nhân được Việt Nam nêu ra là 2 triệu!). Do đó có thể nói rằng, việc thành lập Hội chỉ có mục đích duy nhất là hỗ trợ cho việc kiện tụng mà thôi.

Vào ngày 30/1/2004, Hội đã nộp đơn kiện 37 công ty hóa chất ở Hoa Kỳ tại tòa án liên bang Brooklyn, New York do luật sư đại diện cho phía Việt Nam là Constantine P. Kokkoris. (Được biết LS Kokkoris là một người Mỹ gốc Nga, đã từng phục vụ cho tòa Đại sứ Việt ở Nga Sô và có vợ là người Việt Nam họ Bùi). Hồ sơ thụ lý gồm 49 trang trong đó có 240 điều khoảng. Danh sách nguyên đơn liệt kê như sau:
- Hội Nạn nhân Chất Da cam/Dioxin Việt Nam;
- Bà Phan Thị Phi Phi, giáo sư Đại học Hà Nội;
- Ông Nguyễn Văn Quý, cựu chiến binh tham chiến ở miền Nam trước 1975, cùng với hai người con là Nguyễn Quang Trung (1988) và Nguyễn Thị Thu Nga (1989);
- Bà Dương Quỳnh Hoa, Bác sĩ, nguyên Bộ trưởng Y tế Chính phủ Cách mạng Lâm thời miền Nam, và con là Huỳnh Trung Sơn; và
- Những người cùng cảnh ngộ.

Đây là một vụ kiện tập thể (class action) và yêu cầu được xét xử có bồi thẩm đoàn. Các đương đơn tố các công ty Hoa Kỳ đã vi phạm luật pháp quốc tế và tội ác chiến tranh, vi phạm luật an toàn sản phẩm, cẩu thả và cố ý đả thương, âm mưu phạm pháp, quấy nhiễu nơi công cộng và làm giàu bất chánh để: (1) Đòi bồi thường bằng tiền do thương tật cá nhân, tử vong, và dị thai và (2) Yêu cầu tòa bắt buộc làm giảm ô nhiễm môi trường, và (3) Để hoàn trả lại lợi nhuận mà các công ty đã kiếm được qua việc sản xuất thuốc khai quang.

Không có một bằng chứng nào được đính kèm theo để biện hộ cho các cáo buộc, mà chỉ dựa vào tin tức và niềm tin (nguyên văn là upon information and belief). Tuy nhiên, đơn kiện có nêu đích danh một số nghiên cứu mới nhất về dioxin của Viện Y khoa thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Hoa Kỳ, công ty cố vấn Hatfield Consultants của Canada, Bác sĩ Arnold Schecter của trường Y tế Công cộng Houston thuộc trường Đại học Texas, và Tiến sĩ Jeanne Mager Stellman của trường Đại học Columbia, New York.

Chúng tôi đặc biệt quan tâm đến trường hợp của BS Dương Quỳnh Hoa cũng như quá trình hoạt động của Bà từ những năm 50 cho đến hiện tại. Tên Bà nằm trong danh sách nguyên đơn cũng là một nghi vấn cần phải nghiên cứu cặn kẽ.

Theo nội dung của hồ sơ kiện tụng, từ năm 1964 trở đi, Bà thường xuyên đi đến thành phố Biên Hòa và Sông Bé (?) là những nơi đã bị phun xịt thuốc khai quang nặng nề. Từ năm 1968 đến 1976, nguyên đơn BS Hoa là Tổng trưởng Y tế của Chính phủ Lâm thời Cộng hòa miền Nam và ngụ tại Tây Ninh. Trong thời gian nầy Bà phải che phủ trên đầu bằng bao nylon và đã đi ngang qua một thùng chứa thuốc khai quang mà máy bay Mỹ đã đánh rơi. (Cũng xin nói ở đây là chất da cam được chứa trong những thùng phuy 200L và có sơn màu da cam. Chất nầy được pha trộn với nước hay dầu theo tỷ lệ 1/20 hay hơn nữa và được bơm vào bồn chứa cố định trên máy bay trước khi được phun xịt. Như vậy làm gì có cảnh thùng phuy rơi rớt!?).

Năm 1970, Bà hạ sinh đứa con trai tên Huỳnh Trung Sơn (cũng có tên trong đơn kiện như một nguyên đơn, tuy đã mất) bị phát triển không bình thường và hay bị chứng co giật cơ thể. Sơn chết vào lúc 8 tháng tuổi.

Trong thời gian chấm dứt chiến tranh, BS Hoa bắt đầu bị chứng ngứa ngáy ngoài da. Năm 1971, Bà có mang và bị sẩy thai sau 8 tuần lễ. Năm 1972, Bà lại bị sẩy thai một lần nữa, lúc 6 tuần mang thai. Năm 1985, BS Hoa đã được chẩn bịnh tiểu đường. Và sau cùng năm 1998 Bà bị ung thư vú và đã được giải phẩu. Năm 1999, Bà được thử nghiệm máu và BS Schecter (Hoa Kỳ) cho biết là lượng Dioxin trong máu của Bà có nồng độ là 20 ppt (phần ức).

Và sau cùng, kết luận trong hồ sơ kiện tụng là: Bà BS Hoa và con là nạn nhân của chất độc Da cam.

Qua những sự kiện trên chúng ta thấy có nhiều điều nghịch lý và mâu thuẫn về sự hiện diện của tên Bà trong vụ kiện ở Brooklyn?

Để tìm giải đáp cho những điều nghịch lý trên, chúng tôi xin trích dẫn những phát biểu của Bà trong một cuộc tiếp xúc thân hữu tại Paris trung tuần tháng 5/2004. Theo lời Bà (từ miệng Bà nói, lời của một người bạn tên VNT có mặt trong buổi tiếp xúc trên) thì “người ta đã đặt tôi vào một sự đã rồi (fait accompli).

Tên tôi đã được ghi vào hồ sơ kiện không có sự đồng ý của tôi cũng như hoàn toàn không thông báo cho tôi biết. Người ta chỉ đến mời tôi hợp tác khi có một ký giả người Úc thấy tên tôi trong vụ kiện yêu cầu được phỏng vấn tôi. Tôi chấp nhận cuộc gặp gỡ với một điều kiện duy nhất là tôi có quyền nói sự thật, nghĩa là tôi không là người khởi xướng vụ kiện cũng như không có ý muốn kiện Hoa Kỳ trong vấn đề chất độc da cam.”Dĩ nhiên cuộc gặp gỡ giữa Bà Hoa và phóng viên người Úc không bao giờ xảy ra.

Bà còn thêm rằng:” Trong thời gian mà tất cả mọi người nhất là đảng CS bị ám ảnh về việc nhiễm độc dioxin, tôi cũng đã nhờ một BS Hoa Kỳ khám nghiệm (khoảng 1971) tại Pháp và kết quả cho thấy là lượng dioxin trong máu của tôi dưới mức trung bình (2ppt).”

Đến đây, chúng ta có thể hình dung được kết quả của vụ kiện.Và ngày 10 tháng 3 năm 2005, Ông chánh án Jack Weinstein đã tuyên bố hủy bõ hoàn toàn vụ kiện tại tòa án Brooklyn, New York. 

Bài học được rút ra từ cái chết của BS DQH.

Từ những tin tức về đời sống qua nhiều giai đoạn của Bác sĩ Dương Quỳnh Hoa, hôm nay Bà đã đi trọn quảng đường của cuộc đời Bà. Những bước đầu đời của Bà bắt đầu với bầu nhiệt huyết của tuổi thanh niên, lý tưởng phục vụ cho tổ quốc trong sáng. Nhưng chính vì sự trong sáng đó Bà đã không phân biệt và bị mê hoặc bởi những lý thuyết không tưởng của hệ thống cộng sản thế giới. Do đó Bà đã bị lôi cuốn vào cơn gió lốc của cuộc chiến VN. Và Bà đã đứng về phía người Cộng sản.

Khi đã nhận diện được chân tướng của họ, Bà bị vỡ mộng và có phản ứng ngược lại. Nhưng vì thế cô, Bà không thể nào đi ngược lại hay “cải sửa” chế độ. Rất may cho Bà là Bà chưa bị chế độ nghiền nát. Không phải vì họ sợ hay thương tình một người đã từng đóng góp cho chế độ (trong xã hội CS, loại tình cảm tiểu tư sản như thế không thể nào hiện hữu được), nhưng chính vì họ nghĩ còn có thể lợi dụng được Bà trong những mặc cả kinh tế – chính trị giữa các đối cực như Pháp và Hoa Kỳ, trong đó họ chiếm vị thế ngư ông đắc lợi. Vì vậy, họ không triệt tiêu Bà.

Hôm nay, chúng ta có thể tiếc cho Bà, một người Việt Nam có tấm lòng yêu nước nhưng không đặt đúng chỗ và đúng thời điểm; do đó, khi đã phản tỉnh lại bị chế độ đối xử tệ bạc. Tuy nhiên, với một cái chết trong im lặng, không kèn không trống, không một thông tin trên truyền thông về một người đã từng có công đóng góp một phần cho sự thành tựu của chế độ như Bà đã khiến cho chúng ta phải suy nghĩ, suy nghĩ về tính vô cảm của người cộng sản, cũng như suy nghĩ về tính chuyên chính vô sản của hệ thống xã hội chủ nghĩa. Đối với chế độ hiện hành, sẽ không bao giờ có được sự đối thoại bình đẳng, trong đó tinh thần tôn trọng dân chủ dứt khoát không hề hiện hữu như các sinh hoạt chính trị của những quốc gia tôn trọng nhân quyền trên thế giới. Vì vậy, với cơ chế trên, hệ thống XHCN sẽ không bao giờ biết lắng nghe những tiếng nói “đóng góp” đích thực cho công cuộc xây dựng Đất và Nước cả.

Bài học DQH là một bài học lớn cho những ai còn hy vọng rằng cơ hội ngày hôm nay đã đến cho những người còn tâm huyết ở hải ngoại ngõ hầu mang hết khả năng và kỹ năng về xây dựng quê hương. Hãy hình dung một đóng góp nhỏ nhặt như việc cung cấp những thông tin về nguồn nước ở các sông ngòi ở Việt Nam đã bị kết án là vi phạm “bí mật quốc gia” theo Quyết định của Thủ tướng Việt Nam số 212/203/QĐ-TTg ký ngày 21/10/2003. Như vậy, dù là “cùng là máu đỏ Việt Nam” nhưng phải là máu đã “cưu mang” một chủ thuyết ngoại lai mới có thể được xem là chính danh để xây dựng quê hương Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Chúng ta, những người Việt trong và ngòai nước, còn nặng lòng với đất nước, tưởng cũng cần suy gẫm trường hợp Bác sĩ Dương Quỳnh Hoa ngõ hầu phục vụ tổ quốc và d dân tộc trong sự thức tỉnh, đừng để bị mê hoặc bởi chủ thuyết cưỡng quyền.

Tổ quốc là đất nước chung – Dân tộc là tất cả thành tố cần phải được bảo vệ và thừa hưởng phúc họa bình đẳng với nhau. Rất tiếc điều này không xảy ra cho Việt Nam hiện tại.

Ghi chú: Ngày 3/3/2006, trên báo SGGP, GS Trần Cửu Kiếm, nguyên ủy viên Ban Quân y miền Nam, một người bạn chiến đầu của Bà trong MTDTGPMN, có viết một bài ngắn để kỷ niệm về BS DQH. Chỉ một bài duy nhứt từ đó đến nay.

Mong tất cả trí thức Việt Nam đặc biệt là trí thức miền Nam học và thấm thía bài học nầy qua trường hợp của BS Dương Quỳnh Hoa.

Asia Clinic, 9h02' ngày thứ Hai, 27/01/2013

Thứ Năm, 23 tháng 1, 2014

CẦN HIỂU ĐÚNG MỘT CÁCH KHOA HỌC VỀ CHỦ NGHĨA MARX LENIN

Bài đọc liên quan:

Nhiều thế hệ - đặc biệt ở các quốc gia cộng sản cầm quyền - lâu nay học chủ thuyết Marx và Lenin nhưng chưa hiểu nó là gì? Nghe người ta bảo nó là triết học thì cũng ừ, gật đầu, nó là triết học. Đó là sai lầm của nhiều thế hệ ở các nước cộng sản.

Thực chất, trong 3 bộ phận của chủ nghĩa Marx Engels gồm có: Duy vật biện chứng, kinh tế chính trị học và duy vật lịch sử, thì chỉ duy nhất có bộ phận duy vật biện chứng của Engels đúc kết - mà không có gì mới - từ các trào lưu triết học trước đó, rồi đem tặng cho Marx là triết học thực sự. 

Duy vật biện chứng nó là một vốn quý của nhân loại, không ai có thể chối cãi được. Vì nó giúp cho nhân loại rất lớn trong phương pháp luận khoa học. Nhưng nó lại không phải là của Marx, mà nó là của Engels đúc kết lại, và tặng Marx để Marx làm nền tảng cho việc nghiên cứu, và đưa ra 2 bộ phận còn lại theo tình hình thực tế châu Âu giữa, cuối thế kỷ XIX.

Hai bộ phận còn lại như đã nói, là kinh tế chính trị học và lịch sử phát triển của các hình thái chính trị xã hội mà Marx đã "tưởng tượng" và đặt tên cho chúng. Nhưng sự tưởng tượng của Marx lại sai ngay trong cái đặt vấn đề và giải quyết vấn đề để đi đến kết luận của ông ta.

Marx đã dùng Duy vật biện chứng và sa đà vào đặt nền tảng cho chủ thuyết của mình là Vật chất quyết định Ý thức ngay từ đầu. Nhưng khi Marx đi vào Duy vật lịch sử, ông lại "tưởng tượng" một cách cảm tính mà không khoa học thực chứng. Với sự cảm tính đó Karl Marx đã đẻ ra một hình thái chính trị xã hội loài người sau tư bản là, chủ nghĩa cộng sản khoa học và chủ nghĩa xã hội là lúc loài người sống với nhau bằng Ý thức quyết định vật chất! Nên có thể gọi bộ phận thứ 3 của Marx Engels là Duy Tình Lịch Sử thì đúng hơn là Duy Vật Lịch Sử!

Và cũng vì sa đà quá nhiều vào duy vật biện chứng mà, chủ thuyết do marx đẻ ra đã quá sắc máu, thiếu nhân bản. Hệ lụy của chủ thuyết này đã đẻ ra hình thái chính trị độc đoán và tàn ác. Nó đã tạo ra những lãnh tụ cộng sản trên thế giới đã giết chết hàng trăm triệu nhân mạng từ chủ thuyết này. Ngày nay, nó đã trở thành di tích của lịch sử, mà không ai còn muốn nhắc đến, chỉ còn các chính khách vì tham vọng cá nhân dùng nó để phục vụ dục vọng xấu xa nhất của loài động vật bậc thấp.


Sai lầm này của Marx không phải là nhân loại không biết và chưa nghĩ đến, mà ngay từ nửa cuối của thế kỷ XVIII, tại Tân lục địa - Hoa Kỳ - các quốc phụ của nước Mỹ đã bắt đầu bằng cuộc cách mạng dân chủ tư sản 1776 lập ra nước Mỹ, trong cuộc cách mạng Trà. Từ đó, hình thành một hình thái chính trị xã hội hoàn hảo nhất, đúng với duy vật biện chứng nhất với hình thái chính tri đa nguyên và tản quyền. Và Hoa Kỳ đã đi trước cả Marx và Engels 72 năm. Mặc dù Marx và Engels đi sau, nhưng lại đi sai quy luật xã hội học. Vì mãi đến 1848 Marx và Engels mới cho xuất bản tư tưởng của mình, trong khi đó, 1776 các Quốc phụ Hoa Kỳ đã làm việc này.

Đến đầu thế kỷ XX, Lenin - một chính khách lỗi lạc đúng nghĩa - đã vớ phải lý thuyết của Marx và Engels lúc này đã quá lạc hậu với nền kinh tế công nghiệp ra đời từ giữa cuối thế kỷ XIX và hoàn thiện dần. Nhưng chủ nghĩa Marx và Engels lại có thể dụ dỗ được dân cùng khổ nhưng vô học. Lenin đã hoàn thiện nó thành bộ Lenin toàn tập và áp dụng ở Nga, rồi biến cả Đông Âu thành Liên Xô và các chư hầu. Lenin đã có "công lớn" khi ông kéo một nửa nhân loại quay về lại chủ nghĩa phong kiến tập quyền, với hình thái chính trị xã hội đơn nguyên tập quyền mà ông đã vẽ ra, nhưng với cái tên rất mỹ miều - chủ nghĩa xã hội. Nếu nước Pháp có Nã Phá Luân kéo người Pháp quay lại Phong kiến sau Cách Mạng Dân Chủ Tư sản Pháp 1789, để hơn một thế kỷ sau Pháp mới thoát ra khỏi phong kiến, thì tội của Lenin với nước Nga là đã kéo lùi Đế Quốc Nga quay về phong kiến 70 năm!

Song như đã nói ở trên, do Marx đã có tầm nhìn ngắn và do ông thiếu khả năng nghiên cứu khoa học, nên ông đã đặt nền tảng chủ thuyết là A quyết định B, và kết luận là B quyết định A, và cuối cùng những gì Lenin xây dựng đã bắt đầu sụp đổ tại ngay tại nơi ông sinh nó ra. Và cho đến ngày nay, chủ nghĩa Marx Lenin chỉ là con bài cho các chính khách dùng để bảo vệ ngai vàng kiếm ăn trên tổ quốc và dân tộc mình. Đó là bi kịch của Marx, Engels và Lenin để lại cho nhân loại thiếu hiểu biết trên toàn cầu.

Dù lạc hậu, và sai lệch với nguyên lý khoa học, nhưng chủ nghĩa Marx Lenin cũng có công lớn là làm đối trọng để thế giới tư bản phát triển vượt bậc trong cuộc chạy đua giành quyền thống trị toàn cầu. Ngày nay, tư bản thắng và cộng sản thua thì ai cũng rõ. Nhưng tại sao cộng sản vẫn còn sống và tồn tại? Vì nó phục vụ cho lợi ích của giai cấp phong kiến kiểu mới cầm quyền. Nhưng nó sẽ sụp đổ và đi vào bóng tối là điều chắc chắn sẽ có trong tương lai gần. Vì nó phi khoa học và không thực tế.

Hy vọng với một chút sơ lược lại lịch sử hình thành về cả lý thuyết và thực tiễn xã hội học thế giới này sẽ giúp người nào chưa hiểu, nắm được cái chính của vấn đề sẽ nhận rõ chân giá trị của chủ nghĩa Marx Lenin.

Asia Clinic, 15h48' ngày thứ Năm, 23/01/2014