nha ban quan tan binh | mua nha quan tan binh

Thứ Năm, 14 tháng 11, 2013

GLOBAL WITNESS KÊU GỌI CÁC NHÀ ĐẦU TƯ RÚT VỐN RA KHỎI TẬP ĐOÀN HAGL VÌ ĐÃ KHÔNG TÁI THIẾT CÁC VÙNG ĐẤT ĐÃ CHIẾM

Bài đọc liên quan:

Xin cảm ơn một bạn đọc blog gửi đến blog, và đề nghị không nêu tên.


Hôm nay, 14/11/2013, Global Witness vừa lên tiếng về việc tập đoàn cao su khổng lồ HAGL của Việt Nam đã không thực hiện các cam kết về môi trường và quyền con người tại các đồn điền của họ ở Lào và Campuchia. Những nhà hoạt động của chiến dịch này cho hay tập đoàn HAGL đang gây ra các rủi ro tài chính và tổn hại uy tín của các nhà đầu tư, trong đó có Ngân hàng Deutsche Bank (Tập đoàn tài chính và ngân hàng toàn cầu của Đức) và Tổ chức tài chính quốc tế - International Finance Corporation (một tổ chức con của Ngân hàng thế giới World Bank). Các nhà hoạt động này kêu gọi các tổ chức tài chính trên nên rút vốn. 

Tháng 5 năm 2013, Cuộc điều tra về Các ông trùm cao su (Rubber Barons) của Global Witness đã phanh phui sự tàn phá về xã hội và môi trường trong và xung quanh các đồn điền của HAGL ở Lào và Campuchia, trong đó có việc chiếm dụng đất đai của các cộng đồng địa phương và phá hủy nhiều khu rừng rộng lớn. Mặc dù tập đoàn này đã cam kết giải quyết các vấn đề bức bối trên nhưng chưa có nhiều bằng chứng thực tế cho bất kỳ tình trạng được cải thiện nào. 

Bà Megan MacInnes của Global Witness cho biết “HAGL rất giỏi trong việc đưa ra các cam kết nhưng rất tệ trong việc giữ cam kết. Tập đoàn này hối hả nói với chúng tôi và mọi người rằng họ nghiêm túc trong việc thay đổi cách thức của họ, tuy nhiên bằng chứng hiện tại cho thấy rằng việc chặt phá rừng vẫn còn đang diễn ra và người dân từng bị sang bằng đồng ruộng vẫn còn đang phải vật lộn để kiếm miếng ăn”. 

Global Witness đưa ra hạn định 6 tháng cho HAGL và các nhà đầu tư của tập đoàn này để xử lý các vấn đề được nêu trong các báo cáo và các tập phim Các ông trùm cao su (Rubber Barons). Sau cuộc gặp ban đầu với Global Witness vào tháng 6, tập đoàn HAGL đã ban hành thông báo tạm dừng việc giải tỏa và trồng trọt trong các khu đất khai thác trong vòng 4 tháng, và đồng ý sẽ đến các khu vực bị ảnh hưởng để thảo luận và giải quyết các vấn đề mà người dân địa phương đang phải chống chọi. 

Tuy nhiên, Global Witness đã tiến hành phỏng vấn 7 khu làng xung quanh các khu khai thác của HAGL ở Campuchia hồi tháng 8. Người dân ở 3 trong số các ngôi làng này khẳng định rằng tập đoàn này chưa hề đến làng của họ trong khi 4 ngôi làng còn lại cho biết các nhân viên của HAGL từ chối thảo luận về các tranh chấp đất đai hoặc các khu rừng. 6 trong số những ngôi làng được hỏi cho biết tình trạng đốn rừng trong và xung quanh các đồn điền của HAGL vẫn diễn ra bất chấp thông báo tạm dừng. Các phân tích vệ tinh độc lập giữa tháng 7 và tháng 8 về độ bao phủ của rừng xung quanh các khu khai thác của HAGL cho thấy tình trạng diện tích bao phủ của rừng đang giảm đi. 

Trong suốt cuộc gặp thứ 2 với Global Witness hồi tháng 9, HAGL đồng ý một cuộc kiểm tra độc lập về các khu đồn điền của tập đoàn này để giải quyết các vấn đề liên quan. Tuy nhiên, tập đoàn này vẫn chưa chịu thực hiện cam kết, thay vào đó là quyết định tập trung vào “các chương trình xã hội”. Điều này có vẻ không hơn gì một hoạt động quảng bá hình ảnh để đánh bóng tên tuổi. 

Bà Megan MacInnes nói rằng “Tháng 11 này đánh dấu thời điểm kết thúc hạn định 6 tháng đối với tập đoàn này trong việc giải quyết dứt điểm mớ lộn xộn. Việc không có thiện chí của HAGL cho tới nay đã không cho chúng tôi lựa chọn nào khác ngoài việc phải kết luận rằng tập đoàn này ít có ý định giải quyết các vấn đề đã được nêu hoặc thực hiện các trách nhiệm của họ một cách nghiêm túc” và cũng cho biết “Dân làng đang phải chịu đựng từng ngày về hậu quả của các khu khai thác của HAGL, và rất ý thức về các nguy cơ về môi trường và xã hội mà tập đoàn này đang gây ra. Chúng tôi thiết nghĩ các nhà đầu tư cũng nên quan tâm vấn đề này và cũng nên rút vốn.”

Khi được Global Witness hỏi hôm 13 tháng 11 năm 2013, HAGL đã phủ nhận về tình trạng thiếu triển khai các cam kết. Tập đoàn này nói rằng họ đã cung cấp việc làm và đã triển khai các dự án phát triển kinh tế xã hội (bao gồm việc xây đường, trường học và trạm y tế), tuy nhiên mùa lũ và đợt bầu cử quốc gia ở Campuchia đã cản trở công ty tiếp cận với các cộng đồng bị ảnh hưởng. HAGL khẳng định thông báo tạm ngừng việc khai thác của họ đã được tuân thủ, và miêu tả các bằng chứng do Global Witness cung cấp “không đáng tin cậy”. Hơn nữa, HAGL cho biết họ “đang tìm kiếm một đơn vị cố vấn độc lập để giúp HAGL khảo sát và cố vấn cho HAGL cải thiện các vấn đề liên quan đến cộng đồng” nhưng các cố vấn này phải đi cùng với nhân viên của tập đoàn để “đảm bảo tính độc lập về kết quả khảo sát của đơn vị tư vấn.” 

Các cuộc đàm phán giữa Global Witness với một tập đoàn thứ hai của Việt Nam, cũng đã được đề cập đến một trong các Ông trùm cao su - Tập đoàn cao su Việt Nam - vẫn đang tiếp diễn.

Asia Clinic, 12h13' ngày thứ Sáu, 15/11/2013

Thứ Hai, 11 tháng 11, 2013

TƯƠNG LAI CHÍNH TRỊ, KINH TẾ VÀ AN NINH TOÀN CẦU TRONG MỘT THẾ KỶ TỚI

Bài đọc liên quan:
+ Thuận lợi và khó khăn cho tương lai Việt Nam
+ Quay về hệ thống Bretton Woods
+ Độc lập năng lượng trong một thế giới phụ thuộc lẫn nhau
+ Thế giới vào năm 2030
+ Trọng tâm Thái Bình Dương của Obama
+ Kế hoạch 383 của Trung Hoa chỉ là mỵ dân và thế giới
+ Tương lai Trung Hoa về đâu?

Thế kỷ XXI là thế kỷ của an ninh năng lượng, nguồn nước sạch và lương thực. Mọi biến động về các lĩnh vực kinh tế, chính trị, chiến tranh,... trên toàn cầu đều xoay quanh 3 lĩnh vực chính này. Cho đến lúc này, sự cạnh tranh khốc liệt vẫn diễn ra bỡi 2 cường quốc Hoa Kỳ và Trung Hoa. Đâu đó trên thế giới vẫn còn ảo tưởng một Trung Hoa thống trị thế giới vào khoảng 2026. Họ đang thực hiện một kế hoạch gọi là 383 để cố làm được điều ấy vào 2020. Nhưng vô vọng vì trong khi họ tiến trong nền chính trị què quặt, thì Hoa Kỳ đã đi đến chỗ mà Trung Hoa không bao giờ đạt được dù trong giấc mộng Trung Hoa.

Nhưng năm 2010, Hoa Kỳ tuyên bố rút dần khỏi túi dầu thế giới - Trung Đông - để xoay trục sang Thái Bình Dương, sau khi từ bỏ Thái Bình Dương để sang Trung Đông 4 thập kỷ qua thông cáo Thượng Hải, để ký hiệp định Paris rút khỏi quân đội ở Đông Dương, giao quyền cai trị mãnh đất này cho Trung Hoa. Đây là dấu mốc quan trọng mà ít ai quan tâm lý do nào Hoa Kỳ quay lại Thái Bình Dương. Có 3 lý do cơ bản cần đưa ra để hiểu rõ nguyên nhân quay lại của Hoa Kỳ.

Thứ nhất là từ trước năm 2010, Hoa Kỳ - vùng đất của sáng tạo - đã tìm ra phương pháp biến đá thành dầu. An ninh năng lượng của Hoa Kỳ trong vòng 1 thế kỷ tới xem như không còn là vấn đề để quan tâm.

Lý do thứ hai là sự trổi dậy hung hãn của Trung Hoa nhằm làm bá chủ châu Á, và toàn cầu, đang cần sự có mặt của Hoa Kỳ, cũng giống như sự trổi dậy của Iran, Iraq và Liên Xô ở vùng Trung Đông vào đầu thập niên 1970s của thế kỷ trước.

Và cuối cùng là, một Hoa Kỳ trở lại thời kỳ hoàng kim khi tìm ra dầu hỏa, để giữ vững ngôi vị quán quân của siêu cường về mọi lĩnh vực, khi Hoa Kỳ sẽ là quốc gia xuất khẩu dầu hỏa số 1 thế giới vào năm 2020. Nó sẽ tác động đến những thay đổi cục diện của từng khu vực trên toàn cầu.

Về mặt kinh tế và chính trị toàn cầu, khi Hoa Kỳ trở thành quốc gia số 1 xuất khẩu dầu hỏa, thì giá dầu sẽ giảm, nhân loại sẽ được hưởng thụ nguồn cung năng lượng thêm 1 thế kỷ nữa, mà không phải lo lắng các túi dầu, khí sẽ cạn kiệt trong vòng nửa thế kỷ tới.

Sau khi Hiệp Định Bretton Woods bị Đức và Nhật từ bỏ vào năm 1970, nhờ vào sự che chở của Hoa Kỳ để lo phát triển kinh tế sau chiến tranh thế giới II. Tháng 8 năm 1971, tổng thống Nixon đã quyết định không neo đồng đô la Mỹ vào vàng, thả nổi đồng đô la Mỹ để điều hành kinh tế toàn cầu. Từ đó, một thế giới hỗn loạn về kinh tế cứ diễn ra khoảng 7-8 năm một lần, do sự phát triển không có kế hoạch ở các khu vực, quốc gia trên thế giới. Từ đó, giá dầu được neo vào vàng và đồng đô la vạn năng là 2 yếu tố quyết định chủ chốt. Dĩ nhiên, do nhu cầu năng lượng mà một số yếu tố như, đình công, chiến tranh, giảm sản xuất, phát hiện thêm mỏ dầu, v.v... cũng là những yếu tố làm ảnh hưởng giá dầu trên toàn cầu.

Khi giá dầu biến động thì làm ảnh hưởng đến nền kinh tế, kể cả chính trị các quốc gia xuất và nhập khẩu dầu. Cụ thể là, giá dầu lên thì các quốc gia nhập khẩu dầu sẽ khó khăn, còn các quốc gia xuất khẩu dầu được hưởng lợi; và ngược lại. Nhưng khi Hoa Kỳ đã đảm bảo an ninh năng lượng cho chính họ, thì cả thế giới cũng được hưởng sự an toàn năng lượng với giá rẻ.

Trong khi đó, kinh tế châu Âu đang vật lộn với một mô hình United States of European với dị biệt văn hóa, và chưa chuẩn hóa về luật pháp để được một sự đồng thuận như United States of America. Kinh tế Hoa Kỳ khủng hoảng 2008, kéo theo kinh tế toàn cầu bị ảnh hưởng, đặc biệt, nền kinh tế dựa vào tăng trưởng do đầu tư công và xuất khẩu của Trung Hoa cũng đang vật vã. Hoa Kỳ bắt đầu tăng trưởng kinh tếthị trường lao động tăng trưởng mạnh bất ngờ vào tháng 10/2013 này, và họ đang xem xét có nên tung những gói kích thích kinh tế - QE3 - sau 5 năm vật lộn với suy giảm kinh tế. Và Hoa Kỳ còn hy vọng sẽ tăng trưởng kinh tế nhanh hơn, giảm tỷ lệ thất nghiệp về tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên - 3-5% - nhờ vào luật đầu tư của chính quyền Obama.

Vấn đề này cho chúng ta thấy những dấu hiệu tốt cho kinh tế toàn cầu, và những kết quả của nó ảnh hưởng đến từng quốc gia, khu vực trong tương lai.

Giá vàng ngày 12/11/2013 là 1269.80usd/oz sau khi đã giảm 16usd/oz qua đêm.

Đầu tiên là giá dầu và vàng sẽ giảm trong dài hạn 7 năm tới, khi Hoa Kỳ đạt mức xuất khẩu dầu số 1 toàn cầu, và sẽ còn giảm tiếp, có thể về cái mốc của cuối thập niên 1990s - dầu ở mức 40USD/thùng, và vàng ở mức 400USD/ounce. Vì năm 1980 khi Hoa Kỳ bị khủng hoảng 52 con tin ngoại giao với Iran, dầu đã từng lên giá cao và vàng đã từng đạt mốc 850USD/oz, nhưng đến 1990 thì vàng chỉ còn 230USD/oz, và dầu chỉ còn 20USD/thùng!

Giá vàng update ngày giáng sinh 24/12/2013: 1199.10usd/oz. Tính ra hơn 1 tháng qua vàng giảm 70usd/oz, và trong năm 2013 này vàng giảm 460usd/oz, sau khi kinh tế Hoa Kỳ tăng trưởng 4,1% cao hơn dự kiến là 3,6%/năm 2013 này. Ai có vàng thì bán tháo đi đừng chần chờ.

Thứ hai là Hoa Kỳ vẫn khẳng định siêu cường số 1 toàn cầu trong ít nhất một thế kỷ tới. Một thế kỷ tới số phận của thế giới vẫn nằm trong tầm chiến lược của Hoa Kỳ.

Hai vấn đề lớn trên sẽ là yếu tố quyết định để các quốc gia nhỏ bé chọn tầm nhìn an ninh quốc phòng và nền kinh tế chính trị đúng đắn cho riêng mình, để dân giàu nước mạnh. Vì chỉ sau 25 năm kể từ khi Hoa Kỳ bảo trợ an ninh quốc phòng cho Đức và Nhật sau chiến tranh thế giới II, họ đã phát triển kinh tế vượt bậc, chiếm lĩnh thị phần thế giới, và đòi xóa bỏ Hiệp định Bretton Woods, hòng muốn cạnh tranh với đồng đô la trên thị trường toàn cầu.

Mặc dù an ninh lương thực và nguồn nước sạch đóng vai trò lớn cho toàn cầu trong thế kỷ tới, nhưng nó chỉ có giá trị để Trung Hoa lấy làm mối đe dọa láng giềng. Và một số quốc gia châu Phi, Trung Đông, cũng như châu Á cần phải biết trân quý những gì thiên nhiên ban phát, thì có thể ổn định được trong vòng một thế kỷ tới.

Đối với Việt Nam cho đến giờ này chưa là một quốc gia phát triển bằng sáng tạo, mà vẫn còn là một nước đang phát triển chủ yếu nhờ vào nông nghiệp, và bán rẻ sức lao động, tài nguyên là chủ yếu. Mặc dù, định hướng phát triển của nền kinh tế Việt Nam đến 2020 là một nền kinh tế công nghiệp, nhưng tỷ trọng công nghiệp có được vẫn nhờ cậy vào đầu tư trực tiếp từ nước ngoài, doanh nghiệp trong nước vẫn chỉ là gia công lắp ráp, chưa tự sản xuất được bất kỳ một mặt hàng công nghiệp nào có thể cạnh tranh với thế giới.

Nếu Việt Nam có đủ những lãnh đạo có khả năng lèo lái quốc gia, thì lúc này là cơ hội ngàn vàng để tính cho quốc gia dân tộc một chặn đường dài trong một thế kỷ tới về việc quy hoạch phát triển ngành mũi nhọn: nông, ngư nghiệp vẫn còn đang chiếm 80% nuôi sống dân Việt. Đồng thời chọn lựa một hình thái chính trị kinh tế phù hợp để chung sống hòa bình và thịnh vượng. Bằng không, khó lường trong tương lai gần của đất nước sẽ đi về đâu, trong kiếp nạn kinh tế, chính trị và văn hóa đang suy đồi đến đáy như bây giờ.

Asia Clinic, 11h22' ngày thứ Ba, 12/11/2013

Chủ Nhật, 10 tháng 11, 2013

BI KỊCH CỦA KẺ SỸ GIỮA ĐÁM BẦN NÔNG

Tôi hầu như không ca ngợi hay khen ai ở chế độ xã hội chủ nghĩa này, đặc biệt là những quan lại triều đình hiện nay.

Tôi biết ông Nguyễn Thiện Nhân qua cố GSBS Nguyễn Thiện Thành - bố ông - ngòai ra tôi chưa bao giờ tiếp xúc hay quen biết ông Nhân. Hôm nay ông từ nhiệm cương vị phó thủ tướng để về lo cho người già và người nghèo ở Mặt trận tổ quốc. Một cơ quan mà ai cũng hiểu là về an vị để chờ tuổi hưu. Âu đó cũng là cái nghiệp giống bố của ông, khi cuối đời nghiên cứu và chữa trị ngành lão khoa - lo cho người già.

Nhiều người đồn đại rằng, ông vô tài, không làm được cái gì cho ra hồn, đánh trống bỏ dùi, làm dang dở rồi lại đi, nên không bộ nào dung nạp được ông. Ngày ông ra Hà Nội lãnh chức thượng thư bộ Học, ông ở chưa yên vị, thì lên phó thủ tướng chăm lo văn thể mỹ, giờ thì vừa vào nhóm 16 người thinktank, lại đến chỗ để chờ ngày lãnh lương hưu.

Nhưng tôi lại thấy khác, những cái ông Nguyễn Thiện Nhân làm được tuy dở dang, nhưng ông để lại những dấu ấn vô cùng quan trọng, mà ít ai thấu hiểu và thấy nó là những viên gạch đặt nền tảng cho công cuộc phục hưng đất nước.

Ngày ông làm bộ trưởng giáo dục và đào tạo, với 3 không, ông đánh động tất cả mọi cấp bậc giáo dục và không chừa bất kỳ ai, ngành nghề nào, cấp bậc nào trong chính quyền. Từ vấn nạn sách giáo khoa sai trái, đến chạy bằng cấp, mua bằng giả, học trường dõm để mua chức quyền. Có lẽ mọi việc ông dang dở cũng từ đây, và cũng từ đây, ông đơn độc giữa bầy sói vô học, thiếu văn hóa, háu đói, tranh ăn.

Chính việc dám nhìn thẳng vào sự thật một nền giáo dục thui chột này nó là động lực để chính bản thân tôi lao vào viết báo và viết blog một cách say sưa, không kiêng dè, sợ sệt bằng những bài tố cáo những trường đại học dõm, giả danh, những nhân vật vô học đứng ra làm cò mồi để buôn bằng bán chức tước. Rồi sau đó, tôi mới có loạt hơn 50 bài về học bổng du học ở các quốc gia có nền giáo dục tiên tiến. Loạt bài này hằng năm đã trực tiếp hoặc gián tiếp giúp được cho các cháu mỗi năm đạt đến cả triệu đô la Mỹ vào gói học bỗng du học bậc đại học.

Sau đó, tôi lại tiếp tục phản biện cho tất cả mọi lĩnh vực trong xã hội: kinh tế, chính trị, y học, văn hóa, môi trường, chính sách, v.v... như một con tằm phải nhả tơ không mệt mỏi.

Khi ông chủ tịch quốc hội Nguyễn Sinh Hùng đề nghị Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân phát biểu từ nhiệm, và nhận trách nhiệm mới, song ông Nhân gửi lời cảm ơn và xin thôi không phát biểu. Điều này đã nói lên cho nhân dân hiểu rất nhiều.

Suy cho cùng, trong hàng ngũ lãnh đạo của Việt Nam hiện nay, để kiếm được có một người có thân thế gia đình dòng tộc và bản thân có những thành quả học tập, rèn luyện học vị, lẫn học hàm bằng nổ lực thực sự của bản thân như ông Nhân là hiếm. Nhưng cũng chính vì thế mà, ông không thể làm việc được với họ. Kẻ sỹ sống giữa bầy sói khác nào đem dao phay mổ trâu mà thái mớ hành hẹ? 

Chữ Nhân làm sao đi với lũ bất nhân? Chữ Thiện làm sao sống cùng với lũ lưu manh? Thôi thì ông cũng đã đến lúc yên lặng để làm kẻ sỹ thất thời lỡ vận như bao tiền nhân mà sách sử đã ghi vậy.

Đơn độc giữa bầy sói mà chưa bị sói ăn thịt cũng là may mắn lắm rồi, ông cựu thượng thư bộ Học ạ. Chúc ông may mắn trong những năm tháng còn lại, nơi chính trường hôi tanh mùi xác chết của hàng triệu dân nước Việt đã ngã xuống, để có hôm nay mùi tanh tưởi.

Asia Clinic, 14h20' ngày thứ Hai, 11/11/2013

Thứ Bảy, 9 tháng 11, 2013

KẾ HOẠCH 383 CỦA TRUNG HOA CHỈ LÀ MỴ DÂN VÀ THẾ GIỚI

Bài đọc liên quan:

Với bẫy thu nhập trung bình, và tình trạng hủy hoại tài nguyên, thiên nhiên đã buộc chính quyền mới của Trung Hoa phải cải cách. Hội nghị lần thứ 3 đang diễn ra tại Bắc Kinh trong 3 ngày 9 đến 12/11/2013 đã đưa ra một đề án gọi là 383. Với mộng ước tăng gấp đôi thu nhập trung bình từ hơn 6.000USD/đầu người lên đến 12.616USD/đầu người trong vòng 10 năm tới cho hơn 1,3 tỷ dân, để chiếm vị trí quán quân của cường quốc kinh tế số 1 toàn cầu cho giấc mộng Trung Hoa.

Vậy kế hoạch 383 có những gì về mặt bản chất và hiện tượng chúng ta cần nghiên cứu để nhìn thấy tư tưởng của thế hệ thứ 6 Trung Hoa đang muốn gì? Họ sẽ làm gì? Và tương lai kinh tế, chính trị của Trung Hoa, khu vực và toàn cầu sẽ bị ảnh hưởng ra sao. Đó là 3 câu hỏi cần nên giải quyết trong ngắn và dài hạn đối với các cường quốc và nước nhỏ, không chỉ trong khu vực và trên toàn thế giới.

Với 383, đầu tiên, nó mô tả mối quan hệ giữa ba thành phần chính của nền kinh tế Trung Quốc: Chính phủ, doanh nghiệp, và thị trường. 

Thứ hai, nó xác định 8 lĩnh vực quan trọng của cải cách: quản lý, chính sách cạnh tranh, đất đai, ngân hàng tài chính, tài chính công, tài sản nhà nước, đổi mới, và tự do hóa thương mại và tài chính quốc tế. 

Thứ ba, nó làm nổi bật ba mục tiêu tương quan: giảm bớt áp lực bên ngoài cho thay đổi chính sách trong nước, xây dựng toàn diện xã hội thông qua một chương trình an sinh xã hội cơ bản, và giảm tình trạng không hiệu quả, bất bình đẳng, và tham nhũng thông qua cải cách ruộng đất ở nông thôn.

Về hiện tượng, đây là một sự cải cách to lớn nhất, mà chính quyền Trung Hoa đang tuyên truyền rằng kể từ năm 1978, sau khi Đặng Tiểu Bình đưa Trung Hoa có 3 thập kỷ tăng trưởng thần kỳ. Nhưng, thực chất là, họ Đặng dễ dàng thành công hơn thế hệ hiện tại. Vì chuyển đổi từ nền kinh tế tự cung, tự cấp với dân số đông nhất thế giới, giá nhân công rẻ, sang nền kinh tế thị trường định hướng mang màu sắc văn hóa phong kiến Trung Hoa, giao lưu mở cửa đầu tư với toàn cầu, sẽ dễ dàng hơn việc mà thế hệ hiện nay sẽ làm.

Về mặt bản chất, cái mà chính quyền hiện nay ở Trung Hoa hoàn toàn không cải cách gì. Về kinh tế, họ vẫn khẳng định sở hữu công tư liệu sản xuất. Về chính trị để bảo vệ quyền lợi của giai cấp cầm quyền tiếp tục tham nhũng, và độc quyền kinh tế ăn chia, họ tiếp tục giữ một chế độ chính trị đơn nguyên tập quyền phong kiến kiểu mới.

Dưới cái nhìn triết học, thế hệ thứ 6 đang cai trị ở Trung Hoa dưới hiện tượng của màu cờ cộng sản, nhưng bản chất là tư bản hoang dã, một kiểu rượu cũ, nhưng bình mới.

Cũng dưới cái nhìn triết học, thế hệ thứ 6 đang cầm quyền của Trung Hoa đang giơ ra chiêu bài mỵ dân và cả thế giới là cải cách, nhưng đó chỉ là hiện tượng, còn bản chất thì họ vẫn giữ nguyên bản chất của một tập đoàn phong kiến kiểu mới để tiếp tục ăn chia tài nguyên, mồ hôi nước mắt của nhân dân Trung Hoa như các thế hệ trước đây.

Qua Trung Hoa, chúng ta cũng dễ dàng thấy 2 việc lớn đối với Việt Nam nói riêng, và khu vực và thế giới nói chung như sau:

Thứ nhất là, các chuyến công du của lãnh đạo mới của Trung Hoa, trong đó có Việt Nam là ý đồ xoa dịu, và áp đặt ý muốn cai trị của họ đến các quốc gia láng giềng, và trên toàn cầu. Điều này thể hiện qua, hiến pháp Việt Nam hầu như không thay đổi gì, dù đã tốn tiền bạc, sức người trong 1 năm qua, mà quốc hội Việt Nam đang tốn kém của cải đóng thuế của dân để bàn chuyện ngoài lề luật pháp như: bác sỹ Cát Tường hủy xác bệnh nhân sau tai biến; chuyện phù thủy giả danh ăn chia tiền chính sách đi tìm liệt sỹ; v.v...

Thứ hai là, các quốc gia láng giềng của Trung Hoa cần phải cảnh giác về giấc mộng bá chủ châu Á, và đi đến bá chủ toàn cầu trong sự trổi dậy trong hung hãn của Trung Hoa.

Asia Clinic, 9h24' Chúa nhựt, 10/11/2013

Thứ Sáu, 8 tháng 11, 2013

THIÊN ĐỊA NHÂN - NƯỚC VIỆT CÒN GÌ?

Bài đọc liên quan:

Một quốc gia hưng hay vong thì 3 yếu tố nền tảng báo hiệu là: Thiên thời, Địa lợi và Nhân hòa. Tào Tháo được chữ thiên thời mà chỉ gầy cơ nghiệp một đời. Lưu Bị chỉ được chữ nhân mà cũng nên cơ nghiệp một đời. Tôn Quyền được chữ địa lợi cũng làm nên nghiệp một đời. Nhưng muốn vững bền thì cả 3 phải cùng hưng thịnh.

Nhìn lại nước Việt hôm nay, lòng người ly tán, niềm tin vào chế độ đã mất sạch. Cái mất đến nỗi phải vận động hành lang quốc hội rằng, các đại biểu quốc hội không nên bàn vấn đề tham nhũng trong cuộc họp dài nhất trong lịch sử nước Việt đến 41 này đang diễn ra ở Hà Nội.

Về thiên thời thì chỉ mới vào đầu tháng 10 âm lịch, nhưng đã có 13 cơn bão ập vào đất nước. Cơn bão số 13 - Haiyan - được xem là siêu bão sẽ đổ vào từ Quảng Bình đến Quảng Ngãi. Khu vực ảnh hưởng có thể lũ lớn từ Thánh Hóa đến Khánh Hòa. Nơi mà có khoảng hơn 100 đập thủy điện lớn nhỏ đang xả lũ gây cuốn trôi học trò, mà chính quyền không báo trước.

Về địa lợi to lớn án ngữ một mặt tiền dài nhìn ra biển, dù đất nước ta có diện tích nhỏ, nhưng lại đang đương đầu với giấc mộng Trung Hoa làm bá chủ châu Á. 

Đây chỉ là một đúc kết ngắn để nhìn, và để rút ra những bài học gì cho hiện tại và cho tương lai đất nước. Rõ ràng Thiên, Địa và Nhân hôm nay của nước Việt chẳng còn gì ngoài ly tán, hiểm họa và tai ương. Nhưng quốc hội đã họp 12 ngày, mà chưa cho thấy có ánh sáng cuối đường hầm cho đất nước, và dân tộc, mà chỉ bàn nhau những câu chữ tối nghĩa, đánh tráo khái niệm để tốn tiền thuế của dân.

Khi một vương triều có dấu hiệu suy sụp thì thiên thời không còn, địa lợi trở thành hiểm họa và nhân tình bất hòa. Đó là quy luật của cuộc sống sinh động ngàn đời đã đúc kết mà thành.

Asia Clinic, 18h11' ngày thứ Bảy, 08/11/2013

Chủ Nhật, 3 tháng 11, 2013

TẠM THỜI CHO NGẮN HẠN NHƯNG XẤU DÀI HẠN

Bài đọc liên quan:

Hôm khai mạc hội nghị trung ương 8 vừa qua, ông thủ tướng đọc báo cáo tại hội nghị trung ương 8 đang diễn ra có đoạn, kinh tế vĩ mô tạm ổn sau hơn 2 năm thực thi nghị quyết 11/2011. Lạm phát đã được thủ tiêu. Niềm tin dân chúng vào đồng tiền đã được củng cố. Tình trạng đô la hóa và vàng hóa thị trường đã được kiểm soát. Tăng trưởng tuy không đạt như mong muốn, nhưng tốt trong tình trạng kinh tế đang suy thoái trong nước và toàn cầu. Tất cả những điểm sáng này là do một tay ông Thống đốc NHNNVN Nguyễn Văn Bình làm ra, dĩ nhiên có sự góp phần của các bộ, ban ngành khác.

Từ tháng 8/2011 ông Nguyễn Văn Bình nhậm chức Thống đốc NHNN VN là lúc dầu sôi lửa bỏng. Lãi suất ngân hàng kịch trần lên đến 28 - 30%/năm. Lạm phát của năm đứng hàng thứ 2 trên thế giới - chỉ sau Venezuela 29.6% - khoảng 17.15%. Bong bóng bất động sản xì hơi giai đoạn khốc liệt nhất. Nợ xấu tràn lan, doanh nghiệp chờ ngày chết, và đóng cửa hàng loạt. Sức mua của dân cạn kiệt sau nghị quyết 11/2011 được ban hành. Kinh tế vĩ mô khốn đốn. Mọi hậu quả đó là do người tiền nhiệm để lại. Ông phải tháo gỡ khó khăn.

Có 3 vấn đề về mặt ngắn hạn ông Thống đốc NHNNVN làm tốt cho ngắn hạn, nhưng cũng là cái xấu cho dài hạn của nền kinh tế nước nhà.

Vấn đề độc quyền kinh doanh vàng và đô là là một việc tốt. Nó đã giúp đảng cầm quyền đem về lợi nhuận gần 6.500 tỷ để góp vào ngân sách nhà nước đang thiếu hụt vì tình trạng kinh tế đang khốn đốn. Nó đã giúp tình trạng vàng hóa và đô la hóa bị tiêu diệt. Nhưng về dài hạn, nó đã góp phần làm tê liệt một mảng lớn của kinh tế vĩ mô của đất nước - tài nguyên, vàng đô la và chứng khoán. Điều này kéo theo đồng tiền sẽ bị nằm trong ao tù nước đọng, dẫn đến kinh tế ngoài nhà nước thiếu hụt tư bản đầu tư, và các doanh nghiệp tư nhân sẽ khốn đốn. Trong khi đó, doanh nghiệp ngòai nhà nước đóng góp đến hơn 60% GDP của đất nước. Còn nhớ những năm đầu 1990s cũng độc quyền vàng đô la, thị trường heo hút, sau đó xóa độc quyền thị trường trở nên sôi động và kinh tế thoát hiểm. Cambodia cứ thả cửa cho đô la và vàng hóa, nhưng đồng tiền của họ vẫn mạnh hơn đồng tiền Việt và không lạm phát, đồng đô la cũng không giết được đồng Ria.

Tăng lãi suất kịch trần và hạ lãi suất chậm chạp là vấn đề thứ hai ông Bình đang cố gắng làm, để khởi động lại dòng tiền tín dụng đến các doanh nghiệp đang khát vốn, và cứu lấy bong bóng bất động sản đang xì hơi đến kiệt quệ. Giai đoạn tăng lãi suất kịch trần nhằm giảm lạm phát. Sau khi kinh tế suy sụp, sức mua của dân cạn kiệt, tình trạng lạm phát không thể xảy ra dù giá xăng dầu tăng đến 3 lần trong 1 tháng, là bắt đầu lúc ông Bình hạ lãi suất ngân hàng đến 3 lần liên tiếp. Điều này đúng, nhưng lúc này việc hạ trần lãi suất lại không có tác dụng vì; Dư nợ vay tín dụng của các ngân hàng ở lãi suất cũ quá cao; thiếu thanh khoản ở các ngân hàng đang ở giai đoạn tầm trọng vì đóng băng bất động sản; khả năng cho vay của các ngân hàng lại kém, vì doanh nghiệp sắp chết thì không đủ điều kiện cho vay, doanh nghiệp làm ăn được thì thu nhỏ thị trường không cần phải vay. Hậu quả là, toàn hệ thống ngân hàng như con rắn đang tự ăn cái đuôi của mình cho đến khi tự nuốt đến cái đầu.

Giải quyết nợ xấu là lĩnh vực ông Thống đốc làm cũng tốt cho đến bay giờ. Mua bán và sáp nhập các NH mất khả năng chi trả vào những ngân hàng còn mạnh, và đang là chủ nợ của ngân hàng kia, là một việc làm đúng của ông. Nhưng nó lại làm 2 cái nợ nhỏ gộp thành một cái nợ to, cũng chỉ là giải pháp tình huống trong lúc bỉ cực. Không còn cách nào khác, vì không thể làm sụp bất kỳ một ngân hàng nào trong lúc này sẽ kéo theo chuỗi domino kinh tế sụp đổ, và có thể kéo theo động loạn chính trị. Từ đây nợ xấu bắt đầu hiển hiện, và việc hình thành VAMC - công ty mua bán nợ xấu quốc gia - mua một đống nợ xấu nhưng không biết sẽ bán nó cho ai? Một cách giật gấu vá vai trì hoãn thời điểm tử vong của một con bệnh nan y.

Nhiều bài viết về ông Thống đốc ngân hàng nhà nước đương nhiệm - Nguyễn Văn Bình - đa số đều chê, chưa thấy lời khen. Thực ra, việc ông Bình làm trong gần 3 năm qua có cái tốt ngắn hạn, lại là cái xấu trong dài hạn. Nhìn bề ngoài là kinh tế đang phục hồi, và các khoản nợ xấu đang được giải quyết ổn thỏa, nhưng nợ xấu của ngân hàng lại chính của ngân hàng nợ ngân hàng. Hay nói cách khác, ngân hàng đang là con nợ xấu của tiền tiết kiệm mà người dân đang ký gửi ở các ngân hàng để lấy lãi.

Một bài toán khó cho không chỉ riêng ông Thống đốc NHNNVN, mà cho tất cả mọi chuyên gia tài chính ngân hàng toàn cầu, khi những quyết định được đưa ra bằng ý chí của chính khách, chứ không giải quyết bằng cách bài bản của kinh tế tài chính học thực sự. Trong ngắn hạn, ông Thống đốc đang giải quyết tốt, nhưng trong dài hạn, tất cả những tồn đọng từ dạng này chuyển sang dạng khác theo cách giải quyết của ông, và đặc biệt, hệ lụy của xóa sổ một mảng kinh tế lớn - vàng và đô la - sẽ đẩy nền kinh tế nước Việt như một cây cổ thụ mục, rỗng ruột, chỉ còn cái vỏ, chỉ cần một cơn gió nhẹ thoảng qua, nó đổ sụp bất kỳ lúc nào không thể ai có thể đoán được.

Asia Clinic, 14h42' ngày thứ Hai, 04/11/2013

Thứ Sáu, 1 tháng 11, 2013

CHEABOL HÀN QUỐC VÀ TẬP ĐOÀN KINH TẾ VIỆT

Bài đọc liên quan:

Cách đây vài hôm, thủ tướng quyết định khai tử tập đoàn Vinashin và thành lập Tổng công ty công nghiệp tàu thủy - SBIC: Shipbuilding Industry Corporation. Do hậu quả làm ăn thua lỗ vì tham nhũng, và thiếu tinh thần trách nhiệm, cũng như khả năng quản lý của lãnh đạo tập đoàn. Có người cho rằng thu nhỏ tập đoàn để dễ quản lý, thì mới thành công, nhưng tôi không tin nó không còn ăn bám trên mồ hôi nước mắt của dân.

Nhìn chung, các tập đoàn nhà nước khác của Việt Nam hiện nay cũng không thoát khỏi hoàn cảnh của Vinashin, chỉ khác nhau là, một số tập đoàn còn sống vì có nguồn thu để nuôi sống, còn Vinashin thì phải tự bươn chải mà sống. Ví dụ, Tập đoàn điện lực quốc gia nhờ tăng giá điện, bắt dân nuôi để tồn tại; tập đoàn than khoáng sản nhờ móc tài nguyên bán ăn để sống; tập đoàn dầu khí cũng bán tài nguyên để ăn, mà dân thì không được bù giá xăng dầu, ngược lại dân phải đóng đến 33% phí thuế để nuôi, nên giá xăng dầu nước Việt luôn cao hơn nhiều quốc gia khác.

Ngược lại các Cheabol của Hà Quốc, ông Park Chung Hee thành lập từ 1963 ngày càng hùng mạnh và chiếm lĩnh thị trường toàn cầu. Chúng đã góp phần trọng yếu đưa đất nước Hàn Quốc chỉ có diện tích, và dân số bằng một nửa của Việt Nam, nhưng kinh tế nằm trong nhóm G20, đứng chung với Trung Hoa có dân số gấp hơn 30 lần so với Hàn Quốc.

Có những khác nhau về sự hình thành và quản lý các tập đoàn ở Hàn Quốc và ở Việt Nam cần rút ra để học hỏi cho tương lai.

Sự khác nhau đầu tiên và cơ bản nhất là nền chính trị đa nguyên của Hàn Quyền làm tản quyền chính phủ và đảng cầm quyền, nên trách nhiệm của các chính khách đối với nền kinh tế quốc gia được ràng buộc cụ thể, đồng thời nạn tham nhũng cũng bị kiểm soát chặt chẽ hơn. Mặc dù tham nhũng ở đâu cũng có, nhưng tham nhũng ở một chế độ đa nguyên, tản quyền dễ bị phanh phui và quy trách nhiệm đúng lúc, đúng đối tượng hơn là một chế độ chính trị đơn nguyên tập quyền của vua chúa phong kiến, không cần người có khả năng để điều hành, chỉ cần người biết ăn chia để làm quản lý.

Sự khác biệt thứ hai làm cho người quản lý tập đoàn Cheabol ở Hàn Quốc có trách nhiệm với tập đoàn của mình là, các Cheabol là của chính ông chủ tư nhân và các thành viên có cổ đông gầy dựng nên nó. Họ phải lo sự sống còn của chính bản thân và nhân viên của mình. Ngược lại, các tập đoàn kinh tế nhà nước của Việt Nam là của chung, là nơi được chính trị ưu đãi mọi mặt về chính sách, kinh tài, v.v... nên nó là nơi các nhóm lợi ích bâu vào để đục khoét, thua lỗ thì bắt dân đóng thuế, phí để nuôi nó tồn tại.

Trong cuộc họp quốc hội hiện đang diễn ra tại Hà Nội, tôi vẫn chưa thấy các nhà hoạch định chính sách nhìn ra 2 nguyên nhân cơ bản làm nền kinh tế Việt đang sụp đổ, và tìm ra phương án để cứu các tập đoàn kinh tế nhà nước có thể tự sống được. Vì hiến pháp vẫn quy định những điều xưa cũ ủng hộ cho mọi tha hóa và tham nhũng đẩy nền kinh tế nước nhà đi đến chỗ không lối thoát. Hay nói cách khác, tốn thời gian, tiền bạc trong gần 1 năm qua, nhưng hiến pháp nước Việt không có gì thay đổi, chỉ là những cụm từ đánh tráo khái niệm.

Tóm lại, như tôi đã viết, với hình thái chính trị kinh tế Việt, sai lầm là ở thể chế chính trị chứ không phải ở kinh tế. Không thể sửa đổi cái hậu quả kinh tế để hòng cứu được cái nguyên nhân chính trị sai lầm. Đó là mối quan hệ biện chứng và khoa học kinh tế chính trị học mà bất kỳ một sinh viên năm thứ 2 nào, ở bất kỳ một trường đại học nào trên thế giới cũng có thể nhìn ra.

Asia Clinic, 9h42' ngày thứ Bảy, 02/11/2013