nha ban quan tan binh | mua nha quan tan binh

Thứ Bảy, 10 tháng 3, 2012

NHÀ LÃNH ĐẠO CHUYỂN ĐỔI SAI LẦM NHỮNG GÌ?


Bài viết cùng tác giả:


Bài viết của ông Joseph S. Nye, Jr. Ông là cha đẻ của lý thuyết “Quyền lực mềm”, cũng là một cựu trợ lý bộ trưởng quốc phòng, là một giáo sư tại Đại học Harvard và là tác giả của cuốn Tương lai của Quyền lực(The Future of Power).

CAMBRIDGE - Chiến dịch vận động tranh cử tổng thống năm nay tại Hoa Kỳ đã được đánh dấu bởi các lời kêu gọi từ những người sẽ là đối thủ của Barack Obama thuộc đảng Cộng hòa, đó là một sự chuyển biến căn bản về chính sách đối ngoại của Mỹ. Chiến dịch luôn luôn khắc nghiệt hơn so với thực tế cuối cùng, nhưng các quốc gia trên thế giới nên thận trọng với những lời kêu gọi thay đổi để biến đổi. Mọi thứ không phải luôn luôn diễn ra như dự định.

Chính sách đối ngoại hầu như không có vai trò quan trọng trong cuộc bầu cử tổng thống Mỹ vào năm 2000. Năm 2001, George W. Bush (Bush con - ND) bắt đầu nhiệm kỳ đầu tiên của mình với ít sự quan tâm đến chính sách đối ngoại. Nhưng thông qua những mục tiêu chuyển đổi sau các cuộc tấn công khủng bố của i ngày 11 Tháng Chín 2001, giống như Woodrow Wilson, Franklin Roosevelt, Harry Truman, các đời tổng thống trước ông, Tổng thống Bush đã nhấn mạnh dân chủ để tập hợp những người theo ông trong thời kỳ khủng hoảng.

Bill Clinton cũng đã nói về việc mở rộng vai trò của nhân quyền và dân chủ trong chính sách đối ngoại của Mỹ, nhưng hầu hết người Mỹ thờ ơ ở thời điểm những năm 1990s, và một thời kỳ hòa bình sau chiến tranh Lạnh là để kiếm lợi nhuận chứ không phải là để thay đổi. Ngược lại, Chiến lược An ninh Quốc gia năm 2002 của Tổng thống Bush, đã phải ra đời với cái gọi là Học thuyết Bush, học thuyết này tuyên bố rằng Hoa Kỳ sẽ "xác định và loại bỏ những kẻ khủng bố, cùng với các chế độ đang nuôi dưỡng chúng, chúng đang ở đâu". Các giải pháp cho các vấn đề khủng bố đã đẩy dân chủ lan tỏa ở khắp mọi nơi.

Trong tiến trình Bush xâm lăng Iraq được che đậy bề ngoài là để loại bỏ khả năng sử dụng vũ khí hủy diệt hàng loạt của Saddam Hussein, nhưng thực ra là để thay đổi chế độ. Bush không thể đổ lỗi cho những thất bại tình báo về vũ khí của Saddam, và dự đoán rằng nhiều quốc gia khác chia sẻ kho vũ khí hạt nhân này với Iraq. Nhưng khi nhìn tỉ mỉ về việc những mục tiêu chuyển đổi của Tổng thống Bush, nó cho ta thấy sự không đủ hiểu biết về bối cảnh Iraq và khu vực, cùng với một kế hoạch và một sự quản lý yếu kém của chính quyền ông Bush. Mặc dù một số người bảo vệ Tổng thống Bush cố gắng tin rằng ông Bush đã làm nên cuộc cách mạng "Mùa xuân Ả Rập" hiện nay, nhưng những người tham gia vào mùa xuân Ả Rập lại bác bỏ luận điểm này.

Bush được bệnh vực dưới cái nhìn của Nhà Kinh Tế học là "bị ám ảnh bởi ý tưởng là một tổng thống chuyển đổi, không chỉ đơn thuần là một một nhà điều hành giữ nguyên trạng như Bill Clinton". Rồi đến lược Ngoại trưởng Condoleezza Rice cũng được ca ngợi như là một quý bà đức hạnh của chiến lược "ngoại giao chuyển đổi". Trong khi đó các lý thuyết gia về lãnh đạocác nhà viết xã luận cũng có xu hướng nghĩ rằng các quan chức chính sách ngoại giao chuyển đổi đã làm tốt hoặc đạo đức hoặc vì hiệu quả, nhưng những bằng chứng trên thực tế lại không hỗ trợ quan điểm này.

Những kỹ năng lãnh đạo khác nhau quan trọng hơn sự khác biệt thông thường giữa các nhà lãnh đạo chuyển đổi (transformational leader) nhà lãnh đạo "hành động" (“transactional” leader)(1). Hãy xem xét Tổng thống George H.W. Bush (Bush cha – ND), người đã không làm được cái gọi là “Tầm nhìnĐại cuộc" (“The vision Thing”), nhưng lại có vẻ là người tung ra sự kiểm soát và thực hiện việc củng cố một trong những chương trình nghị sự về chính sách đối ngoại thành công nhất của Mỹ trong vòng nửa thế kỷ qua. Có lẽ các kỹ sư di truyền học một ngày nào đó sẽ có thể sản xuất ra các nhà lãnh đạo thiên phú với cả tầm nhìn và những kỹ năng quản lý, nhưng nếu so sánh hai cha con ông Bush (những người chia sẻ cho nhau một nửa thông tin di truyền nòi giống), rõ ràng thiên nhiên đã chưa giải quyết được vấn đề này.

Đây không phải là một luận cứ chống lại những nhà lãnh đạo chuyển đổi. Mohandas Gandhi, Nelson Mandela, và Martin Luther King, Jr., họ đóng vai trò quan trọng trong việc chuyển đổi bản sắc và nguyện vọng của người dân. Cũng không phải là một luận cứ chống lại những nhà lãnh đạo chuyển đổi trong chính sách đối ngoại của Mỹ. Song Franklin Roosevelt và Truman đã có những đóng góp rất quan trọng(2). Tuy nhiên, trong đánh giá các nhà lãnh đạo, chúng ta cần phải chú ý đến những việc họ làm ở cả hai mặt được và mất, những cái không tránh được và những cái ngăn chặn được, cho đến việc đánh giá được rằng những lãnh đạo chỉ biết nói mà không làm và những lãnh đạo chỉ làm mà không nói (nguyên văn là, chó sủa nghĩa là chó không cắn và chó cắn là chó không sủa: the dogs that barked and to those that did not).

Một vấn đề lớn trong chính sách đối ngoại là sự phức tạp của hoàn cảnh. Chúng ta đang sống trong một thế giới của những nền văn hóa đa dạng, chúng ta hiểu biết rất ít về việc ứng dụng kiến thức xã hội (social engineering) và làm thế nào để "xây dựng cộng đồng những quốc gia". Khi chúng ta không có thể chắc chắn là sẽ làm thế nào để cải thiện thế giới, thì sự thận trọng sẽ trở thành một đức tính quan trọng, và một tầm nhìn quá vĩ đại có thể gây nguy hiểm nghiêm trọng.

Trong chính sách đối ngoại cũng giống như trong y học, điều cực kỳ quan trọng là cần nhớ Lời Thề Hippocratic: Lời thề quan trọng đầu tiên trong tất cả mọi lời thề là, không được làm gì để gây nguy hại. Đối với những lý lẽ này, những đức tính tốt của các nhà lãnh đạo hành động thì cách sử dụng trí thông minh của mình trong bối cảnh tốt là rất quan trọng. Một người nào đó giống như George H.W. Bush (Bush cha – ND), không thể phát họa trước một tầm nhìn, nhưng có thể chỉ đạo thành công trong suốt quá trình của một cuộc khủng hoảng, hóa ra ông Bush cha lại là một nhà lãnh đạo tốt hơn so với con trai của ông, vì ông Bush con có một tầm nhìn đầy quyền lực, nhưng lại có một trí thông minh để xử lý tình huống hoặc kỹ năng quản lý lại kém.

Cựu bộ trưởng ngoại giao Mỹ George Shultz, người phục vụ dưới thời Tổng thống Ronald Reagan, một lần so sánh vai trò của mình như một nhà làm vườn "là nuôi dưỡng liên tục một sự sắp xếp hợp lý có hệ thống phức tạp của 3 yếu tố là các thành viên ngoại giao (actors), với yếu tố lợi ích, và mục tiêu của công việc". Nhưng đồng nghiệp của Shultz Đại học Stanford, Condoleezza Rice, muốn một chính sách ngoại giao chuyển đổi tham vọng hơn, không chấp nhận một trật tự thế giới , đã cố gắng để thay đổi nó. Dưới cái nhìn của một quan sát viên thì, "bà Rice tham vọng không chỉ là một người làm vườn - muốn là một kiến ​​trúc sư cảnh quan".một vai trò cho cả hai người làm vườn và kiến trúc sư cảnh quan, tùy thuộc vào bối cảnh, nhưng chúng ta nên tránh những sai lầm thông thường của một tự duy tự phát rằng, kiến trúc sư cảnh quan cho sự chuyển đổi là một nhà lãnh đạo tốt hơn so với người làm vườn cẩn thận.

Chúng ta nên luôn ghi nhớ điều này trong tâm trí khi chúng ta đánh giá các cuộc tranh luận của các ứng viên tổng thống Mỹ hiện nay, với sự tham khảo liên tục của họ đến tình hình suy thoái của nước Mỹ. Suy thoái là một phép ẩn dụ gây hiểu nhầm. Mỹ không phải đang tình trạng suy thoái tuyệt đối, mà, đang trong tình trạng tương đối chấp nhận được, có một xác suất hợp lý rằng nước Mỹ sẽ vẫn duy trì được quyền lực to lớn hơn so với bất kỳ nước nào khác trong những thập kỷ tới. Chúng ta không sống trong một "thế giới hậu nước Mỹ", nhưng chúng ta cũng không sống trong thời đại của nước Mỹ vào cuối thế kỷ XX.

Mỹ sẽ phải đối mặt với sự gia tăng các nguồn sức mạnh của nhiều quốc gia khác - cả hai nơi tổ chức của chính phủngoài chính phủ (state and non-state actors)(3). Nước Mỹ cũng sẽ đối đầu với một số lượng ngày càng tăng của các vấn đề đòi hỏi quyền lực với những nước khác, và nước Mỹ phải ngày càng nhiều quyền lực hơn những nước khác để có được kết quả thích hợp cho đất nước. Khả năng duy trì liên minh và tạo ra mạng lưới hợp tác của Mỹ sẽ là một chiều kích quan trọng của quyền lực cứng và mềm của nước Mỹ.

Vấn đề vai trò của Mỹ trong thế kỷ XXI không phải là một quốc gia của "suy thoái"(một cách tồi tệ), mà là phát triển trí thông minh theo bối cảnh của toàn cầu, để hiểu rằng ngay cả những quốc gia hùng mạnh nhất cũng không thể đạt được những gì nó muốn mà, không cần sự giúp đỡ của những nước khác. Giáo dục công chúng hiểu được thời đại thông tin toàn cầu hóa phức tạpnày, và những gì là cần thiết để hoạt động thành công trong thời đại hiện nay, đây sẽ là nhiệm vụ của nhà lãnh đạo chuyển đổi thực thụ. Với ý nghĩa đó cho đến nay, chúng ta không được nghe nhiều về nó từ các ứng cử viên đảng Cộng hòa.

Bản quyền: Project Syndicate, 2012.
www.project-syndicate.org

Ghi chú của người dịch:
1. Transformational Leader và Transactional Leader:Theo tác giả có 2 loại lãnh đạo: loại lãnh đạo không muốn có sự chuyển đổi một tổ chức hay một quốc gia, mà chỉ làm việc cẩn thận trên cở sở cái cũ đã có sẵn để phát triển tổ chức hoặc quốc gia tốt đẹp hơn. Loại lãnh đạo thứ hai là lãnh đạo chuyển đổi.

Lãnh đạo chuyển đổi lại chia làm 2 loại, một loại chuyển đổi có vạch trước một kế hoạch mà tác giả gọi là tầm nhìn để thực hiện. Còn loại thứ hai của loại lãnh đạo chuyển đổi là loại hành động hay lãnh đạo giao dịch (transactional leader), không cần vạch kế hoạch trước mà chỉ cần hành động tốt những hiện thực bày ra trước mắt.

Với phân loại này của tác giả thì, Bush con thuộc loại Transformational Leader – nói nhiều mà làm không hiệu quả. Còn Bush cha thì thuộc loạn transactional leader, là lãnh đạo giao dịch nhưng biết chuyển đổi và hành động hiệu quả trong bối cảnh thực tế kết thúc chiến tranh Lạnh, trong khi ông không có kế hoạch lớn lao trước đó.

2. Franklin D. Roosevelt 30/01/1882 – 12/4/1945) là vị tổng thống thứ 32 và duy nhất của nước Mỹ làm hơn 2 nhiệm kỳ. Ông đã lèo lái đất nước Mỹ đến nhiệm kỳ thứ 4 từ một người bị sốt bại liệt từ thời niên thiếu, phải mang trên người 10kg sắt cho bộ phận 2 chi giả, để đi lại. Nhưng với sức làm việc kinh người ông đã chiến thắng tàn phế và mọi đối thủ ứng viên tổng thống Mỹ và kể cả các đối thủ toàn cầu. Lên nắm nước Mỹ vào ngày 04/3/1933 và làm tổng thống đến ngày qua đời, trong lúc cơn đại khủng hoảng toàn cầu và chiến tranh thế giới II. Ông nắm nước Mỹ cho đến ngày bị xuất huyết não trong lúc nghỉ ngơi sau hội nghị Yalta giữa 3 đại cường: Mỹ - Nga và Anh quyết định kết thúc chiến tranh thế giới II.

Franklin D. Rooseveltngoài việc ông hoạt động ngoại giao dẫn đắt nước Mỹ vượt qua và đặt nền tảng cho chiến thắng của phe đồng minh trong chiến tranh thế giới II. Ông còn để lại cho nước Mỹ một chính sách Kinh tế mới với cái tên là New Deal. Nó đã đưa nước Mỹ trở thành siêu cường thế giới vượt qua Anh, buộc hơn 70 quốc gia phải ngồi lại họp ở thành phố Bretton Woods để Mỹ trở thành thủ lĩnh kinh tế tài chính toàn cầu và thị trường chứng khoán London phải nhượng vai trò cầm đầu cho New York, cũng như quy định bản vị vàng cho việc sản xuất tiền cho các quốc gia thành viên vào cuối năm 1944. Cuộc họp này làm nên Hiệp Định Bretton Woods mà tôi đã ghi chú trên blog này trong bài "Quay về hệ thống Bretton Woods".

Harry S. Truman (08/5/1884 – 26/12/1972) là vị tổng thống thứ 33 nước Mỹ và là phó tổng thống của ông Franklin D. Roosevelt. Ông lên nhậm chứ tổng thống thay thế cái chết đột ngột của Franklin D. Roosevelt và nắm 2 nhiệm kỳ 1945 – 1953, quyết định quan trọng nhất của ông là cho thả 2 quả bom nguyên tử vào Hiroshima và Nagasaki kết thúc chiến tranh thế giới II, thắng lợi về phe đồng minh.

Ông là người ra những quyết định quan trọng như loại bỏ phân biệt chủng tộc trong quân đội. Chống và diệt căn bệnh trầm kha của nước Mỹ lúc bấy giờ: tham nhũng. Đặc biệt các thành viên của đảng cộng sản Mỹ là cha đẻ của tham nhũng ở Mỹ, họ có xuất thân từ giai cấp thợ thuyền ở các khu ổ chuột đã len lỏi vào chính quyền, ông cũng cắt chức loại bỏ hàng ngàn người thân với cộng sản trong các cơ quan nhà nước. Hàng trăm người được ông bổ nhiệm bị buộc phải từ chức trong hàng loạt các vụ bê bối về tài chính. Nhờ đó, một nước Mỹ trong sạch như hôm nay.

Ông cũng là người tiêu diệt sức mạnh của đảng cộng sản Mỹ chuyên cầm đầu đình công bãi thị ở tất cả các bến cảng và công xưởng Mỹ, lập lại trật tự một nước Mỹ phát triển hùng mạnh bằng Học Thuyết Truman của ông ra đời và được quốc hội thông qua ngày 22/5/1947 với chủ trương nêu rõ: “Hoa Kỳ sẽ viện trợ cho bất kỳ nước tự do nào đang bị đe dọa bởi chủ nghĩa Cộng sản”. Cũng từ học thuyết này mà có những cuộc chiến như ở Việt Nam và Triều Tiên trong quá khứ cũng như mùa xuân Á Rập trong năm qua… Tuy vậy, ông là một trong những vị tổng thống nghèo nhất nước Mỹ.

Sau khi về hưu do nghèo vì làm ăn phá sản từ khi còn trẻ, nợ nần của ông lên đến 30 ngàn đô là là một số tiền lớn thời đó, không trả nổi, buộc vợ chồng ông sống trong nghèo đói và là 2 công dân Mỹ đầu tiên nhận trợ cấp từ chương trình Medicare (chương trình chăm sóc y tế và an sinh xã hội Mỹ) do tổng thống thứ 36 Lyndon Johnson ký thành luật.

3. State and non-state actors: các tổ chức liên quan đến nhà nước và các hỗ trợ cộng đồng theo luật Liên Bang thì gọi là State Actors. Các tổ chức phi chính phủ hoặc ngoài chính phủ theo luật của Liên Bang Mỹ thì gọi là Non-state Actors.

BS Hồ Hải dịch – Asia Clinic – 16h25' ngày thứ Bảy, 10/3/2012

Thứ Năm, 8 tháng 3, 2012

SỰ CHUYỂN HƯỚNG CỦA MIẾN ĐIỆN


Bài viết cùng tác giả:

Bài liên quan:

Bài viết gốc: Burma’sTurn

Joseph E. Stiglitz là giáo sư tại Đại học Columbia University, một người đoạt giải Nobel kinh tế, và là tác giả của cuốn Rơi tự do: Thị trường tự do sự sa lầycủa nền kinh tế toàn cầu(Freefall: Free Markets and the Sinking of the Global Economy).

YANGON - Myanmar (Miến Điện), nơi mà sự thay đổi chính trị đã bị trầm buồn lặng lẽtrongnửa thế kỷqua, một nhàlãnh đạo mới đang cố gắng nắm lấy quá trình chuyển đổi nhanh chóng từ bên trong. Chính phủ đã giải phóng tù nhân chính trị, đã tổ chức các cuộc bầu cử (bằngđa nguyên trong cách thực hiện), đã bắt đầu cải cách kinh tế, và mạnh mẽ tán tỉnh đầu tư nước ngoài.

Dễ hiểu thôi, cộng đồng quốc tế, từ lâu đã trừng phạt chế độ độc đoán của Myanmar, nên vẫn còn thận trọng. Cải cách đang được đưa đến quánhanh mà ngay cả các chuyên gia nổi tiếng trên cả đất nước Miến Điệncũngkhông chắc chắn về những gì họđang làm.

Nhưng nó quárõ ràng với tôi rằng thời điểm này trong lịch sử Miến Điệnmột cơ hội thực sự cho sự thay đổi vĩnh viễn - một cơ hội mà cộng đồng quốc tế không được bỏ lỡ. Đó là thời khắccho thế giới chuyển độngcác chương trình nghị sự cho Miến Điện tiếnvề phía trước, không chỉ bằng cách cung cấp hỗ trợ, mà còn phảiloại bỏ các hình thức xử phạt đã trở thành một trở ngại cho sự chuyển đổi của Miến Điện.

Cho đến nay, chuyển đổiđó, đã bắt đầu sau cuộc bầu cử lập pháp vào tháng Mười Mộtnăm 2010, rất ngoạn mục. Với quân đội, họ đã độc nắm quyền lực từ năm 1962, hiện còn giữ lại khoảng 25% số ghế, có lo ngại rằng cuộc bầu cử sẽ là trò diễn tuồng. Nhưng chính phủ mớilên đã cố gắng hết sức mìnhđể đáp lại nhữngmối quan tâm cơ bản của công dân Miến Điệntốt hơn nhiều lần so với những gìđã được tiên liệu.

Dưới sự lãnh đạo của Tổng thống mới, Thein Sein, các cơ quan chức năng đã đáp ứngnhững lời kêu gọi cho một cỡi mởchính trị và kinh tế. Tiến bộ đã được thực hiện trên thỏa thuận hòa bình với quân nổi dậy của dân tộc thiểu số - những cuộc xung đột bắt nguồn từ trong chiến lược chia đề trịnắm quyền lựccủa chủ nghĩa thực dân, cái mà những nhà cầm quyền sau khi được trảđộc lập vẫnduy trì trong hơn sáu thập kỷ qua. Người đoạt giải Nobel Bà Aung San Suu Kyi đã không chỉ được trả tự dotừ việc bịquản thúc tại gia, hiện đang còn ráo riết vận động cho một ghế quốc hội trong cuộc bầu cử tháng tư.

Trên mặt trận kinh tế, minh bạch chưa từng thấy đã được trình bày trongtiếntrình chi tiêu ngân sách. Chi phí chăm sóc y tế và giáo dục đã được tăng gấp đôi, mặc dù trênmột mặt bằngthấp. Sự hạn chế cấp phép trong một số lĩnh vực quan trọng đã được nới lỏng. Chính phủ đã cam kết chuyển độngtheo hướng thống nhất hệ thống tỷ giá hối đoái phức tạp.

Tinh thần của hy vọng trong nước có thểsờ thấy được, mặc dù một số người lớn tuổi vẫn còn thận trọng, vì họđã từng nhìn thấy những khoảnh khắc nới lỏngrõ ràng đến và đi trước đócủa chế độ độc tài. Có lẽ đó là lý do tại sao một số cộng đồng quốc tế còndo dự về việc giảm bớt sự cô lập đối vớiMiến Điện. Tuy nhiên, hầu hết nhận thức rằng,Miến Điện nếu những thay đổi được kiểm soáttốt, đất nước này sẽ hội nhậpvào một tiến trìnhkhông thể đảo ngược.

Trong tháng Hai, tôi tham gia một hội thảo tại Yangon (Rangoon) và ở thủ đô mới đượcxây dựng gần đâyNaypyidaw(1) –được tổ chức bởi một trong những nhà kinh tế hàng đầu của Miến Điện -U Myint(2). Các sự kiện là trọngyếu, do nhờ vào ở cả hai yếu tố số lượng cử tọa lớn và tích cực tham gia(hơn một ngàn ở Yangon), vớicác bài thuyết trình đầy chu đáo và cảm độngbỡi2 nhà kinh tế nổi tiếng thế giới của Miến Điện, những người đã rời bỏ đất nước trong những năm 1960svà đã trở lại đầu tiên sauhơn bốn thập kỷtha hương.

Đồng nghiệp của tôi Đại học Columbia -Ronald Findlay – đã giới thiệu cho tôi lưu ý đếnmột trong hai người này, Hla Myint 91 tuổi(3), người đã giữ vị trímột giáo sư tại Trường Kinh tế London, là cha đẻ của phát minh ra chiến lược phát triển thành công nhất của một nền kinh tế mở và tăng trưởng xuất khẩu. Một chiến lược mà đã được thực hiện chi tiết trên toàn châu Á trong những thập kỷ gần đây, đáng chú ý nhất là ở Trung Quốc. Có lẽ bây giờ, cuối cùng nó cũng đã trở lại quê nhà.

Tôi đã cómột bài thuyết trình tại Miến Điệnvào tháng Mười Hai năm 2009. Vào thời điểm đó, họphải cẩn thận, nhữngnhạy cảmcủa chính phủ, ngay cả về phương cách để điều chỉnh những vấn đề của quốc gia nghèo đói, kémnăng suất nông thôn, và lực lượng lao động không có tay nghề. Bây giờ thận trọng đã được thay thế bởi một nhận thứccấp bách trong việc đối phó với những thách thức khác, và những ý thức về sự cần thiết cho các dạng hỗ trợ khác và kỹ thuật. (So với dân số và thu nhập của mình, Miến Điệnlà một trong những nướcnhận hỗ trợ quốc tế nhỏ nhất thế giới.)

Có nhiều cuộc tranh luận về cái màgiải thích được tốc độ thay đổinhanh chónghiện nay của Miến Điện. Có lẽ các nhà lãnh đạo nhận ra rằng đất nước này, đã có một thời lànước xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới, và đã và đang tụt hậu xa so vớicác nước láng giềng. Có lẽ họ đã nghe thông điệp của mùa xuân Ả Rập, hoặc chỉ đơn giản hiểu rằng, với hơn ba triệu người Miến Điện sống ở nước ngoài, là cái màkhông thể cô lập được quốc gia với phần còn lại của thế giới hoặc ngăn chặn những ý tưởng đang rò rỉ sangtừ các nước láng giềng. Dù là lý do gì thì, thay đổi đang xảy ra, và cơ hội mà Miến Điệnthể hiệnlà không thể phủ nhận.

Tuy nhiên, nhiều lệnh trừngphạt quốc tế, bất cứ vai trò gì của những lệnh trừng phạt nàytrong quá khứ, bây giờ dường như phản tác dụng. Ví dụ, biện pháp trừng phạt tài chínhđối với Miến Điện,ngăn cản sự phát triển một hệ thống tài chính hiện đại và minh bạch, để hòa nhậpvới phần còn lại của thế giới. Nền kinh tế dựa trên sử dụng tiền mặt sẽ đem đến hậuquả nhưlà một lời mời mọc đối vớitham nhũng.

Tương tự như vậy, những hạn chế mà nóngăn chặn các công ty trách nhiệm xã hội ở các nước công nghiệp tiên tiến đếnkinh doanh tại Miến Điện,khiến những công ty thận trọng đã rời bỏ thị trườngmở cửa. Chúng ta nên hoan nghênh mong muốn Miến Điệnđể họ đượchướng dẫn và tư vấn từ các tổ chức đa phương và Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc;thay vì, chúng tacứ tiếp tục hạn chế vai trò của các tổ chức này có thể tham giatrong quá trình chuyển đổi của đất nướcnày.

Bất cứ khi nào chúng ta từ chốihỗ trợ hoặc trừngphạt, chúng ta cần phải suy nghĩ cẩn thận về những người mang gánh nặng trong việc mang lạinhững thay đổi mà chúng ta tìm kiếmở Miến Điện. Mở cửa thương mại trong nông nghiệp và dệt may - và thậm chí cung cấp cácloạiưu đãi đã từng giúp đỡcho các nước nghèo khác - có khả năng sẽ mang lại lợi íchtrực tiếp cho 70% dân số Miến Điện là nông dân nghèo, cũng như tạo công ăn việc làm mớicho họ. Giàu có và hùng cườngcó thể phá vỡ các biện pháp trừng phạt tài chính, mặc dù phải trả giá;thường dânkhông thể dễ dàng thoát khỏi sự ảnh hưởngcủa tình trạng hạ đẳng của quốc tế(international-pariah status).

Chúng tađã nhìn thấy mùa xuân Ả Rập trổ hoa ngập ngừng một vài quốc gia;ở những quốc giakhác, Mùa Xuân Ả Rậpvẫn còn chưa chắc chắn liệu nó sẽ mang lại quảngọt. Quátrình chuyển đổicủa Miến Điệntrong một số cách bình yênhơn, mà không có sự phô trương của Twitter và Facebook, nhưng nó rất hiện thực- và không kém phần xứng đáng để hỗ trợ.

Bản quyền: Project Syndicate, 2012.
www.project-syndicate.org

Ghi chú của người dịch:
1. Naypyidaw:còn được viết là Nay Pyi Taw. Là thủ đô mới được xây dựng của Miến Điện được chính quyền quân sự Miến Điện công nhận từ ngày 06 tháng Một năm 2006, và đưa vào sử dụng từ ngày 26 tháng ba năm 2006. Theo tiếng Miến Điện nó có nghĩa là “Thành phố Hoàng gia”. Trước đây thủ đô Miến Điện ở thành phố cảng Yangon, là thành phố đông dân và lớn nhất ở Miến Điện.

2. U Myint: là một nhà kinh tế nổi tiếng ở trong nước của Miến Điện. Ông được xem là kiến trúc sư cho sự nghiệp đổi mới hiện nay của Miến Điện. Ông hiện là cố vấn kinh tế cao cấp cho tổng thống Thein Sein, người chủ trương cải cách. Trong khi Ông U Myint là cầu nối cho trí thức Miến Điện trong nước và toàn cầu chung tay xây dựng lại đất nước Miến Điện, thì tổng thống Thein Sein là con người làm công việc hòa giải dân tộc sau bao nhiêu năm bị chế độ độc tài quân sự làm dân tộc Miến Điện bị chia rẻ.

3. Hla Myint:như bài viết đã giới thiệu, Ông Hla Myint và bàAung San Suu Kyi là 2 trong những niềm tự hào của Miến Điện trên trường thế giới mà ở khối Asean chưa nước nào có được. Ông Hla Myint bảo vệ đề tài tiến sĩ về lý thuyết kinh tế thịnh vượng (Theories of Welfare Economics) năm 1948. Năm 1971 Ông đưa ra Lý thuyết kinh tế các nướckém phát triển(Economic Theory and the Underdeveloped Countries). Và cũng trong năm sau đó ông cho ra đời lý thuyết Kinh tế củakhu vực Đông Nam Á: Chính sáchpháttriểntrongnhững năm 1970s (Southeast Asia's Economy: Development Policies in the 1970s). Lý thuyết này trở thành giáo khoa kinh điển trong giảng dạy đại học với cuốn: Penguin Modern Economics Texts do Penguin Books xuất bản năm 1972.Ông đã từng là giáo sự của University of Rangoon và là cố vấn kinh tế cho chính phủ sau khi được trao trả độc lập 1948 cho đến năm 1962 chính phủ dân sự bị quân đội lật đổ. Ông Hla Myint bỏ đất nước ra đi và làm giáo sự tại London School of Economics, nơi mà ông Lý Quang Diệu đã từng học nửa chừng thì chuyển sang học luật. Dù bỏ đất nước ra đi, nhưng Ông Hla Myint luôn giữ quốc tịch của mình là quốc tịch Miến Điện mà không nhập quốc tịch Anh. Điều này thể hiện tấm lòng yêu nước của một trí thức chân chính hiếm có.

Cũng cần nhắc lại thời kỳ hoàng kim của Miến Điện là từ sau trao trả độc lập từ tay thực dân Anh vào ngày 04/01/1948, với tên gọi là Liên Bang Myanmar, và trở thành thành viên của Liên Hiệp Anh. Thời kỳ này Miến Điện có tổng thống là Sao Shwe Thaik và thủ tướng U Nu. Ông cựu thư ký thủ tướng U Nu là U Thant trở thành là Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc. Ông U Thant là người đầu tiên không phải là người phương Tây nắm một tổ chức quốc tế. Ông làm chức vụ này trong 10 năm cũng là những năm tháng dân chủ và cường thịnh của Miến Điện.

Năm 1962 chế độ dân chủ bị quân đội lật đổ và áp đặt Miến Điện đi theo con đường quân phiệt. Sau Thông Cáo Thượng Hải giữa Mỹ và Trung Hoa, Mỹ bán lại Đông Dương cho Trung Hoa, chính quyền quân phiệt Miến Điện bẻ lái theo Trung Hoa, nên đến năm 1974 cái tên Cộng hòa Xã hộ Chủ nghĩa Liên bang Myamar được đặt cho Miến Điện suốt 26 năm. Sau khi dời đô năm 2006, với Mùa Xuân Ả Rập và cách mạng Hoa Nhài, nên đến năm 2010 thì hội đồng quân đội Miến Điện quyết định đổi mới dưới áp lực thời đại, họ đổi tên nước thành Cộng hòa Liên bang Myanmar(Republic of the Union of Myanmar). Và với cuộc bầu cử ngày 04/02/2011 ông đương kim thủ tướng Thein Sein thắng cử. Và đến ngày 03/3/2011 ông Thein Sein nắm cả 2 chức vụ tổng thống kiêm thủ tướng Miến Điện. Ông đã mang lại những thay đổi thần kỳ về chính trị cho Miến Điện.

Có một điều khác biệt giữa nước XHCN Miến Điện với các nước theo XHCN khác là, dù Miến Điện trải qua 26 năm theo Trung Hoa với cái gọi là XHCN độc tài, nhưng họ vẫn giữ hình thái chính trị đa nguyên. Nên sự thay đổi theo đúng quy luật chỉ trong 1 năm qua của Miến Điện đã đi nhanh làm ngỡ ngàng các nước Phương Tây. Song đối với các doanh gia gốc Do Thái thì chiếc mũi rất thính. Nên mấy tháng nay các doanh nhân Do Thái từ Israel là những nhà đầu tư lớn nhất đến Miến Điện, vì họ tin rằng với một nền chính trị đa nguyên đáng để tin cậy hơn các nền chính trị đơn nguyên.

BS Hồ Hải dịch - Tư Gia, 20h49' ngày thứ Năm, 08/3/2011

Thứ Hai, 5 tháng 3, 2012

NỖI ĐAU CỦA NƯỚC NGA HAY NỖI ĐAU CỦA NHÂN LOẠI?

Bài viết liên quan:

Vài hôm nay nước Nga tưng bừng cho cuộc tổng tuyển cử lãnh tụ và sau đó là cuộc đắc thắng của ông Putin với lần thứ ba làm tổng thống, sau 2 lần làm thủ tướng. Đây là một tin tốt lành cho Việt Nam hiện tại. Nhưng ẩn chứa đằng sau sự kiện trọng đại này là nỗi đau không chỉ của nước Nga, mà còn lại nỗi đau của nhân loại.

Với ai tôi không biết, dù chưa bao giờ được tiếp cận trực tiếp với nước Nga, nhưng với hiểu biết của tôi, nếu có một dân tộc nào đáng kính trên trái đất này, thì phải nhớ đến dân tộc Nga. Một dân tộc chính yếu hình thành ngôn ngữ và nền văn hóa vĩ đại Slav. Một nền văn hóa đáng tự hào, một đế chế ngang dọc qua nhiều thời đại. Một quá khứ kiêu hùng làm cho thế giới cạnh tranh và phát triển như ngày nay.

Phải công tâm nhìn nhận những việc ông Putin làm cho nước Nga trong hơn 20 năm qua là to lớn về cả tích cực lẫn tiêu cực, song nước Nga đã thiếu hụt một và nhiều thế hệ có tư duy thực sự. Không cách nào khác, cái quán tính tư duy quay về thời kỳ chuyên chế của ông Putin để lập lại trật tự cho nước Nga là điều phải làm. Và chuyên chế là cái nôi sinh ra tha hóa và tham nhũng. Tính từ ngày hai ông Gorbachev và Elsin làm nên cuộc cách mạng xã hội cho nước Nga, họ đã mất đi 20 ngàn nhà khoa học chủ chốt. Đó là một nỗi đau lớn của một đất nước có một nền khoa học cơ bản đứng hàng đầu thế giới.

Nhưng có một nỗi đau mà nước Nga khó lòng lấy lại được trong một sớm, một chiều với đơn vị thời gian tính bằng thập kỷ. Đó là nỗi đau của một tư duy bị thui chột của các thế hệ người Nga hiện đại. Trải qua 70 năm chuyên chế và trị dân bằng ý thức hệ sai lầm, đi ngược lại với quy luật xã hội, nước Nga chuyển mình để lại bao ngổn ngang trăm bề. Ông Elsin tinh đời, khi muốn ém nhẹm những sai trái của mình, bằng cách tìm ra một Putin đủ sức để "lập lại trật tự" cho nước Nga.

Và cũng bằng cách xưa cũ - chủ nghĩa anh hùng dân tộc, kêu gọi vì một nước Nga hùng cường - ông quay lại điện Kremlin trước những khát vọng hụt hơi của 3 đối thủ còn lại, mà trong đó, tổng bí thư đảng cộng sản Nga là người về nhì trong cuộc đua. Điều này cho thấy dân Nga vẫn có cái quán tính tư duy muốn quay về chiếc hộp đã được dạy bảo suốt 70 năm hùng cường, và điêu tàn.

Có phải chăng một dân tộc và một đất nước Nga vĩ đại ngày nào thiếu tài năng? Có phải chăng với 140 triệu dân Nga đang sống trên một diện tích lớn nhất thế giới - chiếm 1/9 lục địa toàn cầu - và với tài nguyên thiên nhiên hàng đầu thế giới, đã thiếu những nhân tài, mà họ phải chọn lại một lãnh tụ mà suốt hơn gần 15 năm qua đã chỉ biết giúp dân Nga sống bằng một hình hài xã hội cũ, với bán tài nguyên của đất nước để sống, tham nhũng, và chảy máu chất xám?

Đúng thế - tôi tin điều này - vì xem ra trong tất cả 4 cương lĩnh tranh cử của 4 ứng cử viên tổng thống kỳ này, cũng chỉ có cương lĩnh của ông Putin là toàn diện nhất cho cả đối nội lẫn đối ngoại. Vì ba ứng viên còn lại vẫn là những thành viên ưu tú của nước Nga.

Hãy nhìn cuộc tổng tuyển cử tổng thống Mỹ cuối năm 2008, với sự ra đời của một đứa trẻ da màu bị bỏ rơi lên nắm vận mệnh toàn cầu, đoạn tuyệt một ứng viên tài sắc song toàn - Hillary Clinton và gia đình - nó cho ta thấy đâu là quán tính tư duy tỉnh và đâu là quán tính tư duy động. Điều này thật quý giá biết bao cho nhân loại toàn cầu.


Nước Nga đã trải qua những đêm trường lạnh giá dưới một ý thức hệ sai lầm. Nước Nga đã bừng tỉnh sau cơn mê. Nước Nga đã quay lại cái quán tính đặc thù của một tư duy cực đoan thời độc tài chuyên chế. Và bây giờ, sự quay trở lại điện Kremlin lần thứ ba của ông Putin bằng những giọt nước mắt, những giọt nước mắt này có phải là dấu hiệu cho sự gỡ bỏ nỗi đau tột cùng của nước Nga hay không, vẫn còn là một câu hỏi ở phía trước. 

Nhưng có một điều chắc chắn rằng, quán tính tư duy người Nga qua lần tổng tuyển cử này nó cũng giống như tâm lý của một người tù, họ không biết làm gì để sống trước một xã hội sinh động, sau khi được hết hạn tù, thôi thì thà quay lại nhà tù vẫn an toàn hơn.

Có một câu nói của một vị linh mục người Anh - William Ralph Inge - mà tôi cho rằng nó là chân lý, "Anh có thể xây dựng cho mình một ngai vàng bằng lưỡi lê. Nhưng anh không thể ngồi lên nó được" (“A man may build himself a throne of bayonets, but he cannot sit on it.") Có lẽ hơn ai hết ông Putin hiểu rõ điều này, cho nên ông đã đến ngai vàng lần này bằng những giọt nước mắt? Nhưng có một điều cho ta thấy rằng, những giọt nước mắt của ông Putin là, bằng chứng của một nước Nga đang đi dần đến tư tưởng phương Tây - tư tưởng tự do dân chủ.

Điều đáng quan tâm ở đây là, nỗi đau của nước Nga không chỉ là nỗi đau riêng. Nó còn là nỗi đau của các nước chư hầu một thời lầm lạc. Nỗi đau của đám đông vô thức bị cái quán tính tư duy tỉnh dẫn dắt, làm thui chột cái thức của con người, vì ý thức hệ. Nhưng dù sao, cũng cầu chúc cho nước Nga và một nửa nhân loại còn lại có một thời kỳ mới - thời kỳ của con người biết sử dụng tư duy của mình để quyết định vận mệnh quốc gia và dân tộc của mình.

Asia Clinic, 12h36' ngày thứ Ba, 06/3/2012

Chủ Nhật, 4 tháng 3, 2012

VÀI NHẬN XÉT VỀ VIETNAM'S GOT TALENT 2012

Đến hôm nay chương trình Vietnam's got Talent - chương trình tìm kiếm tài năng Việt Nam - đã đi qua vòng sơ loại, để vào vòng bán kết, với đợt thể hiện tài năng đầu tiên với 7 tiết mục của những thí sinh đầu tiên, trong 49 tiết mục vào vòng bán kết. Bản thân người viết thấy cần phải viết để thí sinh, khán giả bình chọn và đặc biệt ban giám khảo - những người đã làm cho người viết bài này thất vọng - hiểu thế nào là tài năng.

Tài năng - talent - được định nghĩa là sự khác biệt mà ở đó thí sinh thể hiện sự thông minh, tự tin và khả năng khác biệt. Nó làm cho thí sinh khác biệt với những thí sinh khác trong một cuộc thi.

Không được nhầm lẫn tài năng với kỹ năng - skill - vì kỹ năng là thủ thuật, kỹ thuật luyện tập mà thành. Kỹ năng được dạy, được gọt dủa để phát triển đến sự tinh tế.

Trong khi tài năng được xem là một đặc điểm tiềm năng, một dấu hiệu tiên báo khả năng mới to lớn dựa trên nền tảng của sự thông minh và khả năng thiên phú sẽ ra đời trong tương lai. Thì kỹ năng là sự kết hợp của sự cần mẫn và tập luyện làm nên. Trong khi tài năng không đòi hỏi luyện tập cần mẫn mà cần sự thông minh và khả năng tự tin thiên phú để thực hiện trong mọi hoàn cảnh, thì kỹ năng chỉ có thể thông qua tập luyện, mà không cần thông minh và khả năng thiên phú đặc biệt.

Từ định nghĩa và tính chất của tài năng và kỹ năng trên chúng ta thấy rằng trong 49 thí sinh và nhóm thí sinh vào vòng bán kết vẫn chưa được ban giám khảo chọn lựa đúng. Ví dụ, một nhóm nhạc chuyên nghiệp được học bài bản trường lớp về thanh nhạc diễn một vỡ nhạc kịch, Thằng Gù nhà thờ Đức Bà Paris, bằng khả năng thanh nhạc Opera thông qua cần mẫn tập luyện ở nhạc viện, thì không thể gọi là tài năng, mà phải gọi là kỹ năng. Nếu nhóm nhạc này cùng tham gia vào cuộc thi, thì họ nên được thi chung với nhóm của những thí sinh được học thanh nhạc hàn lâm.

Ngoài ra, ở cuộc thi này tỏ ra còn nhiều khập khiểng ở ban giám khảo. Ba vị giám khảo, ngoài nhạc sĩ có một chút khả năng âm nhạc và hiểu biết về nghệ thuật có những nhận xét tương đối đúng với từng thí sinh. Hai giám khảo còn lại, một kịch sĩ quá cảm tính theo kiểu một nghệ sĩ, và một cựu hoa hậu cũng cảm tính không kém, họ đã có những đánh giá không chính xác trong chọn tài năng. Chính vì thế mà, vòng loại có đến 140 tiết mục được chọn, để phải ngồi với nhau một ngày với những bất đồng vì thiếu hiểu biết, để cho ra 49 tiết mục vào vòng bán kết, nhưng vẫn còn thiếu sót. Một sự thiếu sót do thiếu hiểu biết, hơn là do thí sinh quá xuất sắc đến mức khó chọn lựa.

Phần thi của giáo viên Anh Ngữ Vũ Trọng Phúc với tác phẩm Home của Michael Bublé thực sự là tài năng, vì nó hội đủ về khả năng tự tin và thiên phú trong một cách thể hiện thông minh

Giám khảo cuộc thi đóng vai trò người thầy cầm cân nẫy mực để chọn lựa thí sinh. Giám khảo trước tiên phải biết khắc khe với chính mình. Điều khắc khe cần nhất với giám khảo là sự hiểu biết, sự thông thái và sự nghiêm khắc với chính mình. Từ sự nghiêm khắc với chính mình thông qua sự thông tuệ đó, giám khảo áp đặt những tiêu chuẩn chuẩn mực lên khi phán xét, đánh giá một thí sinh - đặc biệt là thí sinh cho cuộc thi tìm kiếm tài năng của đất nước - dù đó là một cuộc chơi. 

Giám khảo phải dùng lý trí trong đánh giá đúng những tính chất của tài năng. Giám khảo không được phép dùng cảm tính trong đánh giá. Giám khảo có thể xúc động trước một kỹ năng thể hiện tài năng, nhưng không được để cảm tính làm mất khả năng nhận biết đâu là kỹ năng, đâu là tài năng.

Biết rằng khi so sánh câu chuyện một trò chơi của truyền hình sự kiện với việc tuyển chọn tài năng thí sinh ở các đại học trên thế giới là một điều khập khiểng. Nhưng ở các đại học từ danh giá đến hạng trung trên thế giới, tài năng là một tiêu chí hàng đầu trong ít nhất 18 tiêu chí tuyển chọn, để nhận vào học hoặc cấp học bổng toàn phần cho hàng ngàn thí sinh có cùng những sự hoàn hảo trong học tập gần như nhau. Có nhìn vấn đề tài năng đúng với bản chất của nó mới đủ khả năng tìm ra chỉ khoảng dưới 10% trong số hơn chục ngàn thí sinh có các tiêu chí học tập và hoạt động xã hội hoàn hảo. Nếu không, những ngôi trường như Harvard, Oxford, Caltech. MIT, hoặc v.v... không thể cung cấp cho thế giới những tài năng thực sự.

Các chương trình truyền hình sự kiện có tính giải trí là rất cần thiết cho cộng đồng sau những giờ phút lao động mệt nhọc. Nhưng không vì thế mà làm cẩu thả, vì nó làm xúc phạm đến người xem có trình độ, và làm thui chột khả năng hiểu biết của cộng đồng. Như thế là truyền thông không làm đúng chức năng chân chính của nó là, chia sẻ kiến thức đến cộng đồng.

Tư Gia, 23h07' Chúa Nhựt, 04/3/2012

Thứ Sáu, 2 tháng 3, 2012

NHỮNG RỦI RO TĂNG TRƯỞNG PHÁT TRIỂN CỦA TRUNG HOA


Bài viết của cùng tác giả: Khi nào kinh tế Trung Hoa vượt Mỹ?
 
Bài viết liên quan của tác giả khác:


Bài viết của ông Dương Diêu ( : Yang Yao). Ông là Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế Trung Hoa tại Đại học Bắc Kinh.

BẮC KINH - Nếu tất cả mọi thứ trôi chảy với Trung Hoa, thì vào năm 2021, họ sẽ là nền kinh tế lớn nhất thế giới, vượt qua Hoa Kỳ, tính theo tỷ giá hối đối của đồng đô la hiện tại (và việc này là quá nhanh chóng trong thực tế). Thu nhập bình quân đầu người của Trung Hoa đạt được trong hiện tại đang ở tầng thấp hơn của các nước có thu nhập cao. Tuy nhiên, bất chấp đà tiến về phía trước của nó, nền kinh tế Trung Hoa đang phải đối mặt với những rủi ro thấp thoáng trong thập kỷ tới.

Nguy cơ ngay trước mắt là trình trạng tiếp tục trì trệ hoặc suy thoái của châu Âu. Trong thập kỷ qua, tăng trưởng xuất khẩu đã chiếm gần một phần ba của tổng thể tăng trưởng kinh tế của Trung Hoa, và khoảng một phần ba xuất khẩu của Trung Hoa đến Liên minh châu Âu. Nếu tình hình ở châu Âu tiếp tục xấu đi, tăng trưởng của Trung Hoa sẽ bị kéo xuống.

Với chính sách kinh tế vĩ mô nội địa bị thắt chặt quá mức, đặc biệt là nhằm vào thị trường bất động sản, có thể làm nâng cao nguy cơ của suy thoái, khi mà giá nhà đang giảm trên toàn Trung Hoa, do các biện pháp nghiêm ngặt của chính phủ. Thật vậy, tình hình hiện nay là giống như lúc cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997. Vài năm trước khi mà cuộc khủng hoảng hiện nay tác động, Trung Hoa đã phải chống lạm phát, và đương đầu cho một cuộc hạ cánh mềm. Nhưng sự kết hợp giữa 2 tác động, cuộc khủng hoảng và chính sách thắt lưng buộc bụng bắt buộc Trung Hoa phải lãnh hậu quả nhiều năm giảm phát và tăng trưởng chậm hơn đáng kể.

Ngày nay, khi nhìn về trung hạn cho Trung Hoa, chính phủ phải đối mặt với những vấn đề được tạo ra bởi vai trò lan rộng của rủi ro trong nền kinh tế. Một báo cáo mới nhất của Ngân hàng Thế giới đưa ra việc cải cách doanh nghiệp nhà nước không triệt để là trở ngại quan trọng nhất để tăng trưởng kinh tế của Trung Hoa. Nhưng đó chỉ là triệu chứng của một vấn đề sâu sắc hơn, đó là vai trò chi phối của chính phủ trong các vấn đề kinh tế.

Ngoài ra để kiểm soát trực tiếp 25-30% GDP, chính phủ cũng phải dùng phần lớn nhất của các nguồn lực tài chính. Trong những năm gần đây, hơn một phần ba tổng số cho vay của ngân hàng dành cho cơ sở hạ tầng, hầu hết trong số đó đã được xây dựng các công trình công. Thật vậy, vì đã nhìn thấy chi tiêu quá mức cho việc đầu tư công cơ sở hạ tầng, gần đây chính phủ Trung Hoa đã ngưng một số dự án đường sắt cao tốc đã được xây dựng. Nhưng đầu tư quá mức của chính phủ cũng còn có ở nhiều  khu công nghiệp và những khu công nghệ cao khác nữa.

Đầu tư điên cuồng của Trung Hoa làm nhớ lại cách của người Nhật trong những năm 1980s, khi mà những kếtnối của đường sắt cao tốc đã đi đến những vùng xa xôi hẻo lánh của Nhật Bản. Hầu hết những công trình này dựa vào trợ cấp chính phủ cho đến ngày nay. Và, trong khi các khoản trợ cấp có thể làm cải thiện chất lượng cuộc sống cho giới bình dân một số khía cạnhcuộc sống, thì chúng cũng là nguyên nhân làm giảm đời sống dân chúng do sự ngăn cản tiêu thụ nội địa sau khi siết chặt tài chính quá mức.

Đầu tư cơ sở hạ tầng chắc chắn sẽ là cái bệ phóng để chống lại quy luật sản phẩm biên có xu hướng giảm dần(law of diminishing marginal returns)(1), nhưng tăng trưởng do tiêu thụ lại không có một giới hạn. Kiềm nén tiêu thụ như vậy, nó sẽ bóp chết sự phát triển trong tương lai, và nó đã làm cho thị phần tiêu thụ của hộ gia đình trong GDP đã giảm từ 67% vào giữa thập niên 1990 xuống thấp hơn 50% trong những năm gần đây, với tất cả những sự suy giảm này nó phản ánh những biến dạng được tạo ra bởi các chính sách của chính phủ.

Chính phủ Trung Hoa định hướng nền kinh tế sản xuất theo nhu cầu tự nhiên. Về mặt ưu điểm(upside) điều này đã giúp duy trì tốc độ tăng trưởng GDP cao. Nhưng nhược điểm lại sự bình đẳng. Một hậu quả tiêu cực là liên tục làm sâu sắc thêm sự bất bình đẳng thu nhập. Chỉ số Gini(2) về thu nhập bình quân đầu người đã vượt qua 50 (với 100 bất bình đẳng thu nhập là con số tối đa), nó đặt Trung Hoa vào quốc gia thuộc nhóm một phần tư trên của những quốc gia có bất bình đẳng thu nhập trên toàn thế giới.

Bản chất của vấn đề định hướng nền kinh tế sản xuất theo nhu cầu tự nhiên có thể không làm ra bất bình đẳng về thu nhập bình quân đầu người, nhưng những hậu quả của nó - mà một trong số nguyên nhân đósự phân bổ nguồn vốn đến tay con người - có thể tạo ra bất bình đẳng. Sự quan tâm đến giáo dục đang được gia tăng tại Trung Hoa, nhưng việc tiếp cận với giáo dục đang trở nên ngày càng gia tăng chia rẽ về mặt xã hội và địa lý. Trong khi giáo dục được cải thiện ở khu vực thành thị, thì trẻ em ở nông thôn đang phải đối mặt với một sự suy giảm về chất lượng giáo dục, vì các giáo viên tốt hơn họ phải tìm con đường của họ đến các thành phố. Hơn nữa, sự chênh lệch thu nhập giữa thành phố và nông thôn, nó làm cho chi phí giáo dục trở nên đắc đỏ với các gia đình nông thôn hơn các gia đình đô thị.

Hậu quả là, đa số trẻ em nông thôn sẽ nhập vào lực lượng lao động mà không có một bằng tốt nghiệp đại học trong tay. 80% trong số 140 triệu lao động di cư từ nông thôn đến thành thị của Trung Hoa, họ chỉ có ít hơn hoặc bằng 9 năm được đến trường – một trình độ học vấn quá thấp so với yêu cầu cho những nước có thu nhập cao.

Mặc dù các quan chức làm ra vẽ mong muốn giảm bất bình đẳng thu nhập, nhưng chính phủ của Trung Hoa đang tập trung vào những cách như: trợ cấp sản xuất, ưu tiên các ngành công nghiệp chuyên sâu đòi hỏi vốn lớn, và duy trì một khu vực tài chính không hiệu quả. Nhưng những việc này cũng đang hứa hẹn những dấu hiệu của một sự gia tăng nhỏ cho nền kinh tế. Chính phủ Trung Hoa vừa công bố quy định mới cho việc đăng ký hộ gia đình, được gọi là hộ khẩu(hukou). Ngoại trừ tại các thành phố lớn, ở các nơi khác người ta có thể tự do lựa chọn hộ khẩu của họ sau ba năm cư trú. Điều này sẽ giúp rất nhiều cho người di cư bảo đảm bình đẳng với tiếp cận giáo dục cho con cái của họ.

Tuy nhiên. để thay đổi hoàn toàn cách hành xử sai lầm của chính phủ, đòi hỏi những thay đổi chính trị quyết liệt hơn. Cải cách hộ khẩu là một khởi đầu tốt, vì nó sẽ tăng cường các quyền chính trị của người di cư trong cộng đồng địa phương. Với số lượng lớn của dân di cư, sự tham gia chính trị của họ có thể buộc chính quyền địa phương đáp ứng nhiều hơn nữa những nhu cầu cho những giới bình dân. Và với việc đáp ứng của chính phủ ở các cấp thấp của địa phương, người ta có thể hy vọngrằng, cuối cùng có thể làm cho lãnh đạo cấp cao phải đi theo.

Bản quyền: Project Syndicate, 2012.
www.project-syndicate.org

Ghi chú của người dịch:
1. Quy luật sản phẩm biên có xu hướng giảm dần(law of diminishing marginal returns):Nếu bắt đầu từ lý thuyết và công thức thì tương đối dài dòng. Để dễ hiểu ta có thể đơn giản hóa quy luật này như sau, trong cùng 1 điều kiện trang bị tư liệu sản ra một loại sản phẩm cụ thể như bóng đèn. Nếu ta dùng 1 lao động thì mỗi ngày lao động ấy sản xuất ra 10 bóng là sản phẩm biên trong sản xuất. Nhưng đầu tư thêm 1 lao động nữa thì 2 lao động sẽ sản xuất ra 23 cái thì sản phẩm biên tăng từ 10 lên 13... Ta cứ tăng lên tiếp tục đến (n-1) lao động thì sản phẩm biên tăng lên là 10 + (n-1) + 2 sản phẩm. Nhưng Nếu ta tăng lên đến n lao động thì sản phẩm biên không tăng lên mà lùi lại còn chỉ 10 + n sản phẩm. Và nếu tiếp tục tăng số công nhân sản phẩm biên sẽ lùi tiếp, sản phẩm biên giảm hơn chỉ còn là 10 + n. Thì điểm thứ n-1 là điểm mà số lượng công nhân cần dùng đủ để sản xuất có năng suất tối ưu.

Ý nghĩa của quy luật này là nó chỉ ra lượng công nhân được chủ nên dùng trong một điều kiện nhất định về trang thiết bị sản xuất để tối ưu cho năng suất lao động. Nếu tăng sản lượng biên khi tiếp tục tăng nhân công thì đòi hỏi dây chuyền trang thiết bị phục vụ sản xuất phải đầu tư thêm hoặc thay đổi cho phù hợp. Trong điều kiện suy thoái kinh tế quy luật này rất quan trọng để tinh giảm biên chế.

2. Hệ số Gini(Gini coefficient): Hệ số Gini (hay còn gọi là hệ số Loren) là hệ số dựa trên đường cong Loren (Lorenz) chỉ ra mức bất bình đẳng của phân phối thu nhập giữa cá nhân và hệ kinh tế trong một nền kinh tế. Hệ số này được phát triển bởi nhà thống kê học người Ý - Corrado Gini - và được chính thức công bố trong bài viết năm 1912 của ông mang tên "Variabilità e mutabilità". 

Số 0 trong hệ số này tượng trưng cho sự bình đẳng thu nhập tuyệt đối (mọi người đều có cùng một mức thu nhập), số 1 tượng trưng cho sự bất bình đẳng thu nhập tuyệt đối (một người có toàn bộ thu nhập, trong khi tất cả mọi người khác không có thu nhập).

Ta còn gặp một từ chuyên môn khác nữa là, Chỉ số Gini (Gini Index) là hệ số Gini được thể hiện dưới dạng tỷ lệ phần trăm, được tính bằng hệ số Gini nhân với 100.

Hệ số Gini cũng được dùng để biểu thị mức độ chênh lệch về giàu nghèo. Khi sử dụng hệ số Gini trong trường hợp này, điều kiện yêu cầu phải thỏa mãn không tồn tại cá nhân nào có thu nhập ròng bị âm. Hệ số Gini còn được sử dụng để đo lường sự sai biệt của hệ thống xếp loại trong lĩnh vực quản lý rủi ro tín dụng.

Tuy hệ số Gini đã lượng hóa được mức độ bất bình đẳng về sự phân phối thu nhập, nhưng các nhà kinh tế nhận thấy, hệ số Gini mới chỉ phản ánh được mặt tổng quát nhất của sự phân phối thu nhập, còn trong một số trường hợp, chưa đánh giá được các vấn đề cụ thể.

BS Hồ Hải dịch - Asia Clinic, 16h21' ngày thứ Sáu, 02/3/2012