nha ban quan tan binh | mua nha quan tan binh

Thứ Hai, 14 tháng 4, 2014

ĐỊNH MỆNH CỦA VIỆT NAM 1

Robert D. Kaplan là Trưởng nhóm phân tích địa chính trị của Stratfor, một Công ty phân tích thông tin toàn cầu tư. Ông là tác giả của mười lăm tựa sách về bang giao quốc tế và du lịch, như Cuộc báo thù của địa lý: những gì bản đồ nói với chúng ta về các xung đột sắp tới và trận chiến chống lại định mệnh; Cơn gió mùa: Ấn Độ Dương và tương lai của sức mạnh Hoa Kỳ, Những bóng ma Balkan: chuyến du hành qua lịch sử, và Chính trị chiến binh: tại sao quyền lãnh đạo đòi hỏi một tính cách Pagan. 

Ông đã từng làm phóng viên quốc tế cho The Atlantic gần ba thập kỷ. Vào năm 2011 và năm 2012 ông được nêu tên trên tập chí Foreign Policy như một trong số 100 nhà tư tưởng của thế giới.

Từ 2009 đến 2011 Kaplan tham gia vào Hội đồng Chính sách Quốc phòng của Lầu Năm góc, được chỉ định bởi Bộ trưởng Quốc phòng Robert Gates. Từ 2008 ông là nghiên cứu sinh cao cấp tại Trung tâm An ninh Tân Hoa Kỳ tại Washington. Từ 2006 đến 2008 ông là Giáo sư thỉnh giảng đặc biệt Thế hệ 1960 của Học viện Hàng hải Hoa Kỳ tại Annapolis.

Quyển sách Chảo dầu tại Châu Á – Biển Đông và sự kết thúc của một Thái Bình Dương ổn định (Asia’s Caudron – The South China Sea and the End of a Stable Pacific) của ông xuất bản đầu năm 2014.  Sách gồm 8 chương, trong đó tác giả dành riêng Chương III để đề cập đến Việt Nam, mối quan hệ lịch sử với Trung Quốc và những nhìn nhận của người Việt Nam về mối quan hệ đó, về mối đe dọa của một Trung Hoa đang tìm cách khuynh loát cán cân quyền lực trong khu vực và đặc biệt  về quan điểm bảo vệ chủ quyền Biển Đông, bảo vệ nền tự chủ quốc gia của Việt Nam.

Xin được giới thiệu phần dịch của chương nói về Việt Nam.


Chương III

Ảnh hưởng của Hà Nội là đáng để suy nghĩ: những gì thủ đô của Việt Nam đạt được tại thời điểm, tự thân nó là tiến trình của lịch sử. Tôi không hàm ý là lịch sử đơn thuần đã là một định mệnh nào đó, đã được xác định trước do vị trí địa lý, hình thành nên các triều đại và các cuộc nổi dậy kế tiếp nhau, tuy nhiên lịch sử là tổng hòa của các hành động dũng cảm đơn lẻ và những toan tính không ngừng nghỉ. Những bản đồ, đồ họa và một số lớn bia đá tại Bảo tàng Lịch sử đã dành để kỷ niệm cho những cuộc kháng chiến gian nan của Việt Nam chống lại các triều đại Tống, Minh và Thanh của Trung Hoa vào các thế kỷ XI, XV và XVIII: cho dù Việt Nam đã từng bị sát nhập vào Trung Hoa cho đến thế kỷ X, đặc tính chia tách về mặt chính trị với đế chế Trung Hoa (Middle Kingdom) từ lâu đã là một điều kỳ diệu mà không lý luận nào trong quá khứ có thể biện giải đầy đủ.

Một số nhiều hơn các bia dựng từ hậu bán thế kỷ XV ở Văn miếu, đã sâu sắc ghi giữ lại tên tuổi và đóng góp của tám mươi hai học giả tiền nhân, vượt lên trên sự lãng quên. Trên thực tế, đó là một ấn tượng đặc biệt về hình dung lịch sử của Việt Nam. Sự thâm trầm và náo nhiệt của Đền Ngọc Sơn (xây dựng để ghi nhớ chiến thắng trước nhà Nguyên Trung Hoa vào thế kỷ XIII), với bức tượng Phật uy nghi sơn son thếp vàng mờ trong khói trầm, bao quanh bởi một hồ nước mờ sương và rậm lá, là sự dọn chỗ về mặt tâm linh cho một ngôi lăng Hồ Chí Minh chân phương hơn. Hồ, một trong những nhân vật nhược tiểu vĩ đại của thế kỷ XX, và là một trong những nhà thực dụng vĩ đại nhất lịch sử, đã hợp nhất chủ nghĩa Mác, tư tưởng Khổng giáo và tinh thần quốc gia vào chung thành một thứ vũ khí chống lại người Trung Quốc, người Pháp và người Mỹ; là nền tảng thành công trong các cuộc kháng chiến của Việt Nam chống lại ba đế quốc mang tầm vóc toàn cầu. Tượng mạ vàng như Phật của ông được đặt khắp các phòng hội nghị tại thủ đô này.  Lăng của ông ta nhô cao giữa những ngôi nhà và nhà thờ kiểu Âu châu đã xưa hàng thế kỷ, nơi từng là đầu não chính trị của Đông Dương thuộc Pháp, một xứ phụ thuộc không chắc chắn mà Paris đã cố sức và quyết liệt nắm lại sau Chiến tranh Thế giới thứ hai, dẫn đến cuộc chiến tranh chống lại người Việt mà đỉnh điểm của nó là một sự kiện quá bẽ bàng cho người Pháp: Trận Điện Biên Phủ năm 1954.

Đông Dương thuộc Pháp bao gồm cà Lào và Campuchia, nhưng với chỉ Hà Nội là đầu não chính trị và Sài Gòn là thủ phủ thương mại. Việt Nam đã thống trị Đông Dương, nói cách khác, điều đó đã dẫn đến chỗ các lực lượng Thái và Khơ me đôi khi có các mối liên kết ít ỏi với Trung Hoa để chống lại sức mạnh của Việt Nam. Trên thực tế, khi mà Hoa Kỳ bảo hộ cho một Nam Việt Nam độc lập chống lại Phía Bắc cộng sản, thì sự thống nhất của Việt Nam dưới chế độ cộng sản và thất bại của người Mỹ đã minh họa cho một mối đe dọa lớn hơn rất nhiều cho Trung Hoa hơn là cho Hoa Kỳ. Đó là một dấu ấn cho động lực Việt Nam trong khu vực.

Bên dưới những công trình kiến trúc kiểu Pháp là cuộc đấu tranh mới nhất mang tính sử thi chống lại định mệnh của lịch sử: những khu phố thương mại Hà Nội ồn ào náo nhiệt, với hàng đoàn xe máy - người lái ô tô ngồi nhắn tin điện thoại di động khi tắc đường – những mặt tiền mới đầy vẻ hiện đại chen lấn với những gian hàng cũ kỹ ngay kế bên. Đó là cái không gian mua bán tiền tư bản, với hàng cà phê khắp nơi – mỗi hàng là một kiểu cách và bài trí riêng biệt – cung cấp những món cà phê thuộc hàng ngon nhất thế giới, và vẫn chưa có Starbucks hiện diện ở đây. Hà Nội, với bề dày lịch sử của nó, lại không có những bảo tàng ngoài trời như những thành phố lớn tại Châu Âu. Nó vẫn còn trong một tiến trình vụng về để trở thành, và vẫn gần gũi với sự hỗn loạn rối rắm của Ấn Độ hơn là sự cằn cỗi khó gần của Singapore. Người Việt Nam đang dò dẫm tìm hướng đi vào thế giới hiện đại, vì lợi ích đầy hứa hẹn của bản thân họ và gia đình, nhưng cũng phải làm sao để bảo toàn sự độc lập của mình trước một Trung Hoa cũng có động lực ngang bằng.

Hà Nội, như từ thời cổ xưa, là một thành phố đầu não của những tính toán chính trị: sự nổi lên thời gian gần đây của thành phần trung lưu đầy tiềm năng – nước đông dân thứ mười ba thế giới – với một bờ biển dài ngay tại ngã tư đường của nhiều tuyến hàng hài quan trọng và gần với những nguồn năng lượng dự trữ ngoài khơi. Việt Nam là “vai diễn chính” của Đông Nam Á trong cuộc tranh chấp tại Biển Đông, đã tuyên bố chủ quyền của mình đối với cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, “trên cơ sở cứ liệu lịch sử có ít nhất là từ thế kỷ XVII”, theo các nhà nghiên cứu Clive Scholfield và Ian Storey.  “Nếu Trung Quốc cản trở được Việt Nam, họ sẽ chiếm được Biển Đông,” một quan chức cấp cao chính phủ Hoa Kỳ nói với tôi như vậy. “Malaysia đã buông tay, Brunei đã giải quyết những vấn đề của họ với Trung Quốc, Indonesia không xác định rõ ràng lập trường của mình trong vấn đề này, Philippines không có nhiều lá bài để đi ngoại trừ những phản ứng quyết liệt và tuyên bố kích động, Singapore có khả năng nhưng quy mô lại nhỏ bé”. 

Tất cả đổ dồn lên Việt Nam, nói một cách khác.

Bước đi của Việt Nam tại thời khắc này đang là những bước đi chậm. Ngô Quang Xuân, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại Quốc hội, đã nói với tôi trong một cuộc trao đổi kéo dài nhiều tuần lễ, rằng, năm tháng mang tính then chốt đối với nước Việt Nam mới không phải là năm 1975, khi Nam Việt Nam bị Miền Bắc cộng sản thôn tính; mà là năm 1995; khi quan hệ được bình thường hóa với Hoa Kỳ và cũng là khi Việt Nam gia nhập ASEAN, và bước vào một thỏa ước “khung” với Liên minh Châu Âu. “Chúng tôi hội nhập với thế giới, nói một cách khác.” Ông thừa nhận rằng trước khi đi đến những quyết định đó, “chúng tôi đã có những cuộc tranh luận quyết liệt trong nội bộ.” Sự thật là, cho dù liên tiếp chiến thắng trước người Pháp và người Mỹ, những người cộng sản Việt Nam, như những viên chức của họ giải thích với tôi trong một loạt những cuộc trao đổi kéo dài nhiều tuần, thì sau đó họ vẫn tiếp tục cảm thấy thua kém.

Hãy ghi nhận: Việt Nam đã tiến chiếm Cambodia vào năm 1978, giải phóng đất nước này thoát khỏi cơn điên diệt chủng dưới chế độ Khơ-me Đỏ của Pol Pot. Cho dù cuộc tiến chiếm là một hành động mang tính hiện thực chủ nghĩa thật lạnh lùng - do Khơ-me Đỏ thân Trung Quốc đã đại diện cho sự de dọa mang tính chiến lược đối với Việt Nam – thì những hệ quả của nó lại mang tính nhân bản tích cực rộng lớn và sâu sắc. Tuy nhiên, chính vì hành động mấu chốt mang tính nhân từ đó mà Việt Nam thân Liên Xô đã bị cấm vận bởi một liên minh thân Trung Quốc bao gồm cả Hoa Kỳ, mà kể từ chuyến đi của Tổng thống Nixon năm 1972 đến Trung Quốc, đã ngả về hướng Bắc Kinh. Năm 1979, Trung Quốc chính họ cũng đã xâm lấn Việt Nam, nhằm giữ chân không cho Việt Nam tiến quân vượt qua Cambodia vào Thái Lan. Trong khi đó, Liên bang Xô viết đã không bước đến trợ giúp cho đất nước nằm trong tầm ảnh hưởng của mình ở Hà Nội. Việt Nam đã trơ trọi về mặt ngoại giao, sa vào một vũng lầy tiêu hao sinh lực tại Cambodia, oằn lưng bởi sự đói nghèo cùng cực, chủ yếu do chính sách quân sự hóa. Thăm Hà Nội vào những năm 1970, Thủ tướng Singapore khi đó là Lý Quang Diệu đã viết, ông phát hiện ra rằng các nhà lãnh đạo Việt Nam là “không thể chịu đựng được”, hãnh diện tự cho họ như là “những người Phổ” ở vùng Đông Nam châu Á. Nhưng sự tự cao, như những nhà lãnh đạo Việt Nam nói với tôi, đã kéo dài không lâu. Qua những lần thiếu thực phẩm nghiêm trọng và sự sụp đổ của Đế chế Xô viết những năm 1989-1991, Việt Nam cuối cùng đã rút quân khỏi Cambodia. Việt Nam đã trở nên không còn bạn bè – chiến thắng người Mỹ đã thành một ký vãng xa xôi. “Cảm giác chiến thắng trong cuộc chiến đó luôn bị lắng xuống vì đã không bao giờ có được sự yên bình,” một nhà ngoại giao Việt Nam giải thích.

“Người Việt Nam không quên về cuộc chiến với Hoa Kỳ những năm 1960-1970,” một nhà ngoại giao Phương Tây nói với tôi. “Huống hồ là, một vài thế hệ người Mỹ vẫn còn nằm trong vũng lầy của thời gian.” Người Việt Nam không quên rằng hai mươi phần trăm đất nước họ không thể ở được hoặc do bom mìn Mỹ còn chưa được rà phá hết; hoặc vì tác động của chất độc màu da cam, không thứ gì có thể sinh sôi được trên phần đất đai đáng kể đó. Có đến ba phần tư người Việt Nam ra đời sau “Kháng chiến chống Mỹ”, như họ gọi – để phân biệt với những cuộc đấu tranh mà họ tiến hành trước và sau đó. Và thậm chí một tỷ lệ người còn nhiều hơn không có bất cứ ký ức gì về cuộc chiến đó.

Các sinh viên và viên chức trẻ tuổi tôi gặp tại Học viện Ngoại giao, một nhánh trực thuộc của Bộ Ngoại giao, còn thoát ra được khỏi cuộc Kháng chiến chống Mỹ hơn là những đứa trẻ của giai đoạn bùng nổ sinh đẻ sau Chiến tranh Thế giới thứ hai. Tại một hội trường địa phương – nơi thường diễn ra những cuộc gặp gỡ mà họ dành cho tôi, trên thực tế, họ đã phê phán Hoa Kỳ nhung không có gì liên quan đến chiến tranh. Họ đã bực bội trước việc Hoa Kỳ không hề can thiệp với Trung Quốc vào năm 1990 khi Bắc Kinh đe dọa chủ quyền của Philippines đối với Đá Vành Khăn thuộc Quần đảo Trường Sa tại Biển Đông; và với việc Hoa Kỳ không gắn kết về mặt kinh tế và ngoại giao với Myanmar nhiều hơn trước năm 2011, để có thể ngăn chặn đất nước này trở thành vệ tinh của Bắc Kinh. Một sinh viên tổng kết: “Sức mạnh của Hoa Kỳ là cần thiết cho nền an ninh của thế giới.” Thật vậy, các sinh viên và viên chức kế tiếp nhau sử dụng thuật ngữ “cân bằng sức mạnh [với Trung Quốc]” để miêu tả Hoa Kỳ. “Người Trung Hoa quá mạnh, quá tham vọng,” một nhà nghiên cứu nữ nói, “đó là lý do tại sao Thời Đại Trung Hoa là mối đe dọa to lớn đối với chúng ta.”

Cả Việt Nam và Hoa Kỳ “chia sẻ lợi ích trong việc ngăn ngừa Trung Quốc… có thể thống trị xương sống thương mại hàng hải và gia tăng những đòi hỏi lãnh thổ thông qua con đường cưỡng chiếm,” Giáo sư Carlyle A. Thayer của Học viện Quốc phòng Australia tại Canberra đã nói như vậy. “Việt Nam xem sự hiện diện của Hoa Kỳ như là một rào cản ngăn chặn việc gia tăng sức mạnh quân sự của Trung Quốc.”

David Lamb, người đã từng theo dõi cuộc chiến những năm 1960 cũng như đã trở lại đây vào những năm 1990 với tư cách phóng viên của Thời báo Los Angeles tại Hà Nội, nói rằng, đơn giản là “Người Việt Nam thích người Mỹ… Họ đã mất ba triệu người [một trong số mười người bị chết hoặc bị thương], đã bị dội lên người 15 triệu tấn đạn dược – gấp hai lần số dội xuống cả Châu Âu và Châu Á trong Chiến tranh Thế giới thứ hai, và đã phải sống qua một cuộc chiến tranh khiến cho 7 triệu người Nam Việt Nam phải di tản và tàn phá toàn bộ công nghiệp và hạ tầng của Miền Bắc Việt Nam. Vâng,” ông viết tiếp, “họ đã bỏ lại cuộc chiến sau lưng họ theo cái cách mà nhiều người Mỹ đã không thể làm. Bệnh viện của họ đầy những cựu chiến binh với những cơn ác mộng hậu chiến, nhưng họ không có được một tượng đài kỷ niệm quốc gia như kiểu Bức tường Việt Nam tại Washington. Họ không viết sách về chiến tranh. Cựu chiến binh không ngồi quanh vại bia để nói về điều dó. Học sinh học về điều đó chỉ như là vài trang ngắn gọn trong suốt quá trình lịch sử 2500 năm của đất nước họ.

Trên thực tế, do cái cung cách nhạo báng và làm trầm trọng hóa vấn đề mà một vài người Âu châu và các thành viên phe hữu của Hoa Kỳ thể hiện khi đánh giá hàng năm, nước Mỹ đã hoàn toàn vắng bóng tại Việt Nam.  Tóm lược quan điểm chung ở đây, Nguyễn Đức Hùng, cựu Đại sứ tại Canada, đã nói với tôi: “cũng như Việt Nam đã mở rộng về phương nam hàng thế kỷ để xác định mình như là một quốc gia, người Mỹ cũng tiến về hướng tây – và điều đó không phải vì vàng ở California, mà vì sự tự do.”

Đọc tiếp bài: Định mệnh Việt Nam 2

Asia Clinic, 8h44' ngày thứ Ba, 15/4/2014

THÔNG BÁO VỀ QUỸ TÂY DU - GO WEST FOUNDATION

Thể hiện trên đồ dùng văn phòng
Thể hiện trên áo
Logo chính thức chưa hoàn chỉnh của Quỹ tây Du - Go West Foundation do chuyên gia thiết kế Quach Anh trình bày. Logo của Quach Anh là cách điệu từ trang sách + chữ G trong từ Go + trồng cây hy vọng mà cũng thể hiện chữ W trong chữ West. Nhưng sẽ sửa thêm 1 mầm sống đang vươn lên ở giữa 2 lá để thể hiện rõ nét chữ W. Quỹ phi lợi nhuận này từ sự đóng góp của người Việt trên khắp toàn cầu và trong nước sẽ chắp cánh cho thế hệ trẻ tương lai của nước Việt bay đi khắp bốn phương trời mang tinh hoa thế giới về dựng xây nước Việt trường tồn và phát triển hùng cường.

Bài đọc liên quan:

Sau 3 ngày tôi viết bài "Cần một Quỹ Tây Du cho thế hệ trẻ Việt Nam", đến hôm nay đã thành lập Hội đồng Quỹ tây Du tại Hoa Kỳ. Ba bạn có tâm huyết, có tầm nhìn xa, và hết lòng với một tương lai nước Việt hùng cường đã tình nguyện tham gia vô vụ lợi, phi chính trị. Trong đó, có một bạn trẻ thế hệ 197x đời đầu đã gọi điện thoại thẳng cho tôi từ Hoa Kỳ về, và mong muốn đóng góp cái quỹ nhỏ của anh ta đang có khoảng 3,000USD vào cho quỹ chung và đảm nhiệm một thành viên trong hội đồng. Tôi thực sự xúc động tấm thịnh tình này của một người trẻ yêu quê hương, mong muốn chăm lo cho một thế hệ trẻ Việt nam có nhân cách, có bản lĩnh và có tư duy độc lập, vì một nước Việt hùng cường.

Hôm nay, tôi viết bài này để xin thông báo cho Viet Nguyen, Donald Nguyen, Thomas Cong và cả gia đình người Việt nam trên toàn thế giới được rõ. Website của Quỹ Tây Du - Go West Foundation - sẽ hoàn tất và Quỹ này sẽ ra mắt đúng ngày sự cố của dân tộc - 30/4/2014. Mọi chi tiết của website sẽ đáp ứng đủ mọi nhu cầu của cộng đồng người Việt trên khắp thế giới.

Website sẽ có 2 thứ tiếng: Việt Nam và English cho từng thông báo, bài vở và công khai những đóng góp và tổng số tiền của Quỹ hiện có, đã dùng cho việc gì, có bằng chứng đầy đủ cho bà con Việt nam trên toàn thế giới rõ. Ai muôn đóng góp nặc danh vì lý do cá nhân thì website cũng đáp ứng.

Website được một chuyên gia chuyên viết website cho các đại công ty FDI vào đầu tư tại Việt Nam là Tien Do. Vì tấm lòng của chuyên gia với thế hệ trẻ Việt nam, nên viết miễn phí, nhưng mua 3 tên miền: dot com, dot net và dot org. Giá mua cả 3 tên miền và bảo mật cho 1 năm là $61. 

Và website sẽ hoạt động ở trang web chính là http://w.w.w.gowestfoundation.org. Song 2 trang liên kết là http://w.w.w.gowestfoundation.com và http://.w.w.w.gowestfoundation.net vẫn hoạt động cùng lúc.

Ngay từ bây giờ 3 bạn Viet Nguyen, Donald Nguyen và Thomas Cong hãy thành lập văn phòng, tài khoản và hoạt động cho nó và báo cho mình, để mình đưa cho bên đảm trách viết website nhúng vào website và mục donate qua Paypal, và địa chỉ liên hệ. Email tôi đã thành lập rồi: gowestfoudation@gmail.com(không có chữ n sau chữ fou). Và tôi sẽ đưa ID và p/w cho các bạn để sử dụng. Có thể sau này sẽ dùng email theo website, nhưng trước mắt lấy email này.

Hội đồng Quỹ Tây Du sẽ nhận thư liên lạc và hồ sơ của những thí sinh ứng cử nhận quỹ hổ trợ qua hộp mail này.

Tôi cũng xin chọn logo này của Quach Anh và cũng xin chân thành cảm ơn tài năng và tấm lòng cao quý của Quach Anh.

Chúc một tương lai tốt đẹp cho thế hệ trẻ Việt nam, chúc cho Quỹ Tây Du trường tồn và phát triển, và chúc cho nước Việt hùng cường.

Tư gia, 19h11 Ngày thứ Hai, 14/4/2014

Thứ Sáu, 11 tháng 4, 2014

CẦN MỘT QUỸ TÂY DU CHO THẾ HỆ TRẺ VIỆT NAM

Bài đọc liên quan:
+ Gốc rễ của suy đồi văn hóa giáo dục
+ Tổng kết học bổng đại học Hoa Kỳ
+ Essay là sự khác biệt
+ Những yếu tố chọn trường đại học Hoa Kỳ sau khi có học bổng

Hôm trước VTV đưa tin cả nước có khoảng 72.000 bạn trẻ đang thất nghiệp dù đã học xong cử nhân, thạc sĩ, đang làm hồ sơ trở lại học trung cấp để kiếm việc làm. Hôm nay báo chí đưa tin lại Thạc sĩ cử nhân ồ ạt học ... trung cấp. Nhưng đau dớn hơn là, tràn ngập người lao động Trung Hoa không phép ở nước Việt. Nên tôi phải viết bài này để các bạn trẻ có định hướng khi muốn vào đại học, cao đẳng hay trung cấp. Vì thời của tôi, là thời bao cấp, chế độ hộ khẩu, lý lịch nó cũng đã làm nhiều người khốn khổ vì công ăn việc làm. Thậm chí, có cả chuyện Hộ khẩu Sài Gòn như trong phim Mạc Tư Khoa không tin những giọt nước mắt - nói về những người bạn cùng trường đại học sau khi ra trường bằng mọi giá để có hộ khẩu Mạc Tư Khoa, chứ không chịu về tỉnh lẻ, nhưng bất hạnh. Ở Việt Nam thời của chúng tôi sau tốt nghiệp đại học cũng thế, bằng mọi giá để ở lại Sài Gòn thay đổi đời mình, song không thiếu những người sống một thời gian dài bất hạnh.

Hôm cuối tháng 3/2014, thông tin truyền thông đưa tin Huyền Chip được học bổng Stanford. Đây là điều đáng để các bạn trẻ suy ngẫm về con đường tương lai của mình, mặc dù, học xong cử nhân ở Stanford chưa chắc đã có việc làm. Ví dụ như một số bạn trẻ Việt Nam mà tôi biết được đã từng được học bổng toàn phần ở các đại học danh giá ở Hoa Kỳ, nhưng khi về nước tìm việc vẫn khó khăn, và không đúng chuyên ngành mình học, phải ra mở doanh nghiệp tư nhân để vừa kiếm sống, vừa giúp cộng đồng trẻ Việt Nam vươn xa ra bầu trời mới, cao hơn, rộng hơn.

Cuối năm âm lịch 2013 tôi viết bài Essay là sự khác biệt. Đầu năm 2014 âm lịch tôi khai bút bài Hồ sơ học bổng đại học Hoa Kỳ phải như thế nào là tốt? Cùng một tuổi với con tôi, nhưng sau 6 năm cháu Huyền Chíp mới bước vào đại học Hoa Kỳ bằng học bổng toàn phần, trong khi đó, thế hệ này đã bắt đầu hoặc đi một nửa con đường của tấm bằng PhD.

Săn học bổng ở các trường của các quốc gia tiên tiến về giáo dục - đặc biệt là Hoa Kỳ - là phải tạo ra cho mình một sự khác biệt. Nói ra những điều trên để các bạn thấy rằng, có rất nhiều cơ hội để tìm học bổng Hoa Kỳ. Người xuất sắc thì đi thẳng một mạch lên đại học bằng học bổng đại học ở Hoa Kỳ. Kẻ kém hơn thì nên tìm ra sự khác biệt cho mình để Hoa Kỳ cho tiền ăn học. Sáu năm xách ba lô lên và đi của cháu Huyền Chíp, là cách mà cháu ấy đã tạo ra sự khác biệt cho mình với hàng trăm ngàn thí sinh khác khi làm hồ sơ xin học bổng, và nhập học ở các đại học của Hoa Kỳ. Nhưng cũng không thiếu các bạn trẻ đi trước Huyền Chíp, giờ chưa chắc đã có việc làm. Nó cho ta thấy rằng, đi trước chưa hẳn đã hay, nhưng đi sau mà đi chắc như Huyền Chíp thì tương lai không làm được chỗ này, thì cũng không thiếu chỗ khác để họ săn tìm.

Cùng lứa với tôi, có người ở lại Sài Gòn, có người về tỉnh lẻ. Giờ tổng kết lại thì tỷ lệ về tỉnh lẻ thành công hơn 90%, còn ở Sài Gòn thì thành công chưa đến 50%. Điều này cho thấy, đâu phải cứ ở đô thị lớn là sẽ tốt hơn. Vấn đề để được thành công thì, phải như ông bà mình bảo, nhất nghệ tinh nhất thân vinh vẫn là châm ngôn cho mọi thời đại.

Nhìn hình ảnh 2 đứa trẻ ngây thơ ngồi ở tòa tương phản với vẻ cười tươi của tên công an đã giết cha của 2 trẻ, được tòa ở thành phố Tuy Hòa tuyên tù treo, thì ai cũng thấy hết tội lỗi của đảng cộng sản cầm quyền ở Việt Nam

Tôi có một ước ao cho thế hệ trẻ tương lai là, có một quỹ hỗ trợ học bổng Tây Du. Tại sao Việt kiều mỗi năm gửi về đất nước đến 11 tỷ Đô la Hoa Kỳ, mà không có một quỹ dành cho việc Tây du với thế hệ trẻ Việt tương lai? Tại sao cứ cho người Việt cá để ăn những 11 tỷ Đô La Hoa Kỳ hằng năm, mà Việt kiều trên khắp thế giới lại không cho họ cái cần câu? Cho họ cần câu là góp phần rất lớn việc canh tân bản thân, gia đình và cả chế độ chính trị xã hội Việt tốt hơn. Vì khi dân trí được mở mang, ắt dân khí sẽ mạnh lên, và buộc chính quyền phải sống tử tế với dân, chứ không phải tuần nào cũng nghe hung tin, thêm một người chết sau khi làm việc với công an, nhưng khi đem công an ra xử án thì, họ vẫn trắng án và nhăn răng cười đùa trước tòa như vụ án 5 công an dùng nhục hình đánh chết một người dân lương thiện ở Tuy Hòa, với mức án tù treo! Và ta cũng không còn nghe những câu nói rất súc sinh từ miệng quan trôn trẻ như lâu nay.

Hôm đi đám ma thầy Đinh Đăng Định, một câu dặn dò rất nhân bản và đầy bao dung của thầy - "Không được giữ lòng thù hận..., vì chúng ta không phải là kẻ thù của nhau" - làm tôi phải nghĩ đến việc chúng ta phải cần làm một phong trào Tây du cho thế hệ tương lai.


Với 4 triệu Kiều Bào hải ngoại, chỉ cần mỗi người 1 năm bỏ ra 1 Đô la Hoa Kỳ, thì mỗi năm có 4 triệu để đủ chăm sóc ít nhất 200 bạn trẻ có khả năng lấy học bổng bán phần ở các đại học trên thế giới. Và với cái quỹ rất đơn giản này, thì các đứa con bơ vơ khi cha hoặc mẹ vào tù vì yêu nước như Bùi Thị Minh Hằng, Nguyễn Văn Hải Điếu Cày, hay con của thầy Đinh Đăng Định có thể dễ dàng Tây du và có cuộc sống tương lai vững vàng, mà con của họ xứng đáng để được hưởng những gì chúng ta tri ân cho họ.

Với 90 triệu dân trong nước, có ít nhất 30% dân dư sức để 1 năm bỏ ra 1 USD, vì nó chỉ đáng một lần ăn sáng uống cà phê mà tốn kém hơn nhiều lần của số tiền này.

Nếu có được quỹ này, tôi xin tự nguyện làm cái việc hướng dẫn các cháu học tập, và làm hồ sơ xin học bổng đại học Hoa Kỳ cho các cháu. Khi các cháu được học bổng dù toàn phần, hay bán phần, và được visa du học ở Hoa Kỳ, thì con đường tiếp theo là quỹ này lo mặt tài chính còn lại cho các cháu.

Theo tôi, quỹ này phải được đặt ở Hoa Kỳ, do một tổ chứctài chính kiểm soát, và trả công cho tổ chức tài chính này. Tài khoản được đứng tên dưới một hội đồng gồm 3 người có quốc tịch Hoa Kỳ, có uy tín để khi 3 người này ký thì tổ chức tài chính kia sẽ chi ra. Các thí sinh được học bổng từ Việt Nam được một nhóm trí thức ở trong nước kiểm tra hồ sơ, và viết thư giới thiệu cho Hội đồng ở Hoa Kỳ. Thế thì mới mong nó không bị lạm dụng.

Những người được học bổng này phải được công khai danh tính, cụ thể rõ ràng. Sau khi thành tài phải biết chăm lo lại cái quỹ này bằng tấm lòng của một người được nó cưu mang mà thành.

5 năm nay, tôi một thân một mình lo khoảng gần 300 cháu đi với học bổng toàn phần có, bán phần có và hơn bán phần cũng có. Nhưng tôi chỉ giúp chọn trường, làm hồ sơ, chỉnh sửa essay, chứ tôi không thể giúp tiền bạc. Nên có nhiều cháu giỏi, xuất sắc nhận đến 75 - 80%, chỉ còn đóng có 5-8K/năm, mà nhà chúng không có đóng đành bỏ, mình đứt ruột để chúng học ở trong nước. Nếu có quỹ này thì chắc chắn sẽ tốt hơn nhiều cho các cháu, và cho đất nước.

Nay tôi chỉ làm việc này như ngày xưa An Tiêm thả dưa, cứ 100 quả dưa An Tiêm cũng chỉ mong vài quả dưa tới đất liền. Nâng dân trí, chấn hưng dân khí và chăm lo hậu dân sinh là việc chúng ta cần tiếp bước ý tưởng này của cụ Phan Chu Trinh.

Tôi biết mình tài hèn, sức mọn, nên tôi chỉ có một ước mơ nho nhỏ này. Mong rằng những ai có tấm lòng với nước Việt và thế hệ trẻ tương lai hãy chung sức để lo việc này. Chúng ta hãy bàn nhau để thành lập cái quỹ này, tên của nó, và một hội đồng kiểm soát việc chi tiêu quỹ đúng với mục tiêu của nó một cách minh bạch, và công tâm, vô vụ lợi.

Asia Clinic, 16h08' ngày thứ Sáu, 11/4/2014

Thứ Sáu, 4 tháng 4, 2014

BẢN CHẤT CỦA VẤN ĐỀ HÒA HỢP HÒA GIẢI DÂN TỘC VIỆT

Bài đọc liên quan:

Từ khi cố thủ tướng Võ Văn Kiệt còn sống, ông đã nói đến ngày 30/4/1975 có triệu người vui, và triệu người buồn, trong đó có ông và gia đình bị cả 2 cảm giác buồn vui. Đó là việc ông mong muốn hòa hợp hòa giải dân tộc. Nhưng ông đã hiểu sai bản chất việc hòa hợp hòa giải ở Việt Nam là hòa hợp hòa giải giữa ai với ai, bằng hành động cụ thể nào. Nên việc ông mong muốn không thể thực hiện được.

Cách đây 4 năm bà cựu phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình nhắc lại, cùng một dân tộc hà cớ gì không hòa hợp? Cũng giống ông cố thủ tướng Kiệt, bà cựu phó chủ tịch nước hiểu sai về bản chất của vấn đề.

Vài tháng nay, câu chuyện hòa hợp hòa giải dân tộc Việt Nam sau biến cố 30/4/1975 bắt đầu được truyền thông báo chí quan tâm trở lại khi ngày biến cố 30/4/1975 lại đến. 



Phải thấy rằng, đây là một chủ trương tốt cho đất nước và dân tộc sau bao điêu linh tương tàn mà người cộng sản đã gây ra. Nhưng theo tôi, nó bất khả thi vì bản chất của vấn đề không nằm ở dân tộc Việt không hòa hợp hòa giải.

Muốn giải quyết đúng vấn đề này, phải hiểu bản chất của vấn đề, chúng ta hãy thử điểm qua lịch sử một lần để thấy tại sao việc này bất khả thi.

Lịch sử từ 1945 đến nay, đảng cộng sản đã 2 lần cướp của dân: cải cách ruộng đất và cải tạo tư sản, giết dân bằng cách chụp cái mũ chế độ lý lịch ở miền Bắc từ năm 1953 đến 1956. Sau 30/4/1975 thì cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh ở miền Nam từ năm 1977. Hai lần đó kèm thêm chế độ hà khắc đối xử với dân cả 2 miền Nam Bắc, làm dân miền Bắc phải chạy vào Nam năm 1954, rồi dân cả 2 miền Nam Bắc bỏ chạy sang xứ tư bản giãy hoài không chết sau 1975. Ngay cả bây giờ đảng cộng sản vẫn còn cướp đất và của cải của dân để ăn chia.


Như vậy, bản chất của vấn đề là, dân tộc Việt không có mất sự đoàn kết với nhau, mà chỉ có đảng cộng sản không hòa hợp hòa giải với dân tộc Việt sau khi cướp chính quyền. Nên việc hòa hợp hòa giải là việc chỉ xảy ra giữa đảng cộng sản - 4 triệu đảng viên - với 90 triệu dân Việt cả trong nước 86 triệu, cộng với 4 triệu kiều bào Hải ngoại, chứ làm gì có chuyện 90 triệu người Việt trong và ngoài nước phải hòa hợp, hòa giải với nhau, mà phải gọi là hòa hợp hòa giải dân tộc?

Một đơn cử cụ thể cho thấy người dân Việt không mất đoàn kết là cuộc hôn phối giữa con gái của thủ tướng của đảng cộng sản cầm quyền ở Việt Nam với con trai của cựu thứ trưởng Việt Nam Cộng Hòa sống nhau có con cái hạnh phúc, thì làm gì có chuyện dân tộc Việt cần phải hòa hợp hòa giải?

Nếu muốn hòa hợp hòa giả giữa 4 triệu đảng viên cộng sản ở Việt Nam với 90 triệu dân Việt cả trong và ngoài nước thì đảng cộng sản phải làm gì? Theo tôi phải cần làm 4 việc lớn sau:

Thứ nhất, đảng cộng sản cầm quyền ở Việt Nam phải trả lại của cải, danh dự cho những người đã bị đảng cộng sản đấu tố trong cải cách ruộng đất ở miền Bắc.

Thứ hai, đảng cộng sản cầm quyền ở Việt Nam phải trả lại của cải và sinh mạng con người của nhân dân miền Nam đã bị đảng cộng sản tịch thu, bắt người đi học tập cải tạo, bị chết vì rừng thiêng nước độc, chế độ nhà tù hà khắc, mất mạng trên biển vì đi vượt biển, và vì cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh sau 30/4/1975.

Thứ ba, đảng cộng sản phải làm hành động nhân bản như Tây Đức đã đối xử với những cựu quân nhân, chính khách của Đông Dức sau thống nhất nước Đức là: trả lương, phục hồi chức vụ lãnh đạo của cán bộ Việt Nam Cộng Hòa sau khi thống nhất Việt Nam vào ngày 30/4/1975.

Và cuối cùng là, đảng cộng sản cầm quyền ở Việt Nam phải có một thể chế chính trị đúng nghĩa của dân, do dân và vì dân thực sự với đa nguyên, tản quyền để phát huy hết sức mạnh dân tộc trong cả quyền lực cứng lẫn quyền lực mềm, thì mới mong đất nước hùng cường tự chủ trước ngoại bang.

Nếu không thực hiện được 4 việc trên, thì việc hòa hợp hòa giải giữa đảng cộng sản đang cầm quyền ở Việt Nam và nhân dân Việt chỉ là việc nói láo mà chơi, nghe láo chơi, như câu thơ của Bồ Tùng Linh mở đầu tác phẩm Liêu Trai Chí Dị.

Sách lược của đảng cộng sản ở Việt Nam, trích từ trang 3, quyển 3, Hồ chí Minh toàn tập, NXB Chính trị Quốc Gia xuất bản năm 2000.

Hay nói cách khác - đảng cộng sản chưa bao giờ xem nhân dân là người chủ đất nước, mà dân chỉ là  phương tiện của đảng cộng sản thực thi quyền lợi của mình. Nên  việc hòa hợp hòa giải dân tộc Việt không có, mà cần có một sự cầu thị của đảng cộng sản đang cầm quyền ở Việt Nam đối với dân tộc Việt, để có một dân tộc và một đất nước hùng cường. Chứ không có chuyện dân tộc Việt cần phải hòa hợp hòa giải với nhau. Đó mới là bản chất của vấn đề nước Việt thời đại Hồ Chí Minh.

Asia Clinic, 12h27' ngày thứ Bảy, 05/4/2014

Thứ Năm, 3 tháng 4, 2014

TỔ QUỐC GỌI TÊN ANH - TRÍ THỨC ĐINH ĐĂNG ĐỊNH

Bài đọc liên quan: 
+ Bi kịch của kẻ sỹ giữa đám bần nông
+ Bi kịch của chủ nghĩa xã hội

Tôi biết Anh qua một bài báo của trang Công An TPHCM, khi anh bị tuyên xử 6 năm tù giam vì tội phạm vào luật hình 88, đăng ngày 21/11/2012. Chưa đầy 2 năm ngồi tù, thì hôm nay Anh đã ra đi, để lại nhiều tiếc nuối cho cộng đồng dân Việt.

Chỉ vì đi vận động 3000 chữ ký của người dân để phản đối một dự án được coi là "chủ trương lớn của đảng" - dự án khai thác bôxit Tây Nguyên - mà một thầy giáo, trí thức bị khép tội "tuyên truyền chống nhà nước" bị giam cầm. Sau hơn 4 năm "chủ trương lớn của đảng" đã gây lỗ hàng nghìn tỷ cho tiền đóng thuế của dân và bao nhiêu gia đình bị màn trời chiếu đất sau khi tái định cư. Giờ thì dự án này đã nói lên Anh đúng và đảng cầm quyền đã sai.

Tôi vẫn dõi theo Anh một cách thầm lặng, và kính phục. Tôi xin làm một bài phóng sự góp nhặt ảnh về Anh xem như là, lòng thành kính dâng Anh một nén hương của một kẻ có học - chứ chưa phải là trí thức như Anh - dành cho Người Trí Thức đúng nghĩa trong thời buổi đảo điên này.

Thầy Đinh Đăng Định ngày 21/11/2012 bị xử 6 năm tù vẫn hiên ngang không khuất phục.

Thầy Đinh Đăng Định trong tháng 2/2014 đang điều trị tại bệnh viện.

Chiếc băng ca cấp cứu chở Anh Đinh Đăng Định về nhà ngày 24/3/2014, sau khi bệnh viện không còn khả năng chữa trị.

Siết chặt bàn tay mà mắt buồn xa xăm vì đất nước, tháng 2/2014

Những ngày cuối cùng đầu tháng 4/2014

Và Anh, một trí thức thật sự đã ra đi vào những ngày đầu tháng 4 lịch sử, nhưng trong lòng vẫn còn nỗi đau muốn ngắm nhìn đất nước tự do, độc lập và nhân dân có hạnh phúc thực sự vẫn chưa thấy lúc lìa trần.

Đôi mắt Anh vẫn mở trừng trừng như nuối tiếc vì một tình yêu đất nước chưa tròn lúc lìa đời 21h30' ngày 03/4/2014 vừa qua. Tấm ảnh này trông không đẹp, nên tôi xin rút xuống. Mong thông cảm.

Cha đạo đang làm thánh lễ cho Anh. Mong hồn anh yên nghĩ ở chốn vĩnh hằng. Tôi một kẻ có học hèn mọn vẫn một lòng tôn kính Anh, dù chưa bao giờ gặp mặt.



Vì lý do an ninh, nên thánh thể của Anh Định được quàng tại Nhà Thờ Kỳ Đồng, số 38 đường Kỳ Đồng, Quận 3, Sài Gòn. Đúng 20h15' tối nay, 05/4/2014, tôi đã đến thắp hương cho Anh. Có anh em bạn bè đến với Anh rất đông, dù họ chưa bao giờ gặp mặt Anh, kể cả vòng Hoa của Lãnh sự quán Hoa Kỳ tại Sài Gòn. Tôi xin update nó lên đây:


Khi ra đi, Anh vẫn bao dung và thể hiện một nhân cách lớn hơn cả những lãnh tụ cộng sản từ trước đến nay qua lời dặn của Anh.

Asia Clinic, 13h30' ngày thứ Sáu 04/4/2014

Thứ Tư, 2 tháng 4, 2014

TRẢ LỜI VỀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN KHOA HỌC

Bài đọc liên quan:

Có bạn trẻ hỏi: 

"Cháu chào bác!Bác cho cháu hỏi một điều không liên quan đến chính trị ạ!Cháu đọc blog thấy bác có sự nghiên cứu và cái nhìn toàn diện trên mọi lĩnh vực. Bác có thể cho cháu biết phương pháp, bí quyết tiếp nhận kiến thức và tìm hiểu (hay đúng hơn là phương pháp học) của bác như thế nào để có sự hiểu biết cặn kẽ nhiều đến như vậy ạ? Bác có sử dụng nguồn thông tin đáng tin cậy nào về khoa học và xã hội không ạ?Cháu là thanh niên cũng ham đọc ham tìm hiểu, mong bác chỉ giúp cháu ạ. Cháu cảm ơn bác!"

Tôi xin trả lời như sau:

"Không ai chứa nổi cả một kho tàng kiến thức nhân loại được. Vì bộ não của con người là giới hạn, nhưng kiến thức của nhân loại là vô hạn. Song chúng ta có cách để chứa được những điều cốt lõi của kiến thức nhân loại.

Cách đó là phương pháp luận khoa học. Phương pháp luận khoa học là gì? Nó rất đơn giản, nó là nền tảng của triết học, và được phát biểu ngắn gọn như sau:

Hoạt động nhận thức của con người đi từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, và từ tư duy trừu tượng đem ra áp dụng cho thực tiễn, đó là con đường nhận thức chân lý khách quan. Con đường nhận thức đó được thực hiện qua các giai đoạn từ đơn giản đến phức tạp, từ thấp đến cao, từ cụ thể đến trừu tượng, từ hình thức bên ngoài đến bản chất bên trong.

Suy cho cùng sách vở là cũng đúc kết từ thực tế khách quan. Nên vấn đề là, khi ta sống ta phải quan sát và ghi nhận khách quan trung thực mọi sự vật hiện tượng và đúc kết cho mình. Sau đó áp dụng đúc kết đó vào thực tế khách quan để rút ra bài học giáo khoa cho chính mình.

Với cách đó, ta có thể không đến trường lớp, nhưng bản thân ta có thể trở thành là một cuốn sách giáo khoa của chính mình mà không cần đọc sách nhiều.

Khi đọc sách, không nên vào sách mà đọc từ đầu đến cuối. Cách đọc sách nhanh mà tốt nhất của bản thân tớ là, xem mục lục trước để xem tác giả muốn nói những tư tưởng gì trong sách. Sau đó chỉ nên chọn những chương, phần mà mình thấy mình chưa biết để đọc, mà không cần phải đọc hết. Vì chỉ cần đọc mục lục là biết tác giả muốn viết gì trong mỗi phần chương của sách.

Đi mua sách cũng vậy, chỉ cần xem mục lục là biết có nên mua hay không? Nhiều cuốn sách chỉ cần 1 chương mà ta chưa biết, ta cũng phải đành lòng bỏ tiền ra mua, chứ không phải thấy cái tựa kêu rổn rảng và hay là bỏ tiền ra mua. Nhiều cuốn sách trông tựa rất kêu, nhưng lật mục lục ra xem thì chả có gì để đọc.

Khi đọc sách cần tìm từ quan trọng nói lên ý hoặc tư tưởng chính mà đọc. Không nhất thiết phải đọc hết tất cả các chữ viết trong sách mới hiểu hết được sách.

Có 2 loại người đọc sách: Loại người chiếm phần đông là người đọc sách để tìm bóng dáng quá khứ, hiện tại và tương lai của mình trong đó. Loại người thứ hai hiếm hơn, là đọc sách đi tìm tư tưởng hay ý chính của tác giả mà mình chưa biết.

Đọc sách là tìm ý chính và tư tưởng của tác giả mà mình chưa biết, chứ không nên tìm bóng dáng mình trong đó. 

Sau khi đúc kết thực tế khách quan, hoặc đọc sách thì phải biến nó thành ý tưởng của mình một cách ngắn gọn và chung nhất cho mọi sự kiện, để sau này dùng nó.

"Học nhiều không phải là hay. Đọc nhiều không phải là hiểu biết nhiều. Cũng như ăn nhiều không phải là khỏe, vấn đề là phải biết cách học chọn cái mà đọc, mà ăn. Hãy cho tôi một đứa trẻ, tôi sẽ cho nó biết những gì nó cần biết mà người khác khó có thể biết, nhưng những cái mà người khác biết, nếu cần nó sẽ biết dễ dàng". Đây là câu nói nổi tiếng của nhà triết học, giáo dục học người Pháp Jean-Jacques Rousseau!

Sống cả đời người trăm năm thì rất ngắn, nhưng cũng rất dài. Ngắn khi ta luôn tư duy mọi việc theo đúng phương pháp luận khoa học. Lúc đó, ta sẽ thấy mình không đủ thời gian để sống đúng ý nghĩa cho đời. Nhưng sẽ rất dài, khi mọi tư duy ta bị đóng băng, không còn gì để tư duy. Ngay cả Hoa Kỳ, người ta thống kê lại, cũng chỉ có 4% dân số là thực sự sống và tư duy liên tục trong cả cuộc đời. Số ấy luôn thành đạt và có cuộc sống an toàn.

Tất cả những điều trên đã giúp tôi nắm nhiều kiến thức mà không quá tải. Nên đôi khi tôi viết như cái máy, như nhiều bạn trẻ đã từng bình luận trên nhà của tôi."

Thân mến


Asia Clinic, 15h14' ngày thứ Tư, 02/4/2014

Thứ Hai, 31 tháng 3, 2014

TRUNG HOA CÓ LÀ CƯỜNG QUỐC KINH TẾ?

Bài đọc liên quan:
+ 50 năm và 67 năm
+ Tương lai Trung Hoa về đâu?
+ Sai lầm chính trị hay kinh tế?
+ Quân bài đã chia - vấn đề còn lại là ta
+ 3 bài Thoát Trung luận

Hôm qua, tờ Business Insider của Úc đưa ra vấn đề: Đây là biểu đồ tốt nhất cho nợ của Trung Hoa - This Is The Best Chart We've Seen On The Chinese Debt Problem. Tác giả đưa ra "thời điểm Minsky" - Minsky Moment - và "tỷ lệ nợ tư" của các quốc gia như Hoa Kỳ, Trung Hoa, Liên minh kinh tế và tiền tệ của Liên minh châu Âu - Economic and Monetary Union of the European Union: EMU; và Liên minh kinh tế tiền tệ của các quốc gia châu Á - Economic and Monetary Union of the Asia: EM Asia.

Cố Giáo sư kinh tế học của Washington University in Saint Louis - Hymen Minsky(1919-1996) - là người Hoa Kỳ di dân từ Bạch Nga - Belarus - đã đưa ra lý thuyết chu kỳ khủng hoảng kinh tế từ năm 1974, và tại Levy Economics Institute of Bard College ông đã viết lại tiểu phẩm ngắn về Lý thuyết mất cân bằng tài chính - Financial Instability Hypothesis - trong đó nhắc đến sự di chuyển chậm chạp từ ổn định tài chính đến khủng hoảng tài chính sau một thời gian dài tăng trưởng, và đầu tư đưa đến vỡ bong bóng đầu tư, kéo theo khủng hoảng kinh tế tài chính từ nợ quá mức ở ngân hàng, trong khi hàng hóa đầu tư ra đã bảo hòa, không có khách hàng tiêu thụ. Và cái gọi là "thời điểm Minsky" đã được Paul McCulley đặt tên vào năm 1998, để mô tả khủng hoảng tài chính Nga năm 1998.

Để đi đến thời điểm Minsky nền kinh tế phải đi qua 3 giai đoạn. Giai đoạn 1 là, nền kinh tế phục hồi sau khủng hoảng, phát triển ổn định, các nhà đầu tư hứng khởi đầu tư vào một lĩnh vực được đánh giá là mang lại lợi nhuận to lớn. Giai đoạn 2 là đầu tư vào lĩnh vực này sẽ kéo theo nhiều nhà đầu tư khác. Họ đẩy lên cao trào, tạo ra bong bóng giá, và tan vỡ trong lĩnh vực ấy. Giai đoạn 3, là bong bóng giá vỡ kéo theo khủng hoảng tài chính. Có nghĩa là, trong lúc kinh tế phát triển thịnh vượng đã bắt đầu mầm móng của suy thoái do hành vi và thái độ của nhà đầu tư/đầu cơ.

Cho nên, Thời điểm Minsky được định nghĩa là thời điểm mà ở đó có một sự sụp đổ lớn đột ngột của giá trị tài sản của chu kỳ tín dụng hoặc chu kỳ kinh doanh . Thời điểm này xảy ra bởi vì trong một thời gian dài của sự thịnh vượng và giá trị gia tăng đầu tư dẫn đến tăng đầu cơ sử dụng tiền vay. Các khoản nợ theo hình xoắn ốc phát sinh trong việc hỗ trợ các khoản đầu tư mang tính đầu cơ dẫn đến vấn đề mất khả năng thanh toán dòng tiền mặt cho các nhà đầu tư. Tiền mặt được tạo ra bởi tài sản của họ không đủ để trả hết các món nợ của họ ở ngân hàng.

Trường phái Tân cổ điển và ông Hymen Minsky thì không đồng ý nhau về cội nguồn của bất ổn tài chính. Theo trường phái Tân cổ điển thì, cội nguồn ấy nằm trong sự phức tạp của thị trường, và sự phức tạp ấy đến từ "sự sáng tạo" của kỹ thuật tài chính. Nhưng Hymen Minsky cho rằng sự bất ổn ấy nằm trong chính trong bản chất của nền kinh tế thị trường tư bản tự do. Nền kinh tế này luôn năng động và tạo cơ hội cũng như điều kiện cho các nhà đầu tư làm giàu. Chính vì thế Hymen Minsky đặt nền tảng của sự bất ổn nằm trong cấu trúc nợ của hệ thống tài chính, và thái độ của nhà đầu tư/đầu cơ làm trọng tâm của mô hình kinh tế mỗi quốc gia.

Một khi lòng tham của các nhà đầu tư vượt quá sự thận trọng của đầu tư/đầu cơ, do nền kinh tế đang ổn định, cung chưa đủ đáp ứng cầu. Các nhà đầu tư đổ xô mượn nợ để đầu tư nóng vào lĩnh vực đang hái ra lời, mà họ quên đi điểm bảo hòa giữa cung cầu. Hậu quả là dẫn đến khủng hoảng tài chính, kết thúc bằng khủng hoảng kinh tế quốc gia kéo theo khu vực và toàn cầu, như khủng hoảng của khu vực châu Á 1997, và khủng hoảng toàn cầu bắt đầu từ Hoa Kỳ 2008.

Nhìn vào biểu đồ trên của Business Insider ta thấy, giai đoạn đỉnh điểm Hoa Kỳ khủng hoảng 2008, nợ tư của các nhà đầu tư/đầu cơ Hoa Kỳ lên đến 170% GDP của nước Mỹ, và hiện tại, khối nợ tư này đã giảm, khoảng 150% GDP, nhưng lại có khuynh hướng nhích trở lại vào cuối năm 2013.

Đối với Trung Hoa, từ năm 2008 cho đến cuối năm 2013, nợ tư tăng từ 110% lên đến 200% GDP. Và với chính sách thắt chặt tiền tệ của ông Lý Khắc Cường trong hơn 6 tháng qua, nó bắt đầu có tác dụng, khi những công ty lớn của Trung Hoa bắt đầu tuyên bố mất khả năng thanh toán. Ví dụ như Chaori Solar chuyên sản xuất và cung cấp pin mặt trời trên toàn cầu và trong nước. Đó là chưa nói đến, nợ công của các chính phủ địa phương mất khả năng chi trả vì những đầu tư vào bất động sản để tạo ra hàng chục ngàn thành phố Ma.

Khủng hoảng kinh tế của nền kinh tế thị trường tự do tư bản có chu kỳ cứ 7 -8 năm diễn ra một lần. Lúc đó, quy luật bàn tay vô hình - cung cầu - tự điều chỉnh để nền kinh tế bước sang một thời kỳ mới, bằng những thay đổi chính sách của các nhà kỹ trị. Chứ không phải ý chíu của chính khách thò tay vào để nắn nó theo ý mình như kinh tế Xã hội chủ nghĩa, mà không theo quy luật cung cầu.

Song nền kinh tế Xã hội chủ nghĩa mang màu sắc Trung Hoa - hay nói cách khác là nên kinh tế định hướng Xã hội chủ nghĩa - là một nền kinh tế mà có bàn tay hữu hình của chính khách mó tay vào ngay từ đầu. Nên, nếu kinh tế thị trường tự do khủng hoảng vì khủng hoảng của cung quá cầu, do lòng tham và thái độ của các nhà đầu cơ/đầu tư làm ra, thì khủng hoảng kinh tế của nền kinh tế Xã hội chủ nghĩa là hậu quả của 2 vấn đề: tham nhũng và cung quá cầu.

Hay nói cách khác, khủng hoảng kinh tế của các nền kinh tế thị trường tự do tư bản có nguồn gốc từ thái độ và hành vi đầu tư/đầu cơ của các nhà đầu tư/đầu cơ trong nền tài chính. Ngược lại, khủng hoảng kinh tế của nền kinh tế Xã hội chủ nghĩa là do nền chính trị của nó tạo ra tham nhũng thúc đẩy các chính khách đầu tư/đầu cơ vô tội vạ để kiếm tiền mua quan bán chức kiếm ăn trên xương máu người dân, và môi trường tài nguyên của đất nước.

Năm 1987, khi các chính khách Hàn Quốc thấy được nền chính trị quân phiệt độc tài đã giúp Hàn Quốc tự lực, tự cường, nhưng không làm cho Hàn Quốc thoát được bẫy thu nhập trung bình với GDP đầu người ì ạch ở con số 5.000USD/năm. Họ đã mạnh dạn đổi hiến pháp, và từ đó đến nay, Hàn Quốc thẳng tiến suốt 27 năm đến nay GDP đầu người đạt con số 33.200USD/năm 2013. Trong đó, có năm 1997, Hàn Quốc đi vào chu kỳ khủng hoảng kinh tế, song dân Hàn Quốc sẵn sàng góp vàng, tiền để chính phủ vượt qua sóng gió chỉ 1 năm sau phục hồi. Thậm chí, khủng hoảng kinh tế toàn cầu 2008 từ Hoa Kỳ cũng không ảnh hưởng đến nền kinh tế Hàn Quốc trong 9 năm qua, mà còn biến Hàn Quốc thành 1 trong 20 nền kinh tế hùng mạnh nhất thế giới - G20 - trong khi dân số Hàn Quốc chỉ bằng 1/2, và diện tích chưa bằng 1/3 của Việt Nam! Chỉ riêng tập đoàn Sam Sung Hàn Quốc đã đóng góp 10% GDP cho Việt Nam năm 2012. Quả là thần kỳ.

Thế nhưng, cơ hội thay đổi hiến pháp của Việt Nam năm 2013 đã bỏ qua, trong khi nền chính trị Việt Nam là chiếc áo chật không đủ đảm đương nền kinh tế cỡi trói 28 năm qua. Cho nên, từ đầu năm đến giờ chỉ 3 tháng, mà tình hình hệ thống tài chính ngân hàng đã có nhiều dấu hiệu mất khả năng đảm đương nợ tư vì bong bóng bất động sản đang nổ vỡ.

Cũng vậy, với nợ tư trong nước của Trung Hoa lên đến 200% GDP, và nợ công gấp hơn nhiều lần so với nợ tư, mà không ai có thể biết được con số chính xác, chúng sẽ là cái bẫy kéo lùi nền kinh tế Trung Hoa mãi nằm trong thu nhập trung bình. Dù Trung Hoa có là nền kinh tế đứng thứ hai toàn cầu, nhưng Trung Hoa sẽ mãi là nước đang phát triển thuộc thế giới thứ 3, chứ không thể vào được những quốc gia đã phát triển, với hệ thống an sinh xã hội đầy đủ như Hàn Quốc, thì sẽ chưa và không có ngày mai để so sánh với các cường quốc phương Tây!

Hãy cứ nhìn những con số cụ thể, với diện tích gấp 96 lần - 9.596.961km2 so với 99.720km2; dân số gấp 27,6 lần Hàn Quốc - 1.355.692.576 người so với 49.039.986; nhưng GDP chỉ gấp 8 lần Hàn Quốc - 13.370 tỷ USD so với 1.666 tỷ USD. Và GDP bình quân đầu người của Hàn Quốc gấp 3,39 lần so với dân Trung Hoa - 33.200 so với 9.800USD/đầu người trong năm 2013. Hơn thế nữa, cùng là một nền khoa học kỹ thuật sao chép, mua bản quyền như Trung Hoa, nhưng tại sao Hàn Quốc lại có nền kinh tế mạnh đến như thế? Vì kinh tế là chính trị!

Trả lời hết tất cả những điều trên ta sẽ thấy Trung Hoa đang rơi vào cái bẫy thu nhập trung bình, nếu họ không có một nền chính trị lành mạnh. Và Trung Hoa mãi là một quốc gia đang phát triển, chứ không thể gia nhập vào các quốc gia đã phát triển có một nền kinh tế hùng mạnh, và an sinh xã hội tốt cho người dân.

Hay nói đơn giản dễ hiểu là tăng trưởng GDP của Trung Hoa trong 30 năm qua, chủ yếu là vay nợ ngân hàng để đầu cơ/đầu tư là chính. Một tỷ lệ tăng trưởng giả tạo để ra một "cường quốc kinh tế" giả tạo.

Asia Clinic, 16h35' ngày thứ Hai, 31/3/2014