nha ban quan tan binh | mua nha quan tan binh
Hiển thị các bài đăng có nhãn y học thường thức. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn y học thường thức. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 12 tháng 2, 2015

BỆNH NHÂN SUY GIẢM MIỄN DỊCH MẮC PHẢI GIAI ĐOẠN CUỐI NHƯ THẾ NÀO?

Ở bệnh nhân AIDS giai đoạn cuối cả môi, lưỡi, niêm mạc má và vòng họng lở lét không thể ăn uống hay có thể há được miệng vì quá đau do nhiễm trùng lở loét.

Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải - Acquired Immune Deficiency Syndrome - có thể do nhiễm HIV, nhưng nó cũng có thể do hóa trị liệu ung thư, đặc biệt, ung thư bạch cầu - Leukemia - gây ra. Dù là bị AIDS do HIV hay do thuốc thì bệnh cảnh cũng giống nhau. 

Bệnh cảnh giai đoạn cuối của Suy giảm miễn dịch không phải là một bệnh lý, mà là một hội chứng. Hội chứng là một nhóm nhiều triệu chứng khác nhau của một bệnh hay nhiều bệnh có thể của một hoặc nhiều nguyên nhân khác nhau.

Nhân chuyện ông Nguyễn Bá Thanh sắp ra đi - thời gian sống của ông chỉ còn tính bằng giờ, theo như hiểu biết và kinh nghiệm làm nghề y của tôi. Tôi muốn mô tả hình ảnh một bệnh nhân bị AIDS - Acquired Immune Deficiency Syndrome: Hội chứng Suy giảm Miễn dịch Mắc phải - do thuốc hoặc do HIV của những bệnh nhân ở giai đoạn cuối do hóa trị liệu đánh sụp tủy, và do tủy suy kiệt không thể tăng sinh các dòng tế bào máu gồm hồng cầu, bạch cầu và tiểu cầu. Hội chứng này có thể ngắn gọn như sau.

Hồng cầu chuyển oxy đến mô để tạo ra quá trình chuyển hóa các chất sinh ra năng lượng nuôi cơ thể trong quá trình chuyển hóa các chất. Khi hồng cầu giảm sụt thì mô thiếu oxy, các bạn hãy tưởng tượng một người chết đuối như thế nào thì người giảm hồng cầu đến cạn kiệt sẽ khổ như thế.

Bạch cầu mà giảm kiệt thì cơ thể không có sức đề kháng. Nhiễm trùng đa cơ quan từ mũi họng đến phổi, đến ống tiêu hóa, đến đường tiết niệu, etc đều nhiễm trùng. Áp xe cạnh hậu môn và rò hậu môn của ông Thanh là hậu quả này. Nhiễm trùng đường ruột tiêu chảy đến suy kiệt. Nhiễm trùng tiểu, tiểu toàn mủ, viêm họng và toàn bộ khoang miệng lở loét đầy mủ, không thể ăn uống được vì rất đau khi nuốt kể cả uống nước. Đi tiểu cũng đau vì mủ như người bị bệnh lậu. Đó là chưa kể có thể cả viêm phúc mạc - ổ bụng - do vi trùng thoát ra từ đường ruột vào khoang phúc mạc. Và kể cả viêm não màng não, etc... nhưng nếu dùng kháng sinh lâu dài sẽ dẫn đến kháng thuốc và loạn khuẩn đường tiêu hóa lại vào vòng luẩn quẩn.

Tiểu cầu cạn kiệt thì quá trình đông máu bị mất. Máu chảy trong huyết quản của chúng ta là một quá trình đầy tinh vì và khoa học của tạo hóa đã làm nên. Hai quá trình đông máu và chảy máu luôn cân bằng. Nếu đông máu tăng thì sẽ tắc mạch. Nếu quá trình tán huyết mà tăng cao thì sẽ chảy máu. Sốt xuất huyết là do giảm tiểu cầu gây xuất huyết các tạng mà tử vong, kể cả xuất huyết não. Bệnh nhân bị AIDS do thuốc và suy sụp tủy trong ung thư bạch cầu giai đoạn cuối cũng thế, nếu để tiểu cầu giảm mạnh sẽ chảy máu thất khứu như kiếm hiệp Kim Dung mô tả bị chưởng lực quá mạnh.

Nhưng đáng sợ nhất là, cái đau do nhiễm trùng ở bệnh nhân bị AIDS giai đoạn cuối. Tôi đã từng chứng kiến và nuôi những bệnh nhân này, thà chết nhanh còn hơn là để tồn tại thêm bất kỳ giờ phút nào.

Trong ngành y chúng tôi, ai chết đẹp là chết nhanh, chưa kịp biết mình chết, chứ không phải chết dần, chết mòn trong đau khổ cả phần xác lẫn phần hồn như những bệnh nhân bị AIDS giai đoạn cuối. Chết như AIDS giai đoạn cuối là cái chết đau khổ nhất của con người. Nó chỉ dành cho những kẻ bất nhân, thất đức.

Tư Gia, 21h34' ngày thứ Năm, 12/02/2015

Thứ Hai, 3 tháng 11, 2014

BỐN VẤN ĐỀ KHI TRẺ NHŨ NHI KHÓC

Các ông cha, bà mẹ trẻ thường thiếu kinh nghiệm về nuôi con, nên thường đưa trẻ đi khám khi bệnh đã nặng hoặc quá nặng có thể nguy hiểm đến tính mạng trẻ. Đó là mục đích có bài khoa học thường thức trong y học này, vì gần đây, có nhiều trẻ đến khám khi bệnh đã nặng, hoặc đã tự hồi phục.

Trẻ con còn nhũ nhi chưa biết nói, nhưng chúng biết khóc và quấy, bẳn hẳn, khó chịu. Khi chúng quấy khó hoặc khó chịu thì có 4 vấn đề đơn giản mà bậc phụ huynh phải kiểm tra khi chúng khó ở:

1. Chúng có buồn ngủ không?

2. Trẻ có đói bụng không?

3. Trẻ có đang mang cái tả mà trong đó bị chứa nước tiểu hoặc phân do chúng ị ra làm ngứa ngáy khó chịu không?

4. Và cuối cùng là trẻ đang bị bệnh.

Khi trẻ quấy khóc, khó ở, thì phụ huynh nên kiểm tra xem 3 vấn đề đầu xem có không? Nếu 3 vấn đề đầu không có, tức là trẻ đang bị bệnh, cần đưa trẻ đi khám bác sĩ.

Trẻ như cái máy mới, trọng lượng nhỏ, nước chiếm 80% trọng lượng cơ thể trẻ. Khi trẻ bệnh chỉ chậm một chút, việc sốt, tiêu chảy cũng đủ làm trẻ mất nước và suy kiệt nhanh chóng. Nhưng vì là cái máy mới đang chạy roda nên trẻ cũng rất dễ phục hồi, vì sức sống còn mãnh liệt, chứ không như cơ thể người già. Nên chẩn đoán đúng bệnh sớm, điều trị sớm thì trẻ sẽ phục hồi rất nhanh, và ngược lại.

Rất đơn giản, khóc là biểu hiện của trẻ nhũ nhi, vì chúng chưa biết nói để mô tả, than phiền với người lớn. Nên trẻ khóc thì cha mẹ phải tìm ra nguyên nhân của trẻ khóc mà giải quyết. Bốn nguyên nhân làm trẻ khóc giờ đã được lưu ý. Hy vọng thông tin ngắn này sẽ giúp các bậc cha mẹ không còn chậm trễ, và giải quyết vấn đề khi trẻ khóc.

Tóm lại, khi trẻ khóc mà chúng ta loại trừ 3 nguyên nhân trên, thì phải đưa trẻ đi khám bệnh, mà không nên tự làm bác sĩ. Vì bác sĩ học trần thân, nhưng không phải bác sĩ nào cũng có đủ năng lực thực sự của một bác sĩ thực sự, nên mình không học thì mình đừng tự làm bác sĩ, chỉ có hại mà thôi.

Asia Clinic, 17h56' ngày thứ Hai, 03/11/2014

Thứ Tư, 8 tháng 1, 2014

TẠI SAO CÓ NHỮNG BÀI BÁO TỰ BÔI Y HỌC NƯỚC NHÀ?


Hôm nay tôi đọc bài báo Hóa trị - Không có gì đáng sợ trên trang báo điện tử Vietnamnet, mà thấy buồn. Buồn vì nhà báo viết vì thương mại, mà viết một bài viết không hiểu biết về chuyên môn, lại tự đi bôi nhọ ngành Y nước mình. Buồn vì cơ chế chính trị đã làm ngành Y của Việt Nam thực chất là tốt hơn mọi quốc gia trong khu vực Đông Nam Á về mặt chuyên môn - theo hiểu biết của tôi, một người đã lăn lộn trong nghề bằng chuyên môn thực sự hơn 30 năm qua. Buồn vì sự hiểu biết của dân mình về chuyên môn Y khoa nước Việt không được đúng chỉ vì hệ thống truyền thông của đảng chỉ nhìn phần nhiều ở góc tối, mà không nhìn ở góc sáng, không nhìn ở cái gốc, mà chỉ nhìn ở cái ngọn của vấn đề.

Tất cả những nỗi buồn trên bắt đầu từ nguyên nhân cơ chế chính trị nước ta gây ra, mà hậu quả để lại rất nhiều hệ lụy. 

Hệ lụy thứ nhất và to lớn nhất làm nên tất cả các hệ lụy khác là do cơ chế chính trị làm ra. Cái sai lầm đầu tiên là phân tuyến điều trị tuyến trung ương, tuyến địa phương, tuyến cơ sở, và việc đầu tư về chuyên môn cũng như trang thiết bị y tế không đồng bộ. Cũng cơ chế chính trị quy định mức lương quy định cho ngành Y tế quá thấp, không đủ để nuôi sống ngay cả chính bản thân người thầy thuốc, không thể nói đến nuôi con cái và gia đình.

Hệ lụy thứ hai kéo theo từ hệ lụy thứ nhất làm ra là người bệnh không tin tưởng ở các tuyến địa phương và cơ sở, dẫn đến quá tải ở tuyến trung ương, mà tuyến cơ sở có nơi thì không có bệnh nhân.

Hệ lụy thứ ba kéo theo từ cái hệ lụy thứ nhất và thứ hai - quá tải bệnh viện và đồng lương rẻ mạt - trong khi làm việc như trâu cày, ngựa kéo là, tha hóa một số lớn các thầy thuốc ở các tuyến bệnh viện có điều kiện để kiếm ăn bằng phong bì của người bệnh, còn cơ quan hành chánh của ngành Y tế nước ta thì kiếm phong bì khi đi kiểm tra, cấp phép Y Dược

Hệ lụy thứ ba này còn góp chủ yếu làm đội giá thành của thuốc điều trị cho bệnh nhân khi xin visa nhập thuốc cũng phải có tình trạng lót tay, thầy thuốc thì lấy hoa hồng các công ty dược khi kê toa, mà dân trong ngành ai cũng biết, nhưng ai cũng vì chén cơm manh áo, nên không ai dám nói ra, không ai dám khiếu kiện. Nó trở thành luật bất thành văn. Rất có nhiều chuyện để nói về những bất cập do chính trị gây ra ở hệ lụy này. Ví dụ, trong khi cũng thì loại thuốc ấy, chất lượng ấy nhưng chỉ cấp visa có 1 năm, năm sau nhập nữa phải xin lại phép.

Hệ lụy thứ tư cũng do cơ chế chính trị quy định đảng lãnh đạo, nên hầu hết những thế hệ lãnh đạo ngành Y tế trong 68 năm qua của miền Bắc, và 38 năm qua ở miền Nam là những người hồng hơn chuyên. Chữ chuyên ở đây là quản lý bệnh viện như quản lý một xã hội. Môi trường bệnh viện là môi trường phục vụ cho con người ở tất cả các giai tầng trong xã hội. 

Thế giới có riêng một ngành đào tạo về quản lý bệnh viện, để đào tạo ra những người có nghề chuyên về quản lý bệnh viện, mà không phải bác sỹ là người quản lý. Trong khi ở ta, lấy bác sỹ chuyên môn đôn lên làm quản lý sau khi xét duyệt lý lịch tốt với đảng cầm quyền, và qua một vài khóa học cao cấp, trung cấp chính trị, sau đó bồi dưỡng về quản lý bệnh viện rất sơ sài, trong một cơ chế tạo điều kiện tha hóa mà ông thủ tướng vừa phát biểu trong thông điệp đầu năm 2014, là phải cải cách và hoàn thiện thể chế.

Hệ lụy thứ năm là, vì có chuyện cơ chế lỏng lẻo, nên thực phẩm chức năng cũng được gọi là thuốc được các đại diện bán hàng đa cấp móc nối với bác sỹ tha hóa kê toa tràn lan. Với cái gọi là nhà thuốc chất lượng cao theo chuẩn quốc tế cũng chỉ là một giải pháp tình huống, cuối cùng nó lại tạo điều kiện cho cán bộ tha hóa cấp phép khống hàng trăm nhà thuốc GPP ở Thành phố Hồ Chí Minh, mà báo chí nêu ra, cũng không ít các quan chức trong sạch vì đấu tranh với tham nhũng việc này mà phải thuyên chuyển công tác, dân trong ngành ai cũng rõ.

Nhưng dù có bị đội giá thuốc do các bất cập cơ chế chính trị gây ra, thì giá thuốc và giá điều trị của người bệnh Việt Nam hiện nay vẫn là rẻ hàng đầu thế giới. Vì tiền dịch vụ chăm sóc sức khỏe quá rẻ mạt, và đồng lương nhân viên y tế không xứng để chăm sóc bệnh cho con người, mà chỉ xứng để chăm sóc một con vật! Gần đây, báo chí lên tiếng tăng giá viện phí là quá sức với người bệnh Việt Nam là đúng, nhưng chỉ đúng một nửa. Vì câu chuyện có 100 con gà, nhưng 1% người Việt ăn 99%, còn 99% người còn lại chỉ ăn 1 con. Tầng lớp 1% vẫn dư tiền đi Singapore hay Thái Lan để đốt tiền ngu hơn là tiền khôn. Vì với số tiền đó, ở Việt Nam đâu thiếu nơi điều trị tốt hơn và dịch vụ không thua Singapore?. Đây là sự mất cân bằng thu nhập cá nhân, khoảng cách giàu nghèo gia tăng, bất công ngày càng quá lớn do cơ chế chính trị gây ra, không phải lỗi của ngành y tế.

Tất cả những cái hệ lụy trên làm mất uy tín ngành Y Việt Nam cũng từ cơ chế chính trị không có đối lập, kiểm tra, giám sát. Từ đó dân cứ nghĩ y khoa Việt Nam tệ hại hơn khu vực. Nhưng là một người làm trong ngành y bằng chuyên môn thực sự mà, không vì kinh doanh hay vì phong bì từ khi còn làm trong nhà nước, đến cách đây 12 năm ra làm tư nhân, tôi xin khẳng định y khoa Việt Nam về chuyên môn hơn các nước trong khu vực. Mọi cái xấu không phải do chuyên môn, mà do chính trị gây ra. Đơn cử về phẫu thuật nội soi ổ bụng, thì Pháp làm đầu tiên năm 1987 do bác sỹ Philipe Mouret ở Lyon cắt túi mật qua nội soi ổ bụng, Hoa Kỳ thực hiện đầu tiên năm 1989, thì tại Việt Nam ngày 23/9/1992 đã thành công cho bệnh nhân đầu tiên do PGS TS Nguyễn Tấn Cường thực hiện tại khoa Ngoại Tổng Quát Bệnh Viện Chợ Rẫy, từ kỹ thuật mang về của  Hoa Kỳ.

Từ điều trên đây cho thấy y học Việt Nam luôn cập nhật kịp thời, nhưng cơ chế chính trị đã kiềm hãm cho nghiên cứu y học nước nhà không thể tiến nhanh, vì người nghiên cứu còng lưng ra nghiên cứu, báo cáo chỉ để được cái danh hảo, còn tiền nghiên cứu rót từ trung ương xuống cơ sở nó biến đi đâu, mà hầu như không hoặc một phần rất nhỏ đến tay người thực sự nghiên cứu, số tiền này không đủ để mua cà phê uống thức đêm làm số liệu, chưa nói đến chuyện có sống để mà nghiên cứu. Việc này, tôi, người viết bài này đã từng "hưởng" cái "ân huệ" này trong nhiều năm. Cuối cùng, có còn ai tha thiết đến nghiên cứu và làm việc. Nên phải bỏ ra khỏi nhà nước mà tự kiếm sống cho riêng mình. Vì suy cho cùng, xã hội muốn tốt, thì từng thành viên trong xã hội phải là người tốt. Lấy đâu có người tốt, khi cái ăn không lo đủ?

Cuối cùng là, dù làm y khoa ở đâu cũng vậy, bệnh nhân là thầy của thầy thuốc, không có bệnh nhân làm sao thầy thuốc giỏi được, ngoại trừ mớ lý thuyết suông? Làm sao Singapore có chuyên môn tốt hơn Việt Nam về y khoa được khi họ không có bệnh nhân? Các quốc gia trong khu vực hơn y tế Việt Nam ở dịch vụ chăm sóc sức khỏe chứ không bằng về chuyên môn được. Họ hơn dịch vụ chăm sóc sức khỏe vì họ ít bệnh, họ không quá tải, lương họ cao dư sống để chuyên tâm cho hành nghề và nghiên cứu. Báo chí nếu có viết thì cũng nên hiểu biết, và đừng quá vì thương mại mà tự bôi nhọ và xổ toẹt những gì mọi cố gắng của dân và các người làm nghề y nước Việt như bài báo mà tôi đọc trên đây.

Kết thúc bài viết này, tôi xin kết thúc một điều chủ yếu là, không chỉ có ngành Y Việt Nam bị chê bai, dè bỉu là xấu, mất lòng tin người dân, mà hầu hết tất cả các ngành từ kinh tế, đến văn hóa, giáo dục, v.v... đều nhục như khi cán bộ đi công cán nước ngoài bị khinh rẻ mà ông thủ tướng đã nói vừa qua, có một nguyên nhân cốt lõi là nền chính trị độc quyền cai trị, không có đối lập thực sự để sửa sai trước khi các nghị quyết, nghị định, công văn, thông tư, thông cáo được phát ra.

Những hệ lụy ngành y mà tôi viết trên đây cũng chỉ là nhắc lại một phần rất nhỏ của 7 bài viết: Ngành Y Việt Nam cần thay đổi gì?, mà tôi đã viết 4 năm trước, vì một mong muốn cho y học nước nhà có thể tự hào với thế giới. Nhưng nó chưa được quan tâm đúng với cái nó cần có, chỉ vì chế độ chính trị Việt Nam đã tạo ra những cái rễ tư hữu và quyền lực đi đôi với lợi ích cá nhân những người có quyền quyết định tốt cho nước nhà. Giờ để mọi cái tốt trở lại, cần phải có một cuộc siêu phẫu bằng chính trị chứ không phải chỉ là đại phẫu, và cần phải mất ít nhất 30 năm, nếu thực tâm chuyển đổi. Nếu nửa vời như 28 năm qua, e rằng mất nước và có thể đi đến diệt vong.

Đừng chê bai đạo đức và chuyên môn của ngành y Việt Nam, vì nếu muốn biết đạo đức và chuyên môn ngành y Việt Nam tốt hay xấu, thì hãy cho các bác sỹ và nhân viên y tế các quốc gia đến làm việc ở các bệnh viện quá tải của Việt Nam, với điều kiện "ưu đãi" của chế độ chính sách do chính trị Việt Nam tạo ra hiện nay chỉ cần 6 tháng, thì đạo đức và chuyên của họ có còn không?

Asia Clinic, 13h39' ngày thứ Năm, 09/01/2014

Thứ Hai, 23 tháng 12, 2013

NƯỚC MẮM BAO NHIÊU PHẦN TRĂM ĐỘ ĐẠM LÀ NƯỚC MẮM THẬT?

Bài đọc liên quan: Muối iode cần cho ai, vùng miền nào ở Việt Nam?

Tình hình các công ty sản xuất nước mắm chạy theo lợi nhuận đang đầu độc dân Việt, vì cái văn hóa ăn nước mắm mà dân không hay biết. Hôm nay tình cờ đọc bài: Sự thật về nước mắm: Nước mắm công nghiệp đánh bại nước mắm cá cơm. Nên tôi phải viết một bài đứng trên cơ sở khoa học để giải thích đâu là nước mắm thật, đâu là nước mắm giả với hóa chất, và có khi được pha với phân u rê!

Bất kỳ ai đã từng học chương trình hóa học phổ thông đều có học hóa hữu cơ. Trong chương trình hóa hữu cơ có phần học acide amine - amino acide - còn gọi là thành phần chính để tạo ra protein, protide hay dân mình thường gọi là đạm. Các loại acide hữu cơ có chung một gốc COOH - 1 nguyên tử carbon, 2 nguyên tử Oxy và 1 nguyên tử Hydro. Nhưng gốc chính để nhận biết các acide hữu cơ khác với amino acide là ở gốc NHn. Gốc NHn gồm có 1 nguyên tử Ni tơ và n nguyên tử Hydro gắn nhau với liên kết đơn, với n có thể bằng 0, 1 hoặc 2. Nó là gốc mà dân trong ngành gọi là gốc Ni tơ, hay còn gọi là gốc đạm. Tùy theo loại amino acide mà có thể có một hay nhiều gốc NHn. Ví dụ Arginine có 4 gốc NHn, trong đó có 3 gốc NH2 và 1 gốc NH; Histidine thì có 3 gốc NHn, trong đó có 1 gốc NH2, 1 gốc NH và 1 gốc N.(Xem hình mình họa ở dưới)

Cũng giống như con người, cơ thể cá 70% trọng lượng là nước, 30% còn lại là protid, lipid, muối khoáng ở dạng vi lượng(điện giải), và sinh tố. Cho nên nước mắm là nước chấm truyền thống của người Việt giàu chất dinh dưỡng nhất, kể cả iode, mà không phải quốc gia nào cũng có được.

Con cá nói riêng, hải sản nói chung rất ít mỡ, vì nó bơi hoài ngay cả trong lúc ngủ. Khác với loài động vật trên cạn ngủ thì nằm yên, nên nồng độ mỡ nhiều hơn hải sản. Vì thế cho nên những ai bị bệnh Goute, bác sỹ thường khuyên giảm ăn hải sản. Do Goute là bệnh từ nguyên nhân ứ đọng acide Uric trong máu quá ngưỡng cho phép, do nhiều nguyên nhân khác nhau, mà acide uric lại là sản phẩn chuyển hóa từ đạm, hay nói cách khác từ amino acide.

Cá càng mập, hay nhiều thịt thì nồng độ đạm cũng chỉ cao nhất theo tỷ lệ phần trăm đã được phân bố 1 cách khoa học cho cơ thể là, không thể bằng 30% trọng lượng cơ thể con cá. Khi làm nước mắm còn cho muối vào, nên nồng độ đạm phải giảm xuống còn dưới 30% của tổng trọng lượng 100ml nước mắm. Nên nước mắm thật làm từ cá nếu bị phơi nắng, cô đặc thì cao lắm là trong 100ml nước mắm chỉ có thể có 30gram protein, thì gọi là nước mắm 30 độ đạm. Không thể có nước mắm mà nồng độ đạm hay nồng độ Ni tơ lên đến hơn 30%.

Để cụ thể hóa cho dễ hiểu, ta hãy cứ cho tất cả 30% trọng lượng còn lại là Protid trong cá + muối sẽ bằng trọng lượng lúc vào mắm. Theo công thức lắm mắm truyền thống là, 1 muối 3 cá thì lúc đó trọng lượng của protid chỉ còn dưới 25%, mà trong muối có nước và Nacl và các yếu tố vi lượng khác.

Ví dụ, 1kg cá + 300gr muối, và cứ cho 30% còn lại tất cả là protid, mà không có lipid và sinh tố, điện giải, thì tỷ lệ protid sẽ là: 300gr/1.300gr thì = 23% độ đạm. Nếu cô đặc do bốc hơi còn 1200gr thì lúc đó nồng độ protid cũng bằng 300/1200 = 25% độ đạm. Chỉ khi nào cô đặc chỉ còn 1000gr thì nồng độ đạm mới được 30%. Nhưng như thế thì nước mắm quá mặn, nước mắm không thể ngon được.

Thời buổi công nghiệp, người ta sợ ăn mỡ vì thiếu hiểu biết của cả thầy thuốc cũng như bệnh nhân, nên nghe nói nước mắm có nồng độ Ni tơ hay nồng độ đạm cao là mê tít mắt. Lợi dụng yếu tố này, một số công ty mỵ dân là để thêm cái con số 40%, thậm chí 50%, có chỗ lên đến 80% độ đạm!

Có hai lý do mà nước mắm có nồng độ đạm cao như quảng cáo ở trên:

Thứ nhất là quảng cáo láo, nhưng nước mắm được làm thật chỉ có nồng độ đạm chỉ 10 hoặc 20% mà thôi. Nhưng dù sao cũng là nước mắm thật, không độc hại.

Thứ hai là, nước mắm có đúng nồng độ đạm cao như quảng cáo hoặc thấp hơn một chút, nhưng chỉ toàn là nước muối, phẩm màu và phân U rê - Urea - hoặc là men hóa học, hóa chất có nguyên tố Ni tơ pha vào để khi đo nồng độ đạm sẽ cao. Vì ai cũng biết, phân tử U rê có gốc amonia - NH3. Cũng là ni tơ, cũng là đạm, nhưng đạm ở đây là hóa chất tổng hợp trong công nghiệp.

Việc sử dụng hóa chất công nghiệp có gốc Ni tơ làm nước mắm có tác hại cho cơ thể con người như thế nào, thì tùy theo hóa chất được pha. Nhưng chắc chắn là không thể vô hại như nước mắm thật truyền thống làm từ sinh vật là cá, muối và ủ từ 4 đến 6 tháng dưới trời nắng như ngư dân Việt vẫn làm từ bao đời nay.

Có nhiều cách phân biệt nước mắm thật và giả. Trong đó, nước mắm thật mùi thơm đặc trưng, và độ châm chích đầu lưỡi khi ăn nước mắm, do đạm của cá đã được phân hủy thành các amino acide mà có thể làm cho những người có cơ địa dị ứng, có thể bị dị ứng sưng cả môi của mình. Còn nước mắm hóa học pha chế thì không bao giờ có được 2 điều này.

Đừng nên chết vì thiếu hiểu biết, chỉ vì nghe lời quảng cáo xằng bậy của các công ty hám lợi, mất nhân tính. Chúc mọi người ăn lễ giáng sinh vui vẻ, và đừng quên khi làm bữa tiệc giáng sinh có nước mắm thật.

Asia Clinic, 18h44' ngày thứ Hai, 23/12/2013

Thứ Tư, 11 tháng 12, 2013

SỰ MONG MANH VÀ TƯƠNG ĐỐI GIỮA SINH VÀ TỬ

Bài đọc liên quan:

Sự sống và cái chết là một tiến trình tương đối diễn ra ở bất kỳ sinh vật - vật thể sống - trên hành tinh xanh của chúng ta, khi xét về mặt sinh học phân tử đúng nghĩa. Nó có nghĩa là, khi sự sống hình thành ở một cá thể nào đó cũng là lúc cái chết bắt đầu diễn ra. 

Hôm qua, có bạn nữ trẻ gửi tin riêng hỏi với tôi rằng: "Bác ơi, con biết bác là bác sỹ, nên con nhờ bác giúp con một việc rất quan trọng đối vối con là: Hiến máu có tốt không bác? Vì con đã hiến máu 14 lần. Bạn trai của con không cho con hiến máu nữa. Vì bạn ấy bảo: nếu hiến máu là tốt thì các bác sỹ đã thi nhau hiến máu rồi, chứ tại sao họ lại không hiến máu mà phải kêu gọi người khác hiến máu?"

Tôi rất cảm ơn bạn trẻ đã có câu hỏi rất tốt cho cộng đồng. Tôi xin trả lời như sau:

1. Ở người trưởng thành, máu là do tủy xương - là chủ yếu - và một số cơ quan khác sinh ra để giúp cho sự sống của cơ thể. Đời sống trung bình của các tế bào máu - hồng cầu, bạch cầu, tiểu cầu - từ 80 đến 120 ngày, và chúng sẽ chết đi vì già nua.

2. Hiến máu là một việc làm tốt cho cộng đồng mà không có hại cho sức khỏe của người không có bệnh tật và khỏe mạnh, thậm chí còn có tác dụng tốt cho tủy xương tăng cường sinh sản ra máu mới. Vì theo (1): đời sống trung bình của các tế bào máu - hồng cầu, bạch cầu, tiểu cầu - có tuổi thọ trung bình 80 đến 120 ngày. Nếu ta không hiến máu thì các tế bào ấy cũng sẽ già nua và chết đi. Sau hiến máu quá trình đồng hóa sẽ được thúc đẩy mạnh hơn quá trình dị hóa. Có nghĩa là quá trình sống diễn ra mạnh hơn quá trình chết.

3. Trong cấp cứu, bác sỹ chúng tôi vẫn phải thường hiến máu cho bệnh nhân khi gặp trường hợp thiếu máu, mà cần phải có máu đúng nhóm máu để phẫu thuật cứu bệnh nhân. Không phải là bác sỹ không bao giờ hiến máu, mà là bác sỹ có hiến máu để cứu bệnh nhân thì cũng không ai muốn nói ra cho cộng đồng để kể công làm gì.

Thông qua vấn đề trên chúng ta thấy rằng, bất kỳ một thành phần sống nào của cơ thể từ đơn vị tế bào, dưới tế bào, và cả cơ thể sống của chúng ta cũng có tiến trình sinh và tử diễn ra. Vì mỗi ngày có hàng trăm ngàn đến hàng triệu tế bào chết đi và hàng triệu tế bào mới sinh ra.

Đứng về sinh học phân tử thì, tiến trình sống của con người chỉ có một tiến trình tuyệt đối ở giai đoạn đầu quá trình nhân đôi của tế bào gốc - chỉ có tiến trình sống mà không có tiến trình chết diễn ra - trong cái tương đối là, khi 1 tế bào gốc gồm một nửa của cha là trinh trùng kết hợp với một nửa của mẹ cho là trứng, để phát triển thành những tế bào gốc ban đầu trước khi biệt hóa thành những tế bào chuyên biệt cho từng cơ quan, bộ phận của phôi như, lông tóc móng tim gan phèo phổi, v.v... Sau đó, quá trình biệt hóa diễn ra để hình thành một cái phôi có đầy đủ cơ quan, bộ phận của một cơ thể sống thì quá trình chết cũng đã bắt đầu diễn ra ngay lúc phôi - trong 3 tháng đầu của chu kỳ thai - và sau đó là thai ngay từ lúc còn nằm trong buồng tử cung của người Mẹ.

Thế nhưng tại sao ta vẫn sống và ta sẽ chết trong tương lai? Đây là câu hỏi rất đơn giản có từ khi loài người có mặt trên trái đất, nhưng cũng là câu hỏi hóc búa nhất, mà y học đã, sẽ và đang tìm câu trả lời ở góc độ y sinh học phân tử. Đã có nhiều giải Nobel y học được trao tặng cũng chỉ giải mã dần từng khía cạnh nhỏ của câu hỏi này ở những phát minh sinh lý, sinh hóa, sinh học phân tử dưới mức vi mô của tế bào. 

Trước khi đi vào vấn đề sinh và tử ở mặt vi mô và đại thể chúng ta cũng cần hiểu thêm khái niệm của một môn khoa học sinh học phân tử mới ra đời trong vài thập niên gần đây là Biểu Sinh - Epigenetics - có liên quan nhiều đến sự sống và cái chết của muôn loài. Từ Epigenetics là từ Hy Lạp. Nó được ghép từ tiếp đầu ngữ epi- (tiếng Hy Lạp : επί giao , bên ngoài, xung quanh) và từ genetics mà thành. Biểu Sinh là nghiên cứu về những thay đổi di truyền trong hoạt động gene mà không bị gây ra bởi những thay đổi trong chuỗi DNA, nó cũng có thể được sử dụng để mô tả việc nghiên cứu sự thay đổi dài hạn có tính ổn định - như sự lão hóa - trong tiềm năng phiên mã của tế bào mà không phải là nhất thiết phải di truyền. Không giống như di truyền đơn giản dựa trên những thay đổi trong chuỗi DNA (kiểu gen), những thay đổi trong biểu hiện gen hoặc kiểu hình tế bào của biểu sinh có nguyên nhân khác. Nói nôm na, Epigenetics là ngành chuyên nghiên cứu về những biểu hiện bên ngoài của sinh vật sống thông qua sự thay đổi hay không của bộ gene bên trong tế bào do quá trình đột biến, sao chép, di truyền.

Song đến hôm nay y học thế giới đều công nhận những kết luận tổng quát sau đây:

1. Dưới góc độ nghiên cứu chuyên ngành Epigenetics thì cái chết sẽ diễn ra do quá trình lão hóa bắt buộc phải diễn ra ở mức độ gene trong bộ nhiễm sắc thể của tế bào. Ở bộ gene trong bộ nhiễm sắc thể của mỗi loại tế bào chuyên biệt đều mang một đoạn gene mã hóa cho sự trẻ hóa. Trong quá trình sao chép và nhân đôi tế bào, cứ mỗi lần như thế đoạn gene mã hóa cho sự trẻ hóa này mất đi một hay vài amino acide. Sự mất các amino acide này là nguyên nhân cho sự trẻ hóa của tế bào giảm dần. Và tiến trình lão hóa ở mức độ tế bào diễn ra. Cuối cùng là, quá trình lão hóa của bất kỳ sinh vật sống nào cũng phải đi đến, mà cho đến nay chưa có bất kỳ loại thuốc nào có thể làm được sự sao chép ở mức độ phân tử mà không có sự mất đi các amino acide này.

2. Trên cơ sở đó của (1), ở mức độ đại thể sự lão hóa được giải thích ở mức độ sinh học phân tử là cơ thể sinh vật sống lão hóa và chết đi là do mất những amino acide của gene quy định cho sự trẻ hóa. Nhưng ở mức độ tế bào học vi mô thì tại sao mỗi tế bào lão hóa và chết đi trong quá trình sống của chúng ta và mọi loài vẫn chưa có câu trả lời chính xác. Vì sao màng tế bào giòn, tăng tính thấm và dễ vỡ khi tế bào già đi? Vì sao ADN của tế bào tan rã khi tế bào già đi? Vì sao tương bào không còn đủ chất để cho tế bào sống tiếp tục khi tế bào già đi? v.v... và v.v... thì vẫn còn bỏ ngõ.

3. Ở mức độ vì thể để nhìn đại thể, người ta thấy rằng tiến trình sống của con người bình thường không có khuyết tật - ở đây không nói đến các loài sinh vật khác - mạnh hơn tiến trình chết từ khi thụ thai cho đến tuổi 35. Khi tiến trình chết diễn ra mạnh hơn tiến trình sống là cơ thể đang bị dị hóa mạnh hơn đồng hóa - phá hủy nhiều hơn xây dựng. Sau tuổi 35 tiến trình chết sẽ diễn ra mạnh hơn tiến trình sống, và sự lão hóa thực sự diễn ra ở thời điểm này. Cho nên mọi năng lực hoạt động tốt nhất, nhiều tiềm năng vô tận nhất của con người cho phát minh, phát kiến là ở lứa tuổi từ khoảng 18 đến 35. Sau lứa tuổi 35 là kết tinh của kinh nghiệm, sáng tạo và sự cần mẫn.

4. Trên cơ sở của (3), ở mức độ sinh học phân tử và mức độ đại thể sự lão hóa diễn ra rõ ràng hơn. Ví dụ như, quá trình sinh xương sẽ giảm hơn quá trình hủy xương. Ngày dưới tuổi 35 chúng ta có thể chạy nhảy, chơi thể thao nặng như đá banh, tennis, cầu lông, v.v... bằng chân đất mà không cảm thấy đau khớp cổ chân, không thấy ê gót chân, v.v... Nhưng sau tuổi 35 nếu chúng ta chỉ cẩn chạy nhẹ thể dục buổi sáng mà không có đôi dép hay đôi giày có độ đàn hồi tốt, thì đau khớp và ê gót chân là chuyện bình thường.

Cái mong manh của tiến trình sinh và tử, và cái sự tương đối của sống và chết luôn diễn ra trong mỗi chúng ta luôn khách quan và khoa học. Sống và chết chỉ cách nhau một lằn ranh giới mỏng hơn bề dày của một trang giấy pelure. Vấn đề của mỗi chúng ta là, sống cho đáng sống ở đẳng cấp của loài động vật mà mỗi chúng ta vẫn tự hào. Đó là, danh dự, liêm sĩ, nhân cách, v.v... để hoàn thiện cho riêng mình trước lúc ra đi. Vì suy cho cùng, sinh ra đời là để tự hoàn thiện cho chính mình. Mỗi người có một nhiệm vụ được trao, nhưng nhiệm vụ ấy, trong mỗi chúng ta không ai biết được, mà cứ mãi kiếm tìm trong cõi vô thức cho đến ngày gần kề cái chết vẫn có kẻ không hiểu mình sinh ra đời để làm gì, vẫn điên cuồng vùng vẫy như Gaddafi, Mao Trạch Đông, Hitler, v.v...

Asia Clinic, 10h32' ngày thứ Năm, 12/12/2013

Thứ Hai, 18 tháng 11, 2013

MUỐI IODE CẦN CHO AI, VÙNG MIỀN NÀO Ở VIỆT NAM?

Bài đọc liên quan:
+ Quá trọng 1
+ Quá trọng 2
+ Cần hiểu đúng thực phẩm chức năng

Đến hôm nay thì người dân Việt Nam từ người hiểu biết đến người ít hiểu biết đều hiểu rằng Iode là một chất hữu ích của cơ thể. Nhưng hiếm ai, ngoài ngành y khoa, hiểu về tác dụng không tốt của nó. Vấn đề hữu ích, tôi không cần nhắc qua ở bài viết này. Ở đây, tôi chỉ nói đến tai hại của muối Iode đối với cộng đồng người Việt trong nước sau 18 năm Chương trình phòng chống các rối loạn do thiếu Iode Quốc gia thực hiện từ 1995 cho đến nay.

Hiện nay, mỗi ngày tôi phải mất ít nhất 150 phút để trả lời và diễn giải cho người dân đến khám bệnh vì một số rối loạn do thừa Iode, từ chương trình rất "thiếu khoa học" này. 

Có bệnh nhân đến chỉ vì run tay. Có bệnh nhân đến chỉ vì đánh trống ngực. Có bệnh nhân đến vì mất ngủ. Có bệnh nhân đến vì cảm giác vướn ở cổ. Có bệnh nhân đến vì mệt. Có người còn than rằng, bác sỹ ơi sao người em mấy tháng nay nó như có lửa đốt, nhìn chồng muốn chửi chồng, nhìn con muối đánh cho con cái bạt tai. Rất nhiều lý do người bệnh đến vì ăn muối Iode. Họ đã phải đi khám và điều trị từ bác sỹ thần kinh, đến bác sỹ ung bướu, và cả bác sỹ tim mạch nổi danh, đi nhiều bệnh viện lớn bé, nổi danh đình đám. Nhưng tất cả họ đều có những xét nghiệm cận lâm sàng hầu như bình thường, tốn kém rất nhiều tiền cho bác sỹ và các phòng xét nghiệm. Họ lo lắng buồn phiền cũng chỉ vì thừa Iode mà các bác sỹ chuyên khoa sâu không hề nghĩ ra, mặc dù nó chỉ cần một lời khuyên ngắn gọn: "Ngưng ngay ăn muối Iode. Vì ông/bà không cần dùng muối Iode!".

Theo tổ chức Y tế thế giới (WHO), hàng ngày trẻ em dưới 6 tuổi cần 90 mcg i-ốt; trẻ 6 – 12 tuổi cần 120 mcg i-ốt; trẻ em dạy thì và người trưởng thành cần 150 mcg i-ốt; phụ nữ mang thai, nuôi con bằng sữa mẹ cần 250 mcg i-ốt (cho cả mẹ và bào thai hoặc con).

Cũng theo WHO, lượng i-ốt bài xuất qua nước tiểu ở trẻ em tuổi học đường dưới 100 mcg trong 1 lít nước tiểu là thiếu i-ốt, dưới 50 mcg trong 1 lít nước tiểu là thiếu mức độ trung bình, và dưới 20 mcg trong 1 lít nước tiểu là thiếu nặng (ở phụ nữ có thai nếu i-ốt bài xuất qua nước tiểu dưới 150 mcg trong 1 lít nước tiểu là thiếu i-ốt).

Cũng theo WHO, thu nhận i-ốt hàng ngày cao nhất mà cơ thể dung nạp được là 1000 mcg và mức thu nhận i-ốt ở người trưởng thành hàng ngày không nên vượt quá 500 mcg. Lượng i-ốt bài xuất qua nước tiểu ở trẻ em trên 200 mcg trong 1 lít nước tiểu phản ảnh thu nhận i-ốt cao hơn nhu cầu, và trên 300 mcg trong 1 lít nước tiểu là thừa i-ốt.

Thiếu i-ốt trong các giai đoạn khác của cuộc sống gây thiểu năng giáp, giảm khả năng hoạt động tinh thần, bướu cổ… Thừa i-ốt, đặc biệt thừa i-ốt ở những cá thể đã có các rối loạn về chức năng tuyến giáp trước đó có thể gây bướu cổ, thiểu năng giáp, thậm chí cường giáp…

Trong thực tế, người ta đã phát hiện thừa i-ốt gây ra khoảng 10% bướu cổ ở những người dân sống tại quần đảo Hokkaido (Nhật Bản), nơi có thu nhận i-ốt hàng ngày lên đến 2000 mcg (chủ yếu i-ốt được cung cấp từ các thực phẩm chế biến từ rong biển).

Đất nước Việt Nam dài và hẹp từ Ải Nam Quan đến Mũi Cà Mau, lưng tựa Trường Sơn, đầu đội Hoàng Liên Sơn, mặt nhìn ra biển Đông dài hơn 3400km. Câu này bất kỳ một học sinh tiểu học nào cũng rõ. Đó là một điều kiện vô cùng thuận lợi được thiên nhiên ưu đãi. Một trong những ưu đãi đó là, hầu hết các vùng miền trên cả nước không thiếu hải sản, thủy sản, thực phẩm chứa hàm lượng Iode cao. Ngoại trừ cao nguyên, vùng sâu núi cao Iode bị nước lũ, mưa xói mòn vì hậu quả nhân tai xả lũ thủy điện gây ra ở miền Trung mấy hôm nay cả nước chứng kiến và đau lòng, không tả xiết.

Hay nói cách đơn giản là, tất cả những địa phương tiếp giáp biển không cần ăn muối Iode. Và cứ mỗi tháng mỗi người trưởng thành trung bình chỉ cần ăn 10kg thủy hải sản nước mặn và rong biển cùng với thức ăn thường ngày thì không cần phải dùng muối Iode. Nhưng từ năm 1995 đến nay, nhà nhà, người người ăn muối Iode. Và hậu quả là, có những người mắc Hội chứng thừa Iode chỉ vì nhân tai. Vì mỗi người, nhu cầu mỗi ngày chỉ cần từ khoảng 150microgam đến 1.000microgam(1mg) Iode tùy theo hoàn cảnh và lứa tuổi. Nhiều nhất là cho phụ nữ mang thai và tuổi bắt đầu dậy thì đến trưởng thành mỗi ngày chỉ cần 1mg Iode!

Biểu đồ tỷ lệ hộ gia đình ở TPHCM dùng muối Iode từ năm 1999 đến năm 2012 theo thống kê của Trung Tâm Dinh Dưỡng Thành phố Hồ Chí Minh

Ở Việt Nam, chỉ nên dùng thêm muối Iode ở cao nguyên trung phần và vùng núi cao phía Bắc và Tây Bắc. Những nơi mà cả đời người dân không được sống với biển. Nhưng dù không sống với biển, mà họ sống gần sông hồ nước mặn, hoặc họ thường xuyên ăn hải sản biển thì cũng không cần ăn muối Iode.

Người ta thấy rằng một số hải sản, thực phẩm sau đây có hàm lượng Iode cao trong 100gam hải sản thực phẩm:

1. Tảo bẹ: 1mg

2. Tảo tía (khô): 1800 μg

3. Rau chân vịt: 164μg

4. Rau cần: 160μg

5. Cá biển: 80μg

6. Muối biển: 2μg

7. Sơn dược: 14μg

8. Muối ăn có iốt: 7600μg

9. Cải thảo: 9.8μg

10. Trứng gà: 9.7μg

Nhưng không có nghĩa là mọi thực phẩm là không có Iode, mà bất kỳ thực phẩm nào cũng có Iode, chỉ khác nhau ở hàm lượng ít nhiều. Nên khi dùng muối Iode không nên dùng thường quy, mà phải biết dùng xen kẻ với muối ăn thường khi thực phẩm hằng ngày có hàm lượng cao hay thấp Iode.

Như vậy, nếu dân mình hiểu biết được những kiến thức thông thường này thì sẽ biết là có nên dùng muối Iode hay không, khi nào và ở nơi nào trên đất nước Việt. Và nếu lạm dụng muối Iode thì sẽ gây ra Hội chứng thừa Iode, vì hàm lượng Iode trong muối Iode nhân tai là cao nhất trong mọi thực phẩm có trên quả đất này.

Và một đất nước mà hơn 80% diện tích đều tiếp giáp với biển thì có cần phải có một sự hiểu biết có tính thường thức về sử dụng muối Iode một cách đơn giản, dễ hiểu và đầy đủ để không bị tai hại của tình trạng thừa Iode do phong trào phát động ăn muối Iode của Quốc Gia.

Asia Clinic, 9h58' ngày thứ Ba, 19/11/2013

Thứ Hai, 12 tháng 11, 2012

HAI CHỨNG TRẺ THƯỜNG MẮC DO CHA MẸ VÀ THẦY THUỐC THIẾU HIỂU BIẾT

Chủ đề liên quan:

Có nhiều phụ huynh mang trẻ đến chỗ của tôi khám bệnh thì ít, mà tôi phải tư vấn tâm lý thì nhiều. Hiện nay có một số trường hợp trẻ mắc chứng tâm lý mà các bậc cha mẹ ngày nay chữ nghĩa thì đầy mình, bằng cấp thì chất đầy nóc tủ, nhưng lại không biết nuôi dạy con chỉ bằng cha mẹ của họ ngày xưa nuôi dạy học, dù cha mẹ họ chỉ là nông dân!

Các bác sĩ dinh dưỡng thì chỉ lý thuyết suông, tư vấn cho cha mẹ thế lọ, thế chai, nào thì mà là rằng tháp dinh dưỡng phải có này, có nọ, nào mua thuốc này về uống sẽ kích thích trẻ ăn uống vân vân và vân vân, nhưng trẻ vẫn cứ lười ăn.

Các nhà tâm lý học thì hướng dẫn cha mẹ nào là phải cho trẻ hướng vào cộng đồng tập thể bằng trò chơi sinh hoạt cộng đồng, nào là phải như thế này, như thế nọ , cuối cùng trẻ vẫn cứ tự kỷ mà không ra được những ức chế tâm lý trầm cảm và co vào vỏ sò riêng tư của mình hoặc phản ứng lại bằng cách nổi loạn.

Chính vì thế, hôm nay tớ xin viết những nguyên tắc cơ bản của 2 chứng mà trẻ hiện đại ngày nay thường mắc nhất, nguyên nhân là do cha mẹ học nhiều, nhưng hiểu biết chả bao nhiêu. Ngoài ra do thầy thuốc và nhà tâm lý học cũng chỉ có lý thuyết suông mà chưa một ngày nuôi dạy trẻ đúng như nông dân nuôi dạy trẻ.

TRẺ BIẾNG ĂN

Trẻ ngày nay biếng ăn hơn 90% là nguyên nhân biếng ăn do tâm lý vì những lý do sau đây:

1. Cha mẹ bắt trẻ ăn những gì mà cha mẹ muốn theo lý thuyết của các nhà dinh dưỡng lâm sàng. Trong khi đó, cha mẹ quên một nguyên tắc cơ bản là, mình ăn cái gì thì nên cho trẻ ăn cái đó. Vì ăn riết một món làm sao không ngán được. Thử bắt một phụ huynh ăn thử sáng cháo lươn, chiều cháo cá, mai cháo thịt, mốt cháo đậu xanh chỉ trong 1 tuần xem có khác gì trẻ bị nhục hình trong tù không, thì làm sao trẻ không chán ăn?

2. Ngày xưa ông bà ta nuôi dạy con cái tuy thô sơ, nhưng rất khoa học. Trẻ chỉ có 4 cái làm cho nó khóc: đói, buồn ngủ, bệnh và cần giải quyết những gì tồn đọng sau khi ăn. Ông bà ta biết làm cho trẻ hết đói đúng lúc, nên nuôi trẻ như nuôi gà, 5 năm để 5 đứa vẫn nuôi tốt và khỏe mạnh như Phù Đổng. Sau 6 tháng thì sữa mẹ hết kháng thể, ông bà chuyển cho ăn bột và miệng nhai cơm búng. Trong nước bọt cha mẹ luôn có kháng thể và men tiêu hóa, nên giúp trẻ khỏe mạnh. Cha mẹ ăn gì thì trẻ ăn nấy, món ăn thay đổi liên tục. Trẻ thích thú khi ăn, lấy gì trẻ chán ăn nhỉ?

3. Hậu quả của biếng ăn tâm lý sẽ đẩy trẻ đến suy dinh dưỡng và suy giảm miễn dịch rất dễ mắc bệnh đường hô hấp và còi cọc. Ngoài ra, việc cho ăn thêm những bữa ăn ngoài 3 bữa ăn chính cũng là điều tai hại làm trẻ quá no để có thể nuốt 3 bữa cơm chính cũng là điều làm trẻ chán ăn.

TRẺ BỊ TỰ KỶ VÀ CUỒNG KÍCH ĐỘNG

Trẻ ngày nay tự kỷ vì cũng do cha mẹ bắt trẻ phải làm cái này, học cái kia và chơi cái nọ theo ý cha mẹ, mà không cho trẻ làm, học và chơi theo ý thích trẻ. Tật này là một loại tật gia trưởng, hay nói đúng hơn là định hướng tư duy trẻ theo kiểu đề cương văn hóa của đảng do cụ Trường Chinh viết ra năm 1943. Cuối cùng trẻ không biết nói cùng ai những yêu cầu đòi hỏi của mình. Vì trẻ không có được sức mạnh quyền lực để thể hiện quyền làm người của mình với cha mẹ. Hơn nữa, trẻ đang tuổi học ăn, học nói, học gói, học mở, chưa đủ lời, đủ chữ để lý luận và minh chứng cho cha mẹ hiểu là trẻ đang ở trong một nhà tù tư tưởng mà nhà tù đó chính cha mẹ mình tạo ra cho mình. Thật bi kịch cho những trẻ có cha mẹ như thế.

Hậu quả cuối cùng là, đối với những trẻ sống nội tâm, trẻ sẽ co vào vỏ sò cô đơn của mình để đối phó với những nhu cầu sai lầm của cha mẹ. Rồi kết quả là trẻ mắc chứng tự kỷ. Cha mẹ hết thầy này, thuốc nọ, phương pháp kia nhưng không làm trẻ ra khỏi cái lâu đài đóng kín tâm tư của trẻ.

Một hậu quả thứ hai với trẻ có tâm lý hiếu động là, trẻ sẽ tự tìm phương pháp thoát khỏi những đòi hỏi phi lý của cha mẹ bằng những hành vi có tính nổi loạn. Một trong những hành vi đó là, chứng cuồng phóng hỏa ở trẻ mà tôi đã viết một bài để sửa sai báo chí và các giáo sự tiến sĩ "thông thái" Việt cách đây mấy tháng khi kết luận một cháu gái tự phóng hỏa là có điện sinh học trong người.

Để kết luận cho bài viết dưới dạng kiến thức tâm lý y khoa thường thức này đến cộng đồng, tôi chỉ muốn nhắn gửi đến các bậc phụ huynh một nguyên tắc cơ bản nuôi, dạy con là mình đừng bắt ai ăn uống hay sống, học tập và chiến đấu theo ý mình như khẩu hiệu của đảng cầm quyền bắt dân sống, chiến đấu, học tập theo gương của vĩ nhân. Vì người thường thì không theo được vĩ nhân. Và chắc chắn là trẻ mới ra đời không thể sống và làm theo những yêu cầu người lớn. 

Đừng để hình ảnh cha mẹ trong mắt trẻ là nỗi ám ảnh khủng bố cả tâm tư và hành động. Mà hãy để trẻ thể hiện mình và đưa tay ra dìu dắt trẻ khi trẻ cần.

Asia Clinic, 10h38' ngày thứ Ba, 13/11/2012