nha ban quan tan binh | mua nha quan tan binh
Hiển thị các bài đăng có nhãn Obama. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Obama. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 21 tháng 1, 2013

DIỄN VĂN NHẬM CHỨC TỔNG THỐNG OBAMA (20/01/2013)



Thưa Phó Tổng thống Biden, Ngài Chánh án Tối cao Pháp viện, các thành viên Quốc hội Hoa Kỳ, các quý khách, và các bạn công dân:

Mỗi lần chúng ta tập trung lại ở đây để nhậm chức cho một tổng thống thì chúng ta lại được chứng kiến sức mạnh bền bỉ của Hiến pháp của chúng ta. Chúng ta khẳng định lời hứa của nền dân chủ của chúng ta. Chúng ta nhớ ra rằng những gì gắn kết quốc gia của chúng ta không phải là mầu da của chúng ta, những nguyên tắc của tín ngưỡng của chúng ta, hay là nguồn gốc tên gọi của chúng ta. Điều làm chúng ta trở thành ngoại lệ, điều làm cho chúng ta là người Mỹ chính là sự tuyên bố trung thành của chúng ta với một lý tưởng đề ra trong một tuyên ngôn đưa ra hơn hai thế kỷ trước:

"Chúng tôi khẳng định một chân lý hiển nhiên rằng mọi người sinh ra đều bình đẳng, rằng tạo hóa đã ban cho họ những quyền tất yếu và bất khả xâm phạm, trong đó có quyền Sống, quyền được Tự do và mưu cầu Hạnh phúc."

Ngày hôm nay chúng ta đi tiếp một hành trình bất tận để kết nối ý nghĩa của những lời đó với thực tế của thời đại chúng ta. Bởi vì lịch sử đã cho chúng ta thấy rằng mặc dù những sự thật này có thể là tự thân đúng, chúng không bao giờ là tự thân thực hiện. Mặc dù tự do là một món quà từ Thượng Đế, nó phải được gìn giữ bởi chính con dân Thượng Đế trên thế giới này. Những người ái quốc của thời năm 1776 đã không chiến đấu để thay một nền độc tài của một vị vua bằng những đặc quyền của một thiểu số, hay sự cai trị của một băng đảng. Họ đã cho chúng ta một nền cộng hòa, một chính phủ của dân, do dân, và vì dân, tin tưởng rằng mỗi thế hệ sẽ cùng gìn giữ tư tưởng lập quốc của chúng ta.

Và trong hơn 200 năm qua chúng ta đã làm được việc đó.

Với máu tứa ra từ vết roi, và máu tứa ra từ vết gươm chém, chúng ta nhận ra rằng không có sự liên hiệp nào dựa trên những nguyên tắc về tự do và bình đẳng lại có thể sống sót trong hình hài nửa nô lệ, nửa tự do. Chúng ta đã tự làm mới mình, và thề cùng nhau tiến lên phía trước.

Cùng nhau chúng ta xác định rằng một nền kinh tế hiện đại đòi hỏi phải có đường sắt và đường cao tốc để làm tăng nhanh tốc độ của việc đi lại và thương mại, trường học và đại học để đào tạo những nhân công của chúng ta.

Cùng nhau chúng ta phát hiện ra rằng một thị trường tự do chỉ có thể phát triển được khi có các quy định để đảm bảo có cạnh tranh và cạnh tranh bình đẳng.

Cùng nhau chúng ta đã quyết định rằng một quốc gia vĩ đại phải chăm sóc những người dễ bị tổn thương và bảo vệ cho người dân của nó chống lại những tai họa và hiểm nguy tồi tệ nhất trong đời.

Trong khi làm tất cả những điều đó, chúng ta chưa bao giờ bỏ đi sự nghi ngờ của chúng ta đối với vai trò của một quyền lực trung tâm, và chúng ta cũng chưa bao giờ bỏ trọn niềm tin vào sự tưởng tượng rằng một chính phủ có thể diệt trừ mọi loại tệ nạn xã hội. Sự hân hoan của chúng ta với sáng kiến và tinh thần kinh doanh, niềm tin bất biến của chúng ta đối với lao động miệt mài và trách nhiệm cá nhân, là những hằng số trong tính cách của chúng ta.

Bởi vì chúng ta luôn hiểu rằng khi thời thế thay đổi thì chúng ta cũng phải thay đổi, rằng sự trung thành của chúng ta với những nguyên tắc lập quốc đòi hỏi chúng ta phải có những giải pháp mới đối với những thách thức mới, rằng việc bảo vệ những quyền tự do cá nhân của chúng ta đòi hỏi một cách sâu xa sự hành động tập thể. Bởi vì cũng giống như những quân nhân Mỹ không thể nào đối chọi được với những thế lực phát xít hay cộng sản chỉ với súng hỏa mai và dân quân, người dân Mỹ không thể đáp ứng được những đòi hỏi của thế giới hôm nay nếu chỉ hành động đơn lẻ. Không có một người đơn độc nào có thể đào tạo cho tất cả những giáo viên toán và khoa học mà chúng ta cần để trang bị cho trẻ em của chúng ta cho tương lai; hay để xây dựng những con đường và mạng lưới và những phòng thí nghiệm sẽ giúp mang công việc và doanh nghiệp đến với đất nước của chúng ta. Chính lúc này, hơn bất kỳ lúc nào khác, chúng ta phải làm những việc này cùng nhau, như một quốc gia, như một dân tộc.

Thế hệ người Mỹ này đã được thử thách bằng những khủng hoảng đã giúp tôi luyện ý chí quyết tâm của chúng ta và chứng tỏ sự kiên định của chúng ta. Một thập kỷ chiến tranh giờ đang kết thúc. Và sự phục hồi kinh tế đã bắt đầu. Những khả năng của nước Mỹ là vô hạn, bởi vì chúng ta sở hữu tất cả những tính cách mà thế giới không biên giới này đòi hỏi: tuổi trẻ và động cơ tiến lên, sự đa dạng và cởi mở, năng lực bất tận đối phó với rủi ro, khả năng tái tạo thiên phú. Các bạn đồng hương Mỹ của tôi, chúng ta được tạo ra cho một thời điểm như thế này, và chúng ta sẽ chớp được thời điểm này, nếu như chúng ta làm vậy cùng nhau.

Bởi vì chúng ta, nhân dân, hiểu rằng đất nước của chúng ta không thể thành công khi mà một thiểu số ngày càng nhỏ kiếm sống rất tốt và một đa số ngày càng lớn phải chật vật kiếm ăn. Chúng ta tin tưởng rằng sự phú cường của Mỹ phải được đặt trên bờ vai rộng của một tầng lớp trung lưu ngày càng phát triển. Chúng ta biết rằng nước Mỹ trở nên giầu mạnh khi mỗi người đều tìm thấy sự độc lập và niềm tự hào trong công việc của họ, khi mà mức lương của công việc lao động trung thực có thể giải phóng các gia đình khỏi bờ vực của sự khó khăn. Chúng ta trung thành với lập trường lập quốc của chúng ta khi một bé gái sinh ra trong cảnh bần cùng biết rằng cô ấy có cùng cơ hội thành công như bất cứ ai khác bởi vì cô ấy là một người Mỹ, cô ấy tự do, và cô ấy bình đẳng không chỉ trong mắt Thượng Đế mà còn trong mắt của chính chúng ta.

Chúng ta hiểu rằng những chương trình mòn cũ của chúng ta không còn đủ đáp ứng những nhu cầu của thời đại của chúng ta. Và vì thế chúng ta phải vận dụng những ý tưởng và công nghệ mới để tái tạo chính phủ của chúng ta, sửa đổi luật thuế của chúng ta, cải tổ trường học của chúng ta, và tăng cường năng lực cho công dân của chúng ta với những kỹ năng họ cần để làm việc chăm chỉ hay để học thêm, để vươn cao hơn. Nhưng khi mà công cụ thay đổi thì mục đích của chúng ta không đổi: một quốc gia ban thưởng cho nỗ lực và quyết tâm của từng cá nhân người Mỹ. Đây chính là điều mà thời này đòi hỏi chúng ta. Điều này sẽ mang ý nghĩa thực sự đến cho tư tưởng của chúng ta.

Chúng ta, nhân dân, vẫn tin rằng mỗi công dân đều xứng đáng nhận được mức độ căn bản sự an sinh và nhân phẩm. Chúng ta phải chọn lựa chọn khó khăn để làm giảm chi phí y tế và kích cỡ khoản thâm hụt ngân sách của chúng ta. Nhưng chúng ta gạt bỏ thứ niềm tin cho rằng nước Mỹ phải lựa chọn giữa việc chăm sóc cho thế hệ đã xây dựng đất nước này và việc đầu tư vào thế hệ sẽ xây dựng nó trong tương lai. Bởi vì chúng ta nhớ tới những bài học của quá khứ, thời mà người ta phải sống những năm cuối đời trong cảnh bần hàn và thời mà cha mẹ của những em bé tật nguyền không biết tìm kiếm trợ giúp ở đâu. Chúng ta không tin rằng ở đất nước này tự do chỉ dành riêng cho những người may mắn hay hạnh phúc chỉ dành riêng cho một nhóm nhỏ. Chúng ta nhận thức được rằng dù chúng ta có sống đời sống trách nhiệm tới đâu thì bất kỳ ai trong chúng ta vào bất kỳ lúc nào cũng có khả năng phải đối mặt với sự mất việc hay sự đau ốm bất ngờ hay một ngôi nhà bị quét đi trong một cơn bão lớn. Những cam kết chúng ta lập ra với nhau thông qua các chương trình Medicare và Medicaid và An sinh Xã hội (Social Security), chúng không làm nhụt đi ý chí tự lực của chúng ta. Chúng làm chúng ta mạnh lên thêm. Chúng không biến chúng ta thành quốc gia của những kẻ ăn bám hưởng thụ mà chúng cho phép chúng ta được tự do hơn để đối mặt với những thứ mạo hiểm và rủi ro đã giúp đất nước này trở nên vĩ đại.

Chúng ta, nhân dân, vững tin rằng những trách nhiệm của chúng ta là người Mỹ không chỉ là trách nhiệm đối với chính chúng ta mà còn đối với cả các thế hệ tương lai. Chúng ta sẽ phản ứng với nguy cơ biến đổi khí hậu, biết rằng nếu thất bại sẽ phản bội con em chúng ta và các thế hệ tương lai. Một vài người vẫn còn từ chối tin vào những kết luận khoa học thuyết phục, nhưng không có ai có thể tránh được ảnh hưởng tồi tệ của những đám cháy lớn, hạn hán chết người, và những cơn bão càng lúc càng mạnh hơn. Con đường tiến tới các nguồn năng lượng bền vững có thể dài và đôi khi khó khăn.

Nhưng người Mỹ không thể kháng cự lại sự chuyển đổi này. Chính chúng ta phải dẫn đường cho nó. Chúng ta không thể để mất vào tay những nước khác công nghệ có thể mang tới những công việc mới và những ngành công nghiệp mới. Chúng ta phải nắm lấy tiềm năng mà nó hứa hẹn. Đây chính là cách sẽ giúp chúng ta duy trì được sức sống kinh tế của chúng ta và những của quý quốc gia của chúng ta là rừng và sông hồ, đất đai trồng trọt và những đỉnh cao tuyết phủ. Đây chính là cách chúng ta sẽ bảo vệ hành tinh của chúng ta, mà Thượng Đế đã giao cho chúng ta chăm sóc. Đây chính là cách chúng ta mang ý nghĩa đến cho tư tưởng mà những vị lập quốc khi xưa đã tuyên bố.

Chúng ta, nhân dân, vững tin rằng để có an ninh bền vững và hòa bình lâu dài không đòi hỏi phải có một cuộc chiến tranh bất tận. Những nam nữ quân nhân quả cảm của chúng ta được tôi luyện trong lửa đạn không có đối thủ về kỹ năng và lòng dũng cảm. Các công dân của chúng ta, nung nấu kỷ niệm về những người đã hy sinh, biết quá rõ cái giá phải trả cho tự do. Hiểu biết của chúng ta về sự hy sinh của họ sẽ làm cho chúng ta mãi mãi cảnh giác đối với những kẻ có thể làm hại chúng ta. Nhưng chúng ta cũng là hậu duệ của những người đã chiến thắng bằng cả hòa bình chứ không chỉ trong chiến tranh. Những người đã biến những kẻ thù không đội trời chung thành bạn trung thành. Và chúng ta cũng phải mang những bài học này vào thời đại này của chúng ta.

Chúng ta sẽ bảo vệ người dân của chúng ta, và đề cao những giá trị của chúng ta thông qua sức mạnh của vũ khí, và sự cai trị của luật pháp. Chúng ta sẽ bày tỏ sự can đảm của chúng ta để cố gắng giải quyết những khác biệt với các quốc gia khác một cách hòa bình. Không phải vì chúng ta ngây thơ về những hiểm họa mà chúng ta đối mặt mà bởi vì sự hợp tác có thể giúp gạt đi hữu hiệu hơn những nghi kỵ và nỗi sợ. Nước Mỹ sẽ giữ vai trò mỏ neo của những liên minh mạnh ở mọi góc của địa cầu. Và chúng ta sẽ tái lập những thể chế giúp mở rộng năng lực của chúng ta đối phó với những khủng hoảng ở nước ngoài. Bởi lẽ không ai có nhiều lợi ích trong một thế giới hòa bình hơn quốc gia hùng mạnh nhất trong thế giới đó. Chúng ta sẽ ủng hộ nền dân chủ từ châu Á tới châu Phi, từ châu Mỹ tới Trung Đông, bởi vì những lợi ích của chúng ta và lương tâm của chúng ta bắt buộc chúng ta phải đứng về phía những người còn đang mong mỏi được tự do. Và chúng ta phải là nguồn hy vọng cho người nghèo, người đau ốm, người bị đẩy ra ngoài lề xã hội, và những nạn nhân của định kiến. Đây không chỉ là hành xử từ lòng từ thiện, mà bởi vì hòa bình trong thời đại của chúng ta đòi hỏi việc cổ võ liên tục những nguyên tắc mà tư tưởng lập quốc chung của chúng ta đã miêu tả: lòng khoan dung và cơ hội, nhân phẩm và công lý.

Chúng ta, nhân dân, hôm nay tuyên bố rằng sự thật hiển nhiên nhất là tất cả chúng ta sinh ra đều bình đẳng – hôm nay vẫn dẫn đường chúng ta đi; y như nó đã từng dẫn đường cho các bậc tiền nhân của chúng ta vượt qua Thác Seneca và Selma và Stonewall; y như nó đã từng dẫn đường cho những người đàn ông và đàn bà, hữu danh và vô danh, đã để lại dấu chân trên chính bãi đất này, để nghe một vị mục sư giảng rằng chúng ta không thể nào đi một mình được; để lắng nghe một vị King tuyên bố rằng sự tự do cá nhân của chúng ta đan xen chặt chẽ với sự tự do của mọi linh hồn trên Trái Đất.

Giờ đây đó chính là nhiệm vụ của thế hệ chúng ta phải thực hiện những gì mà những người tiên phong đã khởi đầu, bởi vì hành trình của chúng ta chưa kết thúc cho tới khi những người vợ, người mẹ, và các con gái của chúng ta có thể nhận được tiền lương đúng mức cho những nỗ lực của họ. hành trình của chúng ta vẫn chưa kết thúc cho tới khi nào những người anh chị em đồng tính ái của chúng ta được đối xử công bằng như bất kỳ ai khác trước pháp luật, bởi vì nếu như tất cả chúng ta thực sự được sinh ra bình đẳng, thì tình yêu của chúng ta dành cho nhau cũng phải bình đẳng như thế. hành trình của chúng ta vẫn chưa kết thúc cho tới khi không có một công dân nào phải đợi nhiều giờ đồng hồ để thực hiện quyền bầu cử của họ. hành trình của chúng ta vẫn chưa kết thúc cho tới khi chúng ta tìm ra một cách tốt hơn để chào đón những người nhập cư cố gắng và hy vọng, những người nhìn nước Mỹ như một xứ sở của cơ hội, cho tới khi các sinh viên và kỹ sư trẻ tài năng được cơ hội tham gia vào lực lượng lao động của chúng ta thay vì bị đuổi ra khỏi đất nước của chúng ta. hành trình của chúng ta vẫn chưa kết thúc cho tới khi tất cả trẻ em của chúng ta, từ những đường phố của Detroit tới những vùng đồi Appalachia tới những ngõ nhỏ yên tĩnh của Newtown chúng được quan tâm chăm sóc và nâng niu và luôn bảo vệ an toàn khỏi hiểm nguy.

Đây chính là nhiệm vụ của thế hệ của chúng ta, để biến những lời lẽ này, những quyền này, những giá trị của đời sống, tự do, và sự mưu cầu hạnh phúc trở nên thực chất cho mọi người Mỹ. Trung thành với những văn bản lập quốc của chúng ta không bắt chúng ta phải đồng ý với nhau trong mọi mặt của đời sống. Nó cũng không có nghĩa là chúng ta phải định nghĩa tự do theo cùng một cách hay theo đuổi một con đường giống nhau trong sự mưu cầu hạnh phúc. Sự tiến bộ không bắt chúng ta phải kết thúc những tranh luận hàng thế kỷ về vai trò của chính phủ trong mọi thời, nhưng nó đòi hỏi chúng ta phải hành động trong thời của chúng ta.

Lúc này, quyết định thế nào là việc của chúng ta và chúng ta không thể trì hoãn việc đó. Chúng ta không được nhầm lẫn sự tuyệt đối hóa là nguyên tắc hay thay thế việc diễn trò cho chính trị, hay coi trò mạt sát như tranh luận duy lý. Chúng ta phải hành động. Chúng ta phải hành động dù biết rằng việc chúng ta làm có lẽ còn chưa thật hoàn hảo. Chúng ta phải hành động dù biết rằng những chiến thắng của ngày hôm nay sẽ không phải toàn phần, và rằng trách nhiệm nằm trên vai của những người đứng ở đây trong 4 năm, 40 năm, hay 400 năm sau để thúc đẩy tinh thần bất hủ đã được trao xuống cho chúng ta trong một khán phòng đơn sơ ở Philadelphia.

Các bạn đồng hương Mỹ của tôi, lời thề mà tôi tuyên thệ trước các bạn hôm nay, giống như những lời thề được tuyên bởi những người phụng sự trong Quốc hội, là lời thề trước Thượng Đế và tổ quốc, không phải trước đảng hay phe nhóm. Và chúng tôi phải thực hiện theo lời thề đó thật trung thành trong suốt thời gian phụng sự của chúng tôi. Nhưng những lời tôi nói ra hôm nay không khác nhiều những lời thề mỗi người lính thề khi nhập ngũ, hay một người nhập cư thề khi giấc mơ trở thành công dân thành hiện thực. Lời thề của tôi không khác với lời tuyên thệ trước lá cờ đang tung bay trên cao, lá cờ làm tim chúng ta ngập tràn sự kiêu hãnh.

Đó là những lời của công dân, và những lời này đại diện cho niềm hy vọng lớn nhất của chúng ta.

Các bạn và tôi, là công dân, có năng lực để định hướng cho đường đi của đất nước này.

Các bạn và tôi, là công dân, có trách nhiệm phải định hình những tranh luận của thời đại chúng ta, không chỉ bằng những lá phiếu chúng ta bầu, mà còn với những lời nói chúng ta nói ra để bảo vệ những lý tưởng bền vững và giá trị lâu dài nhất của chúng ta.

Chúng ta hãy cùng nhau ôm ấp với tinh thần phục vụ nghiêm túc và niềm vui to lớn những gì là quyền bẩm sinh của chúng ta. Với nỗ lực chung và mục đích chung, với đam mê và dâng hiến, chúng ta hãy cùng đáp lại lời kêu gọi của lịch sử và mang theo ánh sáng tự do quý giá này tới một tương lai dù bất định.

Xin cảm ơn quý vị. Cầu Thượng Đế phù hộ cho quý vị. Và mong Người mãi mãi phù hộ cho Hợp Chủng quốc Hoa Kỳ.

Asia Clinic, 7h55' ngày thứ Ba, 22/01/2013

Thứ Năm, 20 tháng 9, 2012

MITT ROMNEY VÀ BỐN VẤN ĐỀ THÂM HỤT NGÂN SÁCH CỦA HOA KỲ


Bài dịch của Trang La


Bài viết của bà Laura Tyson, từng là chủ tịch Hội đồng cố vấn kinh tế của Tổng thống Mỹ, hiện là giảng viên tại Trường kinh doanh Haas (Haas School of Business) tại University of California, Berkeley.

BERKELEY – Hoa Kỳ đang bị bao vây bởi 4 thâm hụt: thâm hụt tài khóa, thâm hụt việc làm, thâm hụt trong đầu tư công, và thâm hụt cơ hội. Các đề xuất ngân sách được đưa ra bởi ứng viên tổng thống Mitt Romney và người đứng chung liên danh với ông, Paul Ryan, có thể giảm thâm hụt tài khóa, nhưng có lẽ sẽ làm trầm trọng thêm ba vấn đề thâm hụt còn lại.

Quả thực, Romney và Ryan đã thất bại trong việc đưa ra chi tiết về cách họ làm thế nào để giảm thâm hụt ngân sách, dựa trên sự quả quyết “hãy tinh tưởng tôi”. Tuy nhiên, đường hướng chung trong các đề xuất của họ khá rõ ràng: cắt giảm thuế nhiều hơn, (phân bổ) lợi ích không theo tỷ lệ cho các nhóm thượng lưu, cùng với hạ thấp đáng kể các khoản chi tùy ý phi quốc phòng, làm tổn thất một cách không tương xứng với tất cả mọi người – và làm suy yếu đi triển vọng tăng trưởng kinh tế.

Mặc dù đã có một thời kỳ 30 tháng có tăng trưởng việc làm trong khu vực tư nhân, Hoa Kỳ vẫn phải đối mặt với mức thiếu hụt việc làm lớn. Tỷ lệ thất nghiệp vẫn giữ ở mức lớn hơn 2 điểm phần trăm so với tỷ lệ “thông thường” (khi nền kinh tế vận hành gần mức công suất). Hơn nữa, tỷ lệ tham gia lực lượng lao động vẫn còn ở mức thấp trong lịch sử.

Hoa Kỳ  cần tạo thêm 11 triệu việc làm nữa để trở về mức công ăn việc làm trước khủng hoảng. Với tốc độ hồi phục hiện nay, phải cần tới hơn 8 năm. Trong khi đó, tỷ lệ thất nghiệp cao dai dẳng làm giảm tiềm năng tăng trưởng kinh tế bởi nó khiến những công nhân có kỹ năng và kinh nghiệm rơi vào cảnh “ăn không ngồi rồi”.

Khi tổng cầu yếu dẫn tới nền kinh tế hoạt động thấp hơn nhiều so với tiềm năg của nó, cắt giảm chi tiêu chính phủ làm thất nghiệp trở nên nặng nề hơn. Thật vậy, trong bài phát biểu gần đây tại Jackson Hole, bang Wyoming, Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ Ben Bernanke cảnh báo rằng sự cắt giảm đáng kể ấy ngăn cản quá trình tạo công ăn việc làm.

Không tiết lộ rằng chương trình nào có thể bị cắt giảm, Romney hứa sẽ cắt giảm chi tiêu liên bang hơn $500 tỷ vào năm 2016, và chi tiêu liên bang sẽ đạt 20% GDP sau đó. Ông cũng hứa hẹn rằng sẽ cắt giảm ngay 5% chi tiêu tùy ý phi quân sự trong năm 2013, đứng đầu bảng các khoản cắt giảm khổng lồ đã được lên kế hoạch để thực thi. Và ông cũng bác bỏ biện pháp bổ sung tài khóa tạm thời nhằm tạo việc làm, như các đề xuất của Tổng thống Barack Obama cho các khoản tài trợ bổ sung cho các tiểu bang và cá khoản chi tiêu cơ sở hạ tầng bổ sung.

Romney thừa nhận rằng việc cắt giảm chi tiêu lớn, cùng với việc hoạch định ngừng cắt giảm thuế vào cuối năm nay, có thể đưa nền kinh tế trở lại tình trạng suy thoái vào năm 2013. Nhưng ông thề sẽ lèo lái nền kinh tế với chính sách tài chính cứng rắn bằng cách mở rộng việc cắt giảm thuế đã được ban hành dưới thời G.W.Bush, tăng gấp đôi với hơn 20% cắt giảm trên toàn liên bang đối với thuế thu nhập và giảm thuế (thu nhập) doanh nghiệp từ 35% xuống còn 25%.

Với trường hợp ngoại lệ có thể của việc gia hạn cắt giảm thuế thời Bush, những thay đổi này có thể cần thời gian đáng kể để thực thi. Ngay cả khi được ban hành, những tác động trong ngắn hạn đối với việc tạo công ăn việc làm có thể chỉ đạt mức tối thiểu. Một sự cắt giảm thuế toàn liên bang diễn ra không mấy hiệu quả xét về tính hiệu quả ngân sách (số việc làm được tạo ra trên mỗi đô la doanh thu bị bỏ qua). Việc giảm thuế payroll và chi tiêu vào những chương trình như tem phiếu thực phẩm và phụ cấp thất nghiệp thực sự mang lại hiệu quả hơn.

Romney cũng phóng đại ảnh hưởng tăng trưởng dài hạn từ các đề xuất thuế của ông ta. Giảm tỷ lệ thuế cá nhân và thuế tiết kiệm và đầu tư trong điều kiện tốt nhất tốt nhất chỉ thúc đẩy tăng trưởng một cách khiêm tốn trong công ăn việc làm, nỗ lực làm việc và thu nhập. Mặc cho cắt giảm thuế thời Bush, sự phát triển của nước Mỹ giai đoạn 2001 – 2007 là thời kỳ hậu chiến tranh tệ nhất xét về mặt đầu tư, việc làm, lương và tăng trưởng GDP. Tăng trưởng và tạo ra công ăn việc làm đã mạnh mẽ hơn sau việc tăng thuế của Tổng thống Bill Clinton vào những năm 1990.

Hơn nữa, nếu tất cả các khoản cắt giảm thuế bổ sung của Romney được tài trợ một cách trung hòa bằng doanh thu, như ông ta hứa, chỉ có cấu thành các loại thuế có thể thay đổi, tỷ lệ tổng thuế trên GDP thì không. Không có bằng chứng nào cho thấy điều này có thể thúc đẩy đáng kể đến tăng trưởng, như Romney tuyên bố.

Dựa trên những gì Romney đã nói với chúng ta, chúng ta có thể kết luận rằng kế hoạch của ông sẽ làm trầm trọng thêm thâm hụt do đầu tư công. Lời thề của Romney về việc giữ chi tiêu liên bang chỉ bằng 20% GDP vào năm 2016, trong khi duy trì chi tiêu quân sự ở mức 4% GDP và để lại cả An sinh xã hội và Phúc lợi y tế không thay đổi đối với người 55 tuổi hoặc hơn, ngụ ý về một khoản tương đương hơn 50% chi tiêu chính phủ (trong kế hoạch ngân sách đã bị cắt giảm) cho thập kỷ tới. Vì vậy, để đạt mức 20% nói trên, chi tiêu cho mọi thứ khác có thể bị cắt giảm trung bình tới 40% vào năm 2016 và 57% vào năm 2022.

Mọi thứ khác bao gồm các khoản đầu tư chính phủ trên ba khu vực chính tạo nên tăng trưởng và việc làm có thu nhập cao: giáo dục, hạ tầng và nghiên cứu. Các lĩnh vực này chiếm ít hơn 8% chi tiêu liên bang, và tỷ lệ của chúng đã bị giảm đều đặn. Theo Romney, nó sẽ còn giảm tới mức thấp hơn nữa.

Mọi thứ khác cũng bao gồm chi tiêu cho các chương trình hỗ trợ các hộ gia đình thu nhập thấp, như là tem phiếu thực phẩm, trợ cấp cho sinh viên và Medicaid. Trung tâm Ngân sách và Chính sách ưu tiên nhận thấy gần 2/3 cắt giảm chi tiêu ngân sách của Ryan có thể tới từ những chương trình như thế. Romney đưa ra rất ít chi tiết, nhưng tính toán đơn giản cho thấy kế hoạch của ông ta có thể đòi hỏi cắt giảm những chương trình này còn cắt giảm nhiều hơn kế hoạch của Ryan.

Trong khi đó, kế hoạch của Romney thực sự làm tăng thuế đối với các hộ gia đình có thu nhập trung bình. Kế hoạch của ông ta sẽ đánh thuế trên mức thuế thu nhập cá nhân thấp hơn bằng cách loại trừ các khoản khấu trừ thuế như là các khoản từ thiện và thế chấp, trong khi giữ nguyên ưu đãi thuế cho tiết kiệm và đầu tư. Nhưng không có đủ tiết kiệm thuế từ những người giàu để bù đắp cho một khoản giảm 20% khác trong thuế thu nhập của họ. Đó là lý do tại sao Trung Tâm Chính Sách Thuế (không thuộc đảng phái nào) nhận thấy rằng kế hoạch của Romney có thể cắt giảm tổng thuế cho các hộ gia đình có thu nhập trên $200,000, nhưng sẽ tăng ít nhất là $2,000 thuế cho các hộ gia đình có thu nhập vào khoảng $100,000 đến $200,000.

Kế hoạch ngân sách của Romney cũng khiến cho hệ thống thuế chuyển nhượng của liên bang(federal tax-and-transfer system *) trở nên tụt lùi, do đó càng làm xấu đi tình trạng bất bình đẳng thu nhập, vốn đã ở mức cao nhất kể từ sau cuộc Đại Suy thoái. Tăng bất bình đẳng thu nhập tạo điền kiện cho sự gia tăng thiếu hụt cơ hội đối với trẻ em sinh ra trong các gia đình thu nhấp thấp và trung bình, được phản ánh qua sự bất bình đẳng trong tiếp cận giáo dục do nền tảng gia đình, và sự suy giảm tính lưu động thế hệ. Theo Romney, thiếu hụt cơ hội sẽ mở rộng, cướp đi của đất nước những tài năng và năng suất trong tương lai.

Romney đã đưa ra rất ít thông tin chi tiết về kế hoạch cắt giảm thâm hụt của ông ta. Nhưng, dựa trên những gì ông đã đưa ra, chúng ta biết rằng nó có thể làm gia tăng tình trạng thiếu hụt việc làm, thiếu hụt đầu tư, và thiếu hụt cơ hội, với những hậu quả tiêu cực cho tăng trưởng và thịnh vượng trong tương lai.

@Project Syndicate 2012

Ghi chú:
(*) Hệ thống thuế chuyển nhượng liên bang: federal tax-and-transfer system: là thuế đánh vào việc chuyển quyền sở hữu từ một người này sang một người khác kể cả quà tặng hoặc di chúc. Ví dụ, thuế đánh vào quyền chuyển nhượng bất động sản từ cha mẹ cho con cái.

BS Hồ Hải hiệu đính – Asia Clinic – 15h25’ ngày thứ Năm, 20/9/2012

Chủ Nhật, 12 tháng 8, 2012

NHIỆM KỲ ĐẦU CỦA HỌC THUYẾT OBAMA


Bài dịch của Nguyễn Ngọc Khánh

Bài viết của ông Joseph S. Nye, Jr. Ông là cha đẻ của lý thuyết “Quyền lực mềm”, cũng là một cựu trợ lý bộ trưởng quốc phòng, là một giáo sư tại Đại học Harvard và là tác giả của cuốn Tương lai của Quyền lực(The Future of Power).

Bài viết cùng tác giả:
 

ASPEN – Những cuộc thăm dò ý kiến ​​quần chúng ở Hoa Kỳ cho thấy một cuộc bỏ phiếu bầu chọn tổng thống cân tài cân sức vào tháng Mười Một này. Trong khi Tổng thống Barack Obama nhận được nhiều lá phiếu hơn ứng cử viên thách đấu của đảng Cộng hòa, Mitt Romney, trên phương diện mà đang có lợi cho Romney như chính sách đối ngoại, tăng trưởng kinh tế trì trệ và tỷ lệ thất nghiệp cao - những vấn đề nổi cộm hơn hẳn trong các cuộc bầu cử ở Hoa Kỳ. Và, ngay cả về vấn đề chính sách đối ngoại, những người chỉ trích ông Obama phàn nàn rằng ông đã thất bại trong việc triển khai các sáng kiến ​​chuyển đổi mà ông đã hứa hẹn cách đây bốn năm. Họ đã chính xác hay chưa?

Obama đã lên nắm quyền vào thời điểm khi mà cả nền kinh tế của Hoa Kỳ và thế giới đang ở bối cảnh của cuộc khủng hoảng tài chính tồi tệ nhất kể từ cuộc Đại Suy Thoái. Thực vậy, một số cố vấn kinh tế của Obama đã khuyên ông ta rằng trừ phi những bước đi khẩn cấp được thực thi để kích thích nền kinh tế, đã có một trong ba khả năng nền kinh tế Hoa Kỳ sẽ lâm vào một cuộc suy thoái toàn diện.

Như vậy, mặc dù Obama cũng kế thừa hai cuộc chiến đang diễn ra, các mối đe dọa phổ biến vũ khí hạt nhân từ Ba Tư lẫn Bắc Triều Tiên, và vấn đề tiếp diễn của chủ nghĩa khủng bố Al Qaeda, ông ta đã dành những tháng đầu tiên trên cương vị tổng thống để giải quyết vấn để về các cuộc khủng hoảng kinh tế trong và ngoài nước. Những nỗ lực của ông ta  dù không phải là một thành công trọn vẹn, song ông ta đã xoay sở để ngăn ngừa những hậu quả tồi tệ nhất.

Tài hùng biện của Obama trong suốt chiến dịch tranh cử năm 2008 và những tháng đầu tiên trong nhiệm kỳ tổng thống của ông ấy vừa gây được cảm hứng trong phong cách lại mang tính chuyển đổi dựa trên những điều khách quan. Năm đầu tiên khởi sự trên cương vị tổng thống của ông ấy đã làm một loạt các bài diễn văn, một bài ở Prague, trong đó ông đã thiết lập được mục đích của một thế giới phi hạt nhân; một bài phát biểu tại Cairo hứa hẹn về một hướng tiếp cận mới tới thế giới Hồi giáo; và bài diễn văn đoạt giải Nobel hòa bình, mà nó đã hứa hẹn “uốn nắn lịch sử về hướng công lý”.

Một phần là, loạt bài phát biểu này mang tính chiến thuật. Obama đã cần phải đáp ứng lời hứa của mình để thiết lập một hướng đi mới về vấn đề chính sách đối ngoại trong khi đồng thời tìm cách xoay xở để sắp xếp lại các vấn đề mà bị bỏ lại cho ông bởi cựu tổng thống George W. Bush, bất kỳ vấn đề nào trong số này, nếu bị bỏ đi, vẫn có thể gây ra một cuộc khủng hoảng cho nhiệm kỳ tổng thống của ông. Tuy nhiên, không có lý do nào để tin rằng Obama đã không trung thành với mục tiêu của mình. Thế giới quan của ông đã được định hình bởi thực tế rằng ông ấy đã trải qua một phần tuổi trẻ của mình ở Nam Dương và có một người cha gốc châu Phi.

Trong những ngôn từ của một cuốn sách thuộc Viện Brookings gần đầy, Obama đã có một “tầm nhìn của một nhà hoạt động xã hội về vai trò của ông trong lịch sử,"với ý định" tái cách tân hình ảnh của Hoa Kỳ ở nước ngoài, đặc biệt là trong thế giới Hồi giáo; kết thúc tình trạng bị hút vào của quốc gia mình trong hai cuộc chiến; dang rộng cánh tay hữu nghị với Ba Tư; tái thiết lập quan hệ bang giao với nước Nga như là một bước tiến tiến tới việc giải trừ vũ khí hạt nhân trên thế giới; phát triển sự hợp tác đáng kể với Trung Hoa về cả hai vấn đề trong khu vực lẫn trên toàn cầu, và lập lại hòa bình ở Trung Đông.” Song ghi nhận về những thành tựu về các vấn đề này mà ông đạt được đã bị hòa lẫn vào nhau.

Sự ghi nhận vẫn tiếp tục như sau “Hoàn cảnh thoạt trông như là nan giải ấy đã biến ông ta từ một người muốn trở thành kiến trúc sư của một trật tự toàn cầu mới thành một nhà lãnh đạo chỉ tập trung nhiều hơn nữa vào việc sửa chữa những mối quan hệ bang giao với và đối phó lại với các cuộc khủng hoảng - đáng chú ý nhất là cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu”. Và trong khi ông ta đã loại bỏ Osama bin Laden và làm suy yếu Al Qaeda, một số các chính sách chống khủng bố đã chấm dứt sức lôi cuốn của mình ở những nơi như Trung Đông và Hồi Quốc(Pakistan).

Mặt bi quan ở nhiệm kỳ đầu của ông Obama là kết quả của những sự kiện nan giải, một số là sản phẩm của sự ngây thơ lúc đầu, chẳng hạn như các cách tiếp cận ban đầu với Israel, Trung Hoa, và Afghanistan. Tuy nhiên, Obama đã nhanh chóng gượng dậy từ những sai lầm bằng một cách thiết thực. Như một trong số những người ủng hộ ông ta đã diễn tả, ông ta là một “nhà duy tâm thực dụng”.

Theo nghĩa này, mặc dù Obama đã không đi ngược lại những lời nói mang tính hùng biện về các mục đích mang tính chuyển đổi liên quan đến các vấn đề như sự biến đổi khí hậu hoặc vũ khí hạt nhân, trên thực tế chủ nghĩa thực dụng của ông gợi nhớ đến nhiều nhà lãnh đạo tiền nhiệm đã được tăng thêm nhiệm kỳ tổng thống nữa như Dwight Eisenhower, George HW Bush. Mặc dù Obama thiếu kinh nghiệm, mà nó liên quan đến những vấn đề quốc tế, ông ta đã cho thấy một kỹ năng tương tự trong việc đối phó với một tập hợp phức tạp các thách thức trong vấn đề chính sách đối ngoại. Điều này đã được minh chứng bởi các cuộc hẹn của ông ta với các cố vấn dày dạn kinh nghiệm, sự quản lý cẩn thận các vấn đề, và trên tất cả là, tài trí ứng biến sắc sảo.

Điều này không phải là để nói rằng Obama đã không có những kết quả mang tính chuyển đổi. Ông ta đã thay đổi quá trình của một chính sách không được lòng dân ở Ba Tư và Afghanistan; đi theo chiến lược chống lại tình trạng nổi loạn dựa trên việc sử dụng ít tốn kém hơn về khả năng quân sự và không gian mạng; tăng cường quyền lực mềm của Hoa Kỳ ở nhiều nơi trên thế giới; và bắt đầu dịch chuyển trọng tâm mang tính chiến lược của Hoa Kỳ đến châu Á, khu vực đang phát triển nhanh nhất trong nền kinh tế toàn cầu.

Về sự lưu tâm đến Ba Tư, Obama đã phải vật lộn nhằm triển khai thực hiện các biện pháp trừng phạt được Liên Hiệp Quốc thông qua và tránh khỏi một cuộc chiến tranh còn trong trứng nước. Và, trong khi các cuộc cách mạng Mùa xuân Ả Rập đã giới thiệu ông với một bất ngờ không mong muốn, sau một hồi do dự  ông đã quyết định ủng hộ những gì mà ông coi là lịch sử.

Trong một cuốn sách mới, cuốn “Đối mặt  và Che đậy”, David Sanger mô tả những gì mà ông gọi là "Học thuyết Obama" (mặc dù ông ấy chê trách ngài tổng thống trong việc không thông tin một cách rõ ràng hơn): dấu ấn quân sự nhẹ nhàng hơn, kết hợp với việc sẵn sàng sử dụng vũ lực một cách đơn phương khi mà các quyền lợi an ninh của Hoa Kỳ bị liên lụy trực tiếp; việc nương tựa vào các liên minh nhằm đối phó với các vấn đề toàn cầu mà không trực tiếp đe dọa đến an ninh của Hoa Kỳ; và "việc tái cân bằng từ sự sa lầy tại Trung Đông để di chuyển đến lục địa của sự hứa hẹn vĩ đại nhất trong tương lai - Châu Á."

Sự tương phản giữa việc hạ sát Bin Laden và can thiệp vào nội bộ Libya minh họa cho Học thuyết Obama. Trong trường hợp trước đó, Obama đã đích thân điều khiển (chỉ đạo) việc sử dụng đơn phương lực lượng quân sự, tham gia vào một cuộc đột kích bất ngờ trên lãnh thổ Hồi Quốc. Còn về trường hợp Libya, nơi mà những lợi ích của quốc gia không còn rõ ràng, ông ta đã chờ đợi cho đến khi Liên đoàn Ả Rập và Liên Hiệp Quốc thông qua nghị quyết mà đã quy định tính hợp pháp cần thiết để đảm bảo sự thể hiện quyền lực mềm đúng đắn, và sau đó chia sẻ quyền lãnh đạo của sự vận hành quyền lực cứng với các quốc gia đồng minh NATO.

Tác động lâu dài của Học thuyết Obama sẽ cần thêm thời gian để thẩm định, song, khi mà ông ta đến gần cuộc bầu cử vào tháng Mười Một, Obama hiện diện với một chút lợi thế hơn trước các đối thủ của mình về vấn đề chính sách đối ngoại. Obama đã không uốn nắn cánh cung lịch sử theo cái cách chuyển đổi mà ông ta đã khao khát trong chiến dịch của mình cách đây bốn năm, tuy nhiên sự dịch chuyển của ông theo một phương pháp tiếp cận thực dụng hóa ra có lẽ lại là một điều tốt, đặc biệt là khi các cử tri vẫn tiếp tục có những nghi ngờ về nền kinh tế.

@Project Syndicate 2012

BS Hồ Hải hiệu đính – Asia Clinic – 10h53’ ngày thứ Hai, 13/8/2012