nha ban quan tan binh | mua nha quan tan binh

Thứ Ba, 10 tháng 7, 2012

PHẢI TÍNH CHUYỆN LÂU DÀI

Bài đọc liên quan:

Lịch sử nhân loại trải qua hàng triệu năm, nhưng hình thái xã hội chính trị loài người chỉ mới can qua 3 loại: cộng sản nguyên thủy, phong kiến và tư bản chủ nghĩa.

Có một thời người ta hùng hổ bảo nhau rằng, chủ nghĩa tư bản đang và sẽ giãy chết, và chủ nghĩa xã hội sẽ là đích đến tiếp theo, rồi cuối cùng là chủ nghĩa cộng sản là điểm mút cuối cùng cho một thế giới hòa bình trong cái nghĩa đại đồng.

Nhưng cho đến nay vẫn chưa thấy chủ nghĩa xã hội nó ở đâu, chỉ thấy hình thái chính trị xã hội phong kiến lại quay về ở các quốc gia chậm tiến, mặc dù loài người đã trải qua hàng ngàn cuộc cách mạng xã hội. Các cuộc cách mạng xã hội ấy, hòa bình có và đẫm máu có. Nhưng tựu trung, chỉ có hai loại cách mạng xã hội tư sản và vô sản. Tất cả cũng chỉ vì để giải quyết bản chất của loài người, tư hữu và quyền lực.

Cách mạng xã hội vô sản thì đã diễn ra hàng ngàn đến hàng triệu cuộc. Nó có đặc điểm giống như bản chất của giai cấp vô sản: dốt nát, độc ác, đẫm máu, và triệt để. Nên cuối cùng, dù đã cướp được chính quyền rồi, thì giai cấp vô sản không đủ nhân bản, trí tuệ để xây dựng một xã hội hùng cường, mà phải quay lại con đường độc ác và tham lam của bản chất hoang dã của loài người.

Trong khi đó, cách mạng xã hội tư sản chỉ mới diễn ra với loài người có 2 cuộc. Đầu tiên là cách mạng tư sản Mỹ - do các nhà tư sản buôn trà ở Boston Hoa Kỳ - diễn ra vào năm 1773, và sau đó hình thành nên nước Mỹ vào năm 1776, đưa nước Mỹ hùng cường đến ngày nay. Cuộc cách mạng tư sản thứ hai diễn ra ngay trên cựu lục địa châu Âu - nước Pháp - năm 1789, và cũng dẫn dắt châu Âu và nước Pháp đi đến hùng cường như hôm nay.

Đặc điểm chung của cuộc cách mạng tư sản là ít đổ máu, làm xong cách mạng thì giai cấp tư sản đủ tài năng và tính nhân bản để dựng xây một xã hội nhân bản hơn, hùng cường hơn, mặc dù bất công của loài người - một đàn người phải có kẻ cầm đâu, kẻ giàu, người nghèo là tất nhiên - không thể nào thoát được bản chất của loài người.

Trong ý nghĩa đó, vào thập niên 1970s của thế kỷ trước, làn sóng cách mạng vô sản đã diễn ra trên khắp các lục địa Á và Phi, kể cả Mỹ La Tinh. Nhưng nó lại hình thành những hình thái chính trị xã hội kiểu phong kiến tập quyền như, Libya, Syria, Ma Rốc, Tunisia, Iraq, Iran, Trung Hoa, Cu Ba, Bắc Hàn và trong đó có cả Việt Nam hiện nay, v.v...

Ở thế giới toàn cầu hóa và thế giới phẳng của Internet ra đời, một loạt cuộc cách mạng xã hội kiểu nửa tư sản nửa vô sản đã và đang diễn ra ở Trung Đông và Bắc Phi trong năm 2011 vừa qua. Người ta đang lo rằng, những vùng đất này sẽ rơi vào cảnh đói nghèo và tàn ác, mất nhân bản vì bản chất của những cuộc cách mạng nhuốm màu vô sản ở những nơi này.

Những nước còn lại như, Trung Hoa, Việt Nam, Cu Ba, Bắc Hàn và các thuộc địa cũ ở Trung Á và Đông Âu của Liên Xô, đang chuyển mình để tìm đến sự hùng cường và nhân bản. Song làm sao để có cuộc cách mạng xã hội mà không đổ máu, thù hận phải xóa tan, sau những gì giai cấp vô sản đã cầm quyền và gieo rắt khổ đau nhục nhằn cho dân tộc?

Một số quốc gia còn lại này đã hình thành giai cấp tư sản mới, nhờ vào một hình thái chính trị xã hội phong kiến tập quyền kiểu mới - tư sản thân hữu. Ngày nay, giai cấp tư sản đó đã bắt đầu chín mùi về kiến thức, tài sản, và đang học tập dần lòng nhân ái.

Song song đó, giai cấp tư sản thân hữu cũng đã tạo ra những mâu thuẩn và đối lập trong việc ăn chia của hồi môn của dân tộc đã đổ máu xương để giành độc lập cho quốc gia. Nhưng bên cạnh đó, giai cấp tư sản thân hữu cũng tạo ra làn sóng mâu thuẩn với giai cấp vô sản mới - công nhân và nông dân - dưới hình thức cướp đi sở hữu tư liệu sản xuất của toàn dân, theo chủ thuyết của Marx Lenin.

Manh nha những cuộc cách mạng vô sản diễn ra trên nền tảng giải quyết những mâu thuẩn và đối lập có tính đối kháng giữa các giai cấp tư sản thân hữu với nhau, và tư sản thân hữu và vô sản, là điều không tránh khỏi ở các quốc gia còn lại, thông qua những diễn biến gần đây về tranh chấp đất đai, và nạn độc quyền cả chính trị lẫn kinh tế của đảng cầm quyền ở Việt Nam, Trung Hoa, v.v...

Thế thì, Việt Nam ta cần phải chọn lựa giữa việc có một cuộc cách mạng vô sản hay tư sản, để đưa đất nước, dân tộc đến hùng cường? Câu hỏi này xin dành cho thành phần tinh hoa của đảng cộng sản cầm quyền đang trong cơn hấp hối vì thối nát chính trị dẫn đến sụp đổ kinh tế như hiện nay.

Asia Clinic, 12h59' ngày thứ Tư, 11/7/2012

Thứ Hai, 9 tháng 7, 2012

TẠI SAO TRUNG HOA KHÔNG THỂ ĐIỀU CHỈNH


Bài dịch của Nguyễn Ngọc Khánh - BS Hồ Hải hiệu đính
Bài viết cùng tác giả:

Bài viết liên quan của tác giả khác:
Bài viết của chủ blog:

Bài viết gốc: Why China can’t adjust

Bài viết của ông Bùi Mẫn Hân(Minxin Pei), giáo sư về lĩnh vực chính phủ của Claremont McKenna College, California, Hoa Kỳ.

CLAREMONT, CALIFORNIA – Sự suy thoái hiện nay của nền kinh tế Trung Quốc không thiếu các nguyên nhân: khủng hoảng tài chính ở châu Âu, sự phục hồi ì ạch của nền kinh tế Hoa Kỳ, và tăng trưởng từ đầu tư trong nước yếu kém, là những yếu tố được dùng để đổ tội nhiều nhất. Vì xuất khẩu và đầu tư, chiếm tỷ trọng lần lượt 30% và 40% tăng trưởng GDP của Trung Quốc, nên nền kinh tế của nước này đặc biệt dễ bị tổn thương bởi sự yếu đi của mức cầu từ bên ngoài và sự tích lũy các khoản nợ xấu gây ra bởi việc chi tiêu quá mức và lãng phí vào bất động sản.

Tuy nhiên, sự dễ bị tổn thương của nền kinh tế Trung Quốc bởi các yếu tố này, là nghiêm trọng như những gì chúng gây ra, là triệu chứng của những vấn đề về thể chế chính trị sâu xa hơn thế. Cho đến khi những khó khăn cơ bản được giải quyết, người ta đang nói về một mô hình tăng trưởng mới dựa trên tiêu thụ trong nước của Trung Hoa, được phản ánh trong kế hoạch 5 năm của chính phủ lần thứ 12 đã được phê duyệt gần đây, mà có thể chẳng hơn gì một lời chót lưỡi đầu môi.

Đằng sau tất cả, các đối tác thương mại lớn của Trung Hoa, các tổ chức tài chính quốc tế như Ngân hàng Thế giới (WB) và Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), và bản thân các quan chức cấp cao trong bộ máy nhà nước Trung Hoa từ lâu đã nhận ra các lỗ hổng về cấu trúc đã gây ra việc đầu tư công quá mức và chi tiêu của hộ gia đình còn thấp. Và, gần một thập kỷ qua, Trung Hoa đã được kêu gọi phải thực hiện các cải cách để khắc phục những mô hình kinh tế này, mà chúng đã làm suy giảm các phúc lợi xã hội của người dân Trung Hoa lẫn gây khó khăn cho hệ thống thương mại toàn cầu.

Các điểm đặc trưng được biết đến nhiều nhất về sự mất cân bằng nền kinh tế vĩ mô của Trung Hoa là sự phụ thuộc quá lớn vào những ngành xuất khẩu để phục vụ cho sự tăng trưởng, thông thường được quy cho lượng cầu nội địa còn yếu kém: do là một quốc gia có mức thu nhập trung bình, Trung Hoa thiếu thốn sức mua để tiêu thụ chính hàng hoá mà nước này sản xuất ra. Với việc gần như không giới hạn sự tiếp cận thị trường của các quốc gia tiên tiến, Trung Hoa có thể khai thác các nhu cầu từ các quốc gia bên ngoài và nâng cao tiềm năng tăng trưởng GDP của mình, như quốc gia này đã thực hiện trong hai thập kỷ qua.

Nếu quan điểm này là đúng đắn, thì giải pháp quá đơn giản là, Trung Hoa có thể khắc phục sự mất cân bằng của nước này bằng cách tăng thu nhập cho công dân trong nước (bằng việc cắt giảm thuế má, gia tăng lương, hoặc tăng chi tiêu xã hội), để họ có thể tiêu thụ nhiều hơn, từ đó làm giảm sự phụ thuộc của nền kinh tế vào hàng xuất khẩu. Thực vậy, gần như tất cả các nhà kinh tế học chính thống đều khuyến cáo cách tiếp cận này cho Trung Hoa.

Song còn có một lời giải thích khác cho sự phụ thuộc quá nhiều vào xuất khẩu có định hướng của Trung Hoa, một trong số đó là có nhiều cái đã làm cho thể chế kinh tế và chính trị ở quốc gia này quá tồi. Cụ thể là, sự phụ thuộc vào xuất khẩu phần nào phản ánh được những khó khăn ở mức độ cao trong việc làm kinh doanh tại Trung Hoa. Tham nhũng trong chính quyền, quyền sở hữu tài sản không được đảm bảo, những hạn chế mang tính quy định ngặt nghèo, tuân thủ những quy định thanh toán tài chính yếu, lưu thông và phân phối kém, hàng giả phổ biến khắp nơi, và dễ dàng cho các dạng khác của hành vi ăn cắp quyền sở hữu trí tuệ. Tất cả những trở ngại này làm tăng chi phí quản lý kinh doanh và khiến các doanh nhân khó khăn trong việc phát triển tốt ở thị trường trong nước.

Ngược lại, nếu các công ty tư nhân của Trung Hoa bán hàng cho các công ty đa quốc gia phương Tây, chẳng hạn như Wal-Mart, Target, hoặc Home Depot, họ không phải lo lắng về việc nhận được thanh toán tài chính. Họ không phải nhức đầu vì những việc mà họ sẽ có thể gặp phải ở trong nước, bởi vì những thể chế kinh tế được thiết lập tốt cùng việc hoạt động kinh doanh trên thị trường xuất khẩu của các doanh nghiệp này bảo vệ các lợi ích của họ và giảm đáng kể chi phí giao dịch.

Những điểm yếu kém về thể chế chính trị của nền kinh tế Trung Hoa được phản ánh trong dữ liệu từ các cuộc điều tra quốc tế. Ngân hàng Thế giới vừa xuất bản một bản đánh giá hàng năm nhan đề "sự thuận lợi trong kinh doanh" từ 183 quốc gia và các tổ chức khu vực. Trong cuộc khảo sát tháng sáu năm 2011, Trung Hoa được xếp hạng 91, sau Mông Cổ, Albania, và Belarus. Đặc biệt khó khăn để khởi đầu một doanh nghiệp ở Trung Hoa (hạng 151), khó khăn về thuế (hạng 122), xin giấy phép xây dựng (hạng 179), và xin giấp phép được cấp điện (hạng 115).

Đối mặt với một môi trường kinh doanh không thân thiện như vậy, các nhà doanh nghiệp tư nhân Trung Hoa đã bị buộc phải đồng lõa với cái gọi là “phí chênh lệch do thể chế chính trị" - họ lợi dụng các tổ chức kinh tế phương Tây có hiệu quả để mở rộng công việc kinh doanh của họ (hầu hết các doanh nghiệp theo định hướng xuất khẩu thuộc sở hữu của doanh nghiệp tư nhân và các công ty nước ngoài).

Thật không may là, như Trung Hoa đã công bố một thị phần lớn lượng hàng hóa xuất khẩu ra thế giới (khoảng 10,4% trong năm 2010) và sự trì trệ kinh tế ở phương Tây đang hạn chế nhu cầu thị trường nước ngoài, chiến lược này có thể ngưng hoạt động. Tuy nhiên, định hướng lại hoạt động kinh doanh của các công ty này đối vớithị trường nội địa Trung Hoa đòi hỏinhiều hơn so với chính sách của chính phủđưa thêm tiền vào túi ngườitiêu dùng.

Để được hưởng các chi phí giao dịch thấp mà họ có được trong việc xuất khẩu, các nhà doanh nghiệp Trung Hoa cần một môi trường kinh doanh tốt hơn nhiều gồm: một hệ thống pháp lý hiệu quả, một khuôn khổ pháp quy hợp lý, một chính phủ bảo vệ thương hiệu của các doanh nghiệp bằng cách chống các hành vi ăn cắp sở hữu trí tuệ, những mạng lưới hậu cần và phân phối đáng tin cậy, và một bộ máy quan chức nói không với tham nhũng.

Trung Hoa không thể tạo ra một môi trường như vậy một cách nhanh chóng. Về bản chất, chính phủ Trung Hoa phải chuyển đổi từ một nhà nước ăn cướp thành một nơi nuôi nấng và đối xử với các nhà doanh nghiệp tư nhân như là những người tạo ra của cải vật chất chứ không phải là mục tiêu cho sự bóc lột của chính phủ. Hầu hết ở tất cả các nước khác, một sự chuyển đổi như vậy đã được thực hiện bằng cách thiết lập các nguyên tắc của pháp luật và/hoặc sự chuyển mình từ chế độ chuyên chế sang chế độ dân chủ.

Việc không thể duy trì tăng trưởng trong sự thiếu vắng các nguyên tắc của pháp luật và trách nhiệm về chính trị cho thấy đảng cộng sản Trung Hoa đang trong một tình thế tiến thoái lưỡng nan sống còn. Kể từ khi phong trào ủng hộ dân chủ tại quảng trường Thiên An Môn bị đè bẹp vào năm 1989, đảng đã tuyên bố sẽ không từ bỏ độc quyền về chính trị. Nhờ vào sự bùng nổ đầu tư và hưởng cổ tức toàn cầu trong hai thập kỷ qua cho phép Đảng có của ăn của để - duy trì các nguyên tắc của đảng trên cơ sở của sự thịnh vượng về kinh tế, trong khi thất bại việc thành lập các thể chế quan trọng để duy trì một sự thịnh vượng như vậy. Bây giờ, thì việc duy trì độc quyền chính trị và sự thịnh vượng của đảng không còn có thể.

Vì vậy, trong một ý nghĩa nào đó, bong bóng Trung Hoa đã nổ tung - nó to lớn bằng cả quả bong bóng trí tuệ lẫn chính trị cho nền kinh tế của Trung Hoa. Khi sự sụt giảm kinh tế của Trung Hoa cho thấy nhiều lỗ hổng về cấu trúc và các chính sách sai lầm của nó, thì một khái niệm được thổi phồng nhiều về "Một Trung Hoa ngoại lệ" - rằng Trung Hoa có thể tiếp tục phát triển mà bất chấp các nguyên tắc của pháp luật và các thể chế chính trị thiết yếu khác bao hàm trong một nền kinh tế thị trường hiện đại - đang được chứng minh chẳng là gì ngoại trừ một sự ảo tưởng.

@Project Syndicate 2012

AsiaClinic, 14h16' ngày thứ Hai, 09/7/2012

Thứ Bảy, 7 tháng 7, 2012

PUTIN HÓA MỄ TÂY CƠ


Bài viết gốc: The Putinization of Mexico

Bài viết của bà Denise Dresser, Giáo sư Khoa học chính trị, của Viện Công nghệ tự trị của Mễ Tây Cơ(Instituto Tecnológico Autónomo de México).

Bài dịch của Nguyễn Ngọc Khánh - BS Hồ Hải hiệu đính
MEXICO CITY - Trước khi cuộc bầu cử tổng thống Mễ Tây Cơ vừa kết thúc, tình hình bất mãn xã hội công khai trong nước rõ như ban ngày. Dân chúng Mễ Tây Cơ từ tất cả các tầng lớp xã hội đời sống dường như đã lo ngại về việc leo thang bạo lực, tăng trưởng kinh tế èo uột và vai trò quyền lực mờ nhạt của Đảng Hành động quốc gia (PAN). Với 60.000 người thiệt mạng trong các cuộc chiến chống ma túy, nhân dân Mễ Tây Cơ - giống hệt nhân dân Nga trong việc theo đuổi quá trình chuyển đổi dân chủ sau những năm đầu hỗn loạn dưới thời Boris Yeltsin - đã lựa chọn sự thoái lui về chính trị, nó được củng cố bằng nỗi luyến tiếc quá khứ thống trị bởi tập đoàn độc tài, tham nhũng.

Lúc này, với nền dân chủ gắn liền với tình trạng vô chính phủ, hỗn loạn và mất an ninh, Đảng Cách mạng Thể chế (PRI), chính đảng cầm quyền ở Mễ Tây Cơ trong suốt 7 thập kỉ qua cho đến tận năm 2000, đã được hưởng lợi. Đảng PRI đã hứa hẹn khôi phục lại trật tự xã hội, khả năng dự báo và giảm thiểu tình trạng bạo lực gây ra bởi các tập đoàn ma túy, cho dù việc đảng PRI phải làm là đạt được sự thỏa hiệp với các tập đoàn ma túy.

Do đó người dân Mễ tây Cơ đã phản ứng lại bằng một hành động thích đáng, không bỏ phiếu ủng hộ đảng cầm quyền PAN vì một nền kinh tế tăng trưởng trung bình hằng năm chỉ có 1.5% trong suốt 12 năm vừa qua, cũng như mức độ mất an ninh chưa từng có ở Mễ Tây kể từ cuộc cách mạng của nước này 100 năm trước. Song, quan trọng nhất có lẽ là, đảng PRI gặt hái những thuận lợi tốt nhất: chiến dịch quảng bá trường kì biến ứng cử viên của đảng mà bây giờ là Tổng thống đắc cử, Enrique Peña Nieto, thành một chính khách được lòng dân nhất của Mễ Tây Cơ.

Peña Nieto là sản phẩm của hai mạng lưới truyền hình đã chuẩn bị chu đáo cho ông ta trở thành người nắm quyền lực và sau đó đưa ông lên làm Tổng thống. Chiến lược chính trị của đảng PRI là hình tượng của "cậu bé vàng": khuôn mặt tài tử, tiền bạc rủng rỉnh, cùng sự hỗ trợ của mạng lưới truyền hình và giới tinh hoa một thời của Mễ Tây Cơ đang khao khát trở lại con đường quyền lực. Nói cách khác, sự trỗi dậy của Peña Nieto đại diện cho một khối liên minh các nhà tài phiệt kinh tế chính trị, sở hữu những lợi ích độc quyền, các lực lượng giữ gìn trật tự, và quần chúng nhân dân đã bị vỡ mộng về thể thức bầu cử dân chủ.

Đối với nhiều người dân Mễ Tây Cơ, sự khôi phục quyền hành của một đảng phái đã điều hành theo lối độc đoán quay lại mà không tự đổi mới chính mình, không là một nguyên nhân khiến họ quan tâm hay mất ăn mất ngủ. Họ coi việc trở lại của đảng PRI như thể nó là một dấu hiệu bình thường của nền dân chủ, của cái gọi là “tống cổ những tên vô tích sự ra ngoài”. Những câu sấm truyền dành cho sự lạc quan của người dân tiên đoán rằng đảng PRI sẽ buộc phải ban hành các cải cách về cơ chế mà các cải cách này đã bị hẹn lần lữa trong nhiều năm qua bỡi đảng PAN.

Sẽ thực sự là may mắn cho Mễ Tây Cơ nếu như một kỷ nguyên mới trong những nhiệm kỳ tổng thống của đảng PRI là một biểu hiện của sự luân chuyển lành mạnh trong việc nắm quyền thay vì là một bước thụt lùi đáng tiếc. Song bất kỳ sự phân tích hợp lý nào về đảng PRI hiện tại lại không ủng hộ dự đoán đó, mà lại nghiêng về một mơ tưởng hảo huyền của người dân Mễ Tây Cơ.

Như Tom Friedman đã chỉ rõ, ba băng đảng đang cùng tồn tại ở Mễ Tây Cơ ngày nay: “băng Narcos, băng No, và băng NAFTA.”(1). Những băng đảng này, tương ứng với, các ông trùm ma túy, những kẻ trục lợi từ tình hình hiện tại, và tầng lớp trung lưu khao khát sự thịnh vượng.

Đảng PRI, theo định nghĩa, là đảng của “Băng đảng No”. Băng đảng này phản đối những cải cách cơ chế cần thiết nhằm để bảo vệ các việc làm trục lợi(rent-seeking practices); từ chối những ứng cử viên vì dân để ủng hộ giới tinh hoa thuộc đảng phái vô trách nhiệm; chùn bước trong việc hiện đại hóa nghiệp đoàn, theo thông lệ của chủ nghĩa nghiệp đoàn(2) mà thi hành; và từ chối dỡ bỏ sự độc quyền mà đảng thiết lập. Đảng PRI và Peña Nieto là “Những kẻ nắm quyền phủ quyết”, bởi vì chúng tạo nên một sự chống cự chủ yếu nhất tới bất kì sự thay đổi nào mà sẽ đưa Mễ Tây Cơ đến với đổi mới, tư nhân hóa, đương đầu với thách thức, hoặc tu sửa lại hệ thống mà chúng đã thai nghén và bây giờ, một lần nữa, băng đảng No giành lại quyền kiểm soát.

Đảng PRI đã chứng tỏ trong kì bầu cử lần này rằng nó có nhiều tiền hơn, đoàn kết hơn, kỷ luật hơn, và khao khát thành công hơn so với bất kì đối thủ nào. Nhưng thật không may rằng, nó vẫn duy trì việc đi theo chủ nghĩa bảo vệ lợi ích phe nhóm, chủ nghĩa nghiệp đoàn, tổ chức tham nhũng mà không tin vào sự tham gia của nhân dân, sự giám sát và cân bằng quyền lực, tính cạnh tranh, tinh thần trách nhiệm, hoặc giám sát công đoàn nhà nước.

Tuy nhiên, đất nước mà PRI giờ đây sẵn sàng lãnh đạo trở lại đã thay đổi từ từ, chậm nhưng chắc. Thanh niên của đất nước này giờ đây ít hưởng thụ và đòi hỏi nhiều hơn, bớt thụ động và đa chiều hơn. Bây giờ là nhiệm vụ của tất cả người dân Mễ Tây Cơ, những người đã diễu hành và hành động và gần đây đã xuống đường ăn mừng Peña Nieto phải đảm bảo Quá trình Putin hóa chỉ là một hiện tượng của người Nga chứ không phải ở Mễ Tây Cơ.

Ghi chú:
1. Narcos, No’s and Nafta:là tựa đề của một bài viết của Tom Friedman trên New York Times. Nó nói lên 3 tầng lớp tinh hoa của Mễ Tây Cơ đã và đang thao túng chính trường nước này. Trong đó tầng lớn Nafta xuất thân từ những trí thức yêu nước từ những trí thức thành thị và tầng lớp trí thức lớn lên từ tỉnh lẻ là thực sự muốn gầy dựng Mễ Tây Cơ. Còn tầng lớp Narcos là băng đảng mafia kiểu Ý chuyên buôn lậu, kể cả heroin, cần sa và thuốc phiện. Tầng lớp No là tầng lớp chính trị thủ cựu, độc tài và trục lợi từ những chính sách công và kẻ hở của luật pháp Mễ Tây Cơ.

2. Chủ nghĩa nghiệp đoàn:Cha đẻ của Công đoàn thế giới xuất nguồn từ tổ chức nghiệp đoàn bến cảng Chicago nước Mỹ từ năm 1883. Nó cũng là tổ chức khai sinh ra ngày quốc tế lao động 01/5 trên toàn cầu. Ban đầu là đấu tranh của đại diện giai cấp vô sản là công nhân với giới thợ thuyền chống lại bóc lột của giới chủ. Nhưng sau đó, có những giai đoạn nó nhuốm mùi mafia, khi giới lãnh đạo này bắt đầu thao túng các ông chủ tập đoàn và ăn chia để giàu sang. Câu chữ của tác giả bài viết ý muốn nói chủ nghĩa nghiệp đoàn ở đây là kiểu các công đoàn trong nước Mễ Tây Cơ bắt tay với tầng lớp No để bảo vệ chiếc ghế của đảng PRI hơn là vì quyền lợi của người dân.

Asia Clinic - 17h10' ngày thứ Bảy, 07/7/2012

Thứ Tư, 4 tháng 7, 2012

KIẾN TẠO HÒA BÌNH SYRIA Ở ĐÂU?


Cảm ơn cháu Nguyễn Ngọc Khánh đã dịch bài này.
Bài đọc cùng tác giả: 

Bài đọc liên quan:

Bài viết của Christopher R. Hill, hiện đang là hiệu trưởng Trường Nghiên cứu Quốc tế Korbel của University of Denver. Ông là một trong những kiến ​​trúc sư chính của ngoại giao Mỹ trong những năm 1990s và 2000s. Một cựu trợ lý ngoại trưởng về Châu Á Thái Bình Dương, đã từng là Đại sứ Mỹ tại Iraq, Hàn Quốc, Macedonia, và Ba Lan, đặc phái viên Mỹ tại Kosovo cuối thặp niên 1990s, một nhà đàm phán chính cho Hiệp định Hòa bình Dayton, làm kết thúc chiến tranh Bosnia,  và là nhà lãnh đạo của Hoa Kỳ đàm phán sáu bên về vấn đề hạt nhân của Bắc Hàn giai đoạn từ năm 2005 đến 2009.


DENVER – Người ta đã nói rất nhiều về những nét giống nhau giữa sự hỗn loạn ở Syria và những cuộc chiến vùng Balkan của thập niên 1990. Song, quả thực là khi mà các vụ thảm sát kéo dài có thể gợi lại, các nỗ lực chính trị lẫn ngoại giao mà cuối cùng đã chấm dứt cuộc chiến ở Bosnia thì hiện giờ với Syria hầu như khó thể thành hiện thực.

Cho đến nay, không có một kế hoạch nào tương tự như kế hoạch của “Nhóm lợi ích” nó đã được đề ra vào mùa hè năm 1994 bởi các đại diện đến từ Anh, Pháp, Đức, Nga, và Hoa Kỳ, và kế hoạch đó đã được thực hiện vào năm kế tiếp tại Dayton, Ohio, sau nhiều tháng ngoại giao ngay trên chiến trường ở Bosnia lúc ấy. Ở Syria, nếu như nước này bị cô lập, tiến trình ngoại giao duy nhất nằmtrong tayông Kofi Annan, vị cựu Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc can đảm, người đãcó những am hiểu - người có sự hiểu biết tốt hơn nhiều nhà phân tích gần đây nhất về sự vi phạm trắng trợn các điều luật quốc tế này - rằng sẽ không phe phái nào giành chiến thắng nếu vẫn còn đó những giải pháp chính trị dằng dai.

Không ai có thể dõi theo tình trạng bạo lực đang diễn ra ở Syria không một cảm giác hãi hùng về các cuộc tấn công trang vào số đông thường dân tay không tấc sắt, hầu hết những cuộc tấn công vũ trang này là bởi các phe nhóm ủng hộ chế độ của Tổng thống Bashar al-Assad. Tuy nhiên, những ngườicho rằng Syria đang trên bờ vực nội chiến bỏ lỡ điều đã trở nên hiển nhiên hơn trong mỗi ngày qua đi: Syria đã ở trong tình trạng nội chiến,một cuộc nội chiến mà chiến tuyến đã được dựng nên trong những tháng qua.

Một bên bộ tộc thiểu số theo dòng Hồi giáo Alawi của Assad, trong những năm qua đã thu hút những giáo sĩ theo chế độ thế quyền dòng Sunni chia sẻ quyền lợi trong một nhà nước độc tài, độc đảng. Nhưng liên minh của Assad thì rộng lớn hơn thế, giúp giải thích việc ông ta làm thế nào có thể giữ chặt lấy quyền lực trong khi các chế độ độc tài khác trong khu vực thì không thể. Những người theo Cơ Đốc giáo ở Syria chiếm phần lớn trong số 1.5 triệu người Kurd, và ngay cả những người sống ở thủ đô Damascus, các tầng lớp giáo sĩ theo chế độ thế quyền đã bị bắt phải miễn cưỡng đi theo những gì đã được nhận thức rộng rãi trong nước - mặc dù không bằng các phần còn lại của thế giới - vì những người đối lập theo Hồi giáo dòng Sunni không ủng hộ đa nguyên về văn hóa trong việc nắm giữ quyền lực.

Trong quá khứ, nếu nói một cuộc nội chiến nào là một xung đột trong một lãnh thổ phức tạp thì đây là một cảnh báo ngầm rằng các quốc gia láng giềng nên đứng ngoài. Nhưng cuộc nội chiến ở Syria có sức lan tỏa sâu rộng hơn, nó có thể dẫn đến một cuộc xung đột rộng lớn hơn trong khu vực. Với mối đe dọa ngay trước mắt, các quốc gia quan tâm đến một Trung Đông ôn tồn và dân chủ hơn ngày càng nhận thấy rõ rằng việc tránh né giải quyết xung đột ở Syria không thể là một chọn lựa chấp nhận được.

Đáng lo thay, cuộc xung đột xem ra ngày càng giống một cuộc chiến đại diện giữa những người Iran theo dòng Hồi giáo Shia và các quốc gia Ả Rập theo Hồi giáo dòng Sunni, họ coi cộng đồng thiểu số Hồi giáo dòng Shia như là một thành trì tiềm năng thứ năm của người Iran. Iran đã tìm cách để duy trì ảnh hưởng của mình ở vùng Levant (bao gồm cả ở Lebanon và các vùng lãnh thổ của người Palestine) bằng cách cung cấp vật chất ủng hộ Assad. Ngược lại, nhiều quốc gia Ả Rập theo dòng Hồi giáo Sunni đã hỗ trợ ở những mức độ khác nhau cho phần lớn người đối lập theo dòng Hồi giáo Sunni ở Syria, một hỗn tạp các phe nhóm bao gồm  nhóm ‘Huynh Đệ Hồi Giáo’ và các lực lượng giáo phái tương tự khác như phái Hồi giáo dòng Salafi cực kỳ bảo thủ của Ai Cập.

 Bản đồ vùng Levant nằm trong màu xanh lá cây. Nhưng đôi khi còn cả các quốc gia Trung Đông Bắc Phi và Trung Á.

Nga và Trung Hoa, sưng sỉa vì bị mất mặt trong sự can thiệp của NATO do Mỹ dẫn đầu ở Libya vào năm 2011, nên đã tìm mọi cách để giữ cho cộng đồng quốc tế đứng ngoài vụ việc ở Syria. Cả hai nước đều lo ngại rằng sự can thiệp - bằng quân sự hoặc thông qua các biện pháp trừng phạt kinh tế - có thể gây tổn hại cho lợi ích của họ ở Syria, nơi mà họ - đặc biệt là Nga - nước có tầm ảnh hưởng vượt trội ở Syria.

Trong sự thiếu vắng hành động quốc tế có kế hoạch, Mỹ và châu Âu là những cường quốc có tiếng nói nặng cân đã chỉ trích về các hành vi vi phạm nhân quyền tràn ngập về phía Assad và đám sai nha của ông ta. Họ cũng đã nêu bật lên tổn thất nhân mạng trong một nỗ lực buộc nước Nga phải thực hiện một vai trò có trách nhiệm hơn bằng cách buộc Nga phải cảm thấy hổ thẹn với những việc mà Nga đã gây ra ở Syria hiện nay.

Tuy nhiên, việc lên án Assad hoặc Nga không có bất kỳ tác dụng gì, ngoại trừ việc Mỹ và phương Tây chứng tỏ với người dân Syria rằng họ đứng về phía bảo vệ người dân trong cuộc xung đột. Tương tự như vậy, những tuyên bố ủng hộ dành cho các nhóm phiến loạn vô danh, hỗn tạp; những yêu cầu của các giải pháp trừng phạt đã bị chết từ trong trứng nước; những lời kêu gọi yếu ớt cho sự ra đi của Assad (nếu như ông ta nghe theo lời khuyên); và những ý tưởng nửa vời về việc thi hành "khu vực an toàn" (một thất bại hoàn toàn ở Bosnia) không có khả năng cứu sống nhiều sinh mạng, có quá ít khả năng dẫn đến một kết cục cần thiết trong liều lĩnh.

Những gì cần thiết cho tình hình Syria hiện nay là những cuộc đàm phán nghiêm túc và kiên trì liên tục của các cường quốc quốc tế có lợi ích liên quan (tạm gọi "nhóm lợi ích") dựa trên một kết quả chính trị mang tính khả thi là điều thực sự cần thiết. "Kế Hoạch của Nhóm lợi ích" nên cùng được tiến hành với ông Annan và đội ngũ của ông ta một cách thận trọng (đội ngũ duy nhất vào thời điểm này có thể tiếp xúc với tất cả các bên liên quan). Quan trọng nhất là, tất cả các bên liên quan đến kế hoạch cần để hỗ trợ ông Annan cả trong cái chung lẫn cái riêng. Việc công khai tuyên bố hỗ trợ cho kế hoạch ngừng bắn của ông Annan, nhưng sau đó lại rỉ tai với các nhà báo là "sự việc đang đổ vỡ", như đã xảy ra lặp đi lặp lại trong những tuần gần đây, sẽ làm cho mọi việc đổ bể.

Rõ ràng rằng, một giải pháp mới là cần thiết, và một khởi đầu tốt sẽ là một kế hoạch chính trị/ngoại giao mà ông Annan thuyết phục các bên nhận ra là nó đáng giá. Tại Balkan, đoàn ngoại giao Mỹ cuối cùng đã làm cho các bên liên quan trực tiếp nhận ra giá trị “Kế hoạch của Nhóm lợi ích”. Chúng ta đã thất bại bỡi vì chúng ta là những thiên tài. Chúng ta đã thành công bởi vì chúng ta đã có được sự hỗ trợ to lớn từ tất cả các quốc gia đều muốn thấy cuộc xung đột khủng khiếp ở Bosnia kết thúc. Những hỗ trợ không hạn chế giống như thế là những gì mà ông Annan - nhà ngoại giao tốt nhất chúng ta có hiện nay - cần và xứng đáng có được.

@Project Syndicate 2012

Bài dịch của Nguyễn Ngọc Khánh - BS Hồ Hải hiệu đính - Asia Clinic, 9h49’ ngày thứ Năm, 05/7/2012

Thứ Ba, 3 tháng 7, 2012

TIỀM NĂNG TRỚ TRÊU CỦA PUTIN

Cảm ơn cháu Nguyễn Ngọc Khánh đã dịch bài này. Xin mời mọi người đọc bài nước Nga để nhìn về nước Việt tương lai.

Bài đọc liên quan:

Bài viết gốc: Putin’s Ironic Potential

Bài viết của bà Lilia Shevtsova, bà là trợ lý cao cấp của Quỹ Carnegie cho Hòa bình Quốc tế tại Mạc Tư Khoa.

MẠC TƯ KHOA – Sự tái chinh phục của Vladimir Putin trên cương vị tổng thống Nga đã gặp phải sự chế giễu rộng rãi kể cả trong và ngoài nước. Tuy nhiên, sự trở lại điện Kremlin của nhà độc tài này có thể là hy vọng tốt nhất của nước Nga để đưa nước này thoát khỏi tình trạng trì trệ.

Với sự khinh miệt công khai của mình dành cho xã hội Nga - được minh họa bằng sự phản ứng đầy nhạo báng của Putin trước các cuộc biểu tình rộng khắp - cũng như sự kiêu ngạo của ông, việc sẵn sàng bóp nghẹt bất đồng chính kiến, và nỗi sợ hãi phải cạnh tranh, Putin đã đơn thương độc mã bác bỏ sự hoang tưởng dai dẳng, bằng cách chính bản thân ông ta truyền bá: cá nhân hoá quyền lực có thể hiện đại hóa đất nước trong khi vẫn duy trì sự ổn định.

Chắc chắn là, điện Kremlin của Putin - và những sai nha tham nhũng của ông ta - vẫn nắm quyền hành (to call the shots) . Và, trong khi quyết định quay trở lại cương vị tổng thống đã làm phật lòng các phần tử năng động nhất của tầng lớp dân cư thành thị Nga, những  công dân của phần còn lại nước Nga vẫn không hài lòng nhưng không lên tiếng. Tương tự như vậy, tầng lớp chính trị và trí thức suy đồi ở nước Nga, những người mà dân chúng trông cậy rằng sẽ ủng hộ sự đổi mới, đã sao lãng việc hành động. Giá dầu tăng toàn cầu, nỗi sợ sự đổi mới cố hữu, thiếu một sự lựa chọn khả thi, và sự trông chờ vào của bố thí của nhà nước đã giữ nước Nga trong tình trạng trì trệ.

Hơn nữa, điện Kremlin của Putin đã sử dụng phương Tây - vốn mong muốn sự  tham gia và một sự "thiết lập lại" chính sách với Nga - nhằm hợp pháp hóa chế độ độc tài  và cung cấp những cơ hội cho những sai nha tha hóa của mình hội nhập vào xã hội phương Tây. Thật vậy, bằng cách sử dụng phương Tây để rửa những đồng tiền bẩn thỉu của họ, theo một cách nào đó, Putin và tay chân của ông ta đã trả thù sự sụp đổ của Liên Xô bằng cách phá hoại các giá trị của phương Tây và làm mất uy tín nền dân chủ tự do trong con mắt của người dân Nga.

Tuy nhiên, các rạn nứt đang hình thành trong xã hội Nga, đe dọa đến hiện tình nước Nga. Và không phải sự chống đối hay nổi loạn của quần chúng đang bắt đầu gây mất ổn định chế độ Putin, mà chính các lực lượng đã giúp giữ cho chế độ Putin sống sót mới là mối nguy cho chính chế độ này.

Sau 12 năm đợi chờ thay đổi từ thượng tầng kiến trúc, cuối cùng, người Nga đã hiểu rằng hệ thống chính trị của họ chỉ có thể được chuyển đổi từ hạ tầng cơ sở - thông qua cuộc cách mạng quần chúng. Vì không có các thể chế cho phép họ biểu hiện sự bất bình của mình để đòi hỏi tham nhũng phải giảm đi, nó đã bảo đảm quyền lực của giới cầm quyền, họ chỉ còn cách xuống đường.

Nhưng vấn đề còn đọng lại là, liệu lần này nước Nga sẽ thoát khỏi bi kịch trong vở tuồng truyền thống của mình, trong đó chế độ mới hóa ra lại bạo tàn hơn so với chế độ cũ? Hay nước Nga sẽ tìm thấy một con đường cách mạng ôn hòa để theo đuổi?

Hiện nay, điện Kremlin đang góp phần vào sự tàn lụi to lớn của chính nó, khủng bố tinh thần xã hội Nga một cách cố ý. Phủ nhận giá trị của chủ nghĩa tự do bằng cách sử dụng và bổ nhiệm những lãnh đạo cấp tiến với những văn ngôn mang chất cấp tiến sáo rỗng để điều hành nền cai trị độc đoán của nó, để lại sự đối lập chính trị cho các đảng cánh tả và dân tộc chủ nghĩa.

Và việc quay trở lại của Putin trong việc áp dụng chủ nghĩa Stalin bằng việc gửi cảnh sát lục soát nhà của những người đối lập, kết hợp với nỗ lực kích động sự thù địch giữa các tầng lớp trong xã hội của ông ta - ví dụ như giữa người dân tỉnh lẻ nước Nga và tầng lớp trung lưu thành phố - làm sâu sắc thêm sự đối kháng và không tin tưởng giữa quần chúng nhân dân. Bằng cách này, chế độ của Putin làm sâu sắc thêm sự trả đũa đối với những nhà chính trị bất đồng chính kiến - từ đó cản trở sự thay đổi trong hòa bình.

Những căng thẳng từ lâu đã bắt đầu nóng lên; hàng chục ngàn người đã xuống đường kể từ công bố năm 2011 của Putin rằng ông ta sẽ giành lại ngôi vị tổng thống. Việc ông ta trở lại điện Kremlin đã kích động một số các cuộc biểu tình lớn nhất mà Moscow từng chứng kiến kể từ thập niên 1990. Và, trong khi các cuộc biểu tình quần chúng đã giảm dần - phần lớn là do kết quả của điều luật chống biểu tình hà khắc mới - càng nhiều mâu thuẫn phía dưới tảng băng chìm, và cuối cùng tức nước ắt sẽ phải vỡ bờ.

Bằng cách kiểm duyệt các phương tiện truyền thông, làm mất uy tín phe đối lập ôn hòa, và khiêu khích nỗi bất mãn trong nhân dân, Putin đang đùa với lửa. Thật không thể dự đoán được khi nào thì nước Nga sẽ bùng nổ, nhưng các rạn nứt trong hệ thống là không thể chối cãi và nó ngày càng gia tăng.

Điện Kremlin, còn xa mới có khả năng  kiểm soát tình hình, không nắm bắt đầy đủ chuyện gì đang diễn ra. Nước Nga đang lao đầu vào vách đá. Những nổ lực rửa tiền lượng lớn của các sai nha ở điện Kremlin để chuẩn bị cho một cuộc hạ cánh an toàn cho mình ở phương Tây cho thấy rằng, ngay cả trong con mắt của băng đảng của Putin thì, sự kết thúc của thời kì Putin đang đến gần.

Tuy nhiên, Kremlin của Putin tiếp tục làm việc không mệt mỏi để ngăn chặn việc hình thành lực lượng chống đối mạnh mẽ - làm gia tăng nguy cơ khi chế độ sẽ sụp đổ thì không có một lực lượng thay thế có đủ khả năng để lèo lái đất nước. Putin còn nắm giữ quyền lực càng lâu, thì thảm cảnh cuối cùng của chế độ ông ta càng tàn khốc.

Cả Nga và phương Tây phải bắt đầu lập kế hoạch cho tương lai nước Nga. Nhưng đáng tiếc thay, sự thức tỉnh của nước Nga gặp phải thời kỳ mà sự khởi đầu của cái thoạt trông như là suy thoái ở phương Tây. Tuy nhiên, thay vì vẫn đồng lõa với chế độ tham nhũng của Putin, phương Tây phải giúp nhân dân Nga tìm kiếm vận mệnh mới của chính họ.

Và người dân Nga không được từ bỏ niềm hy vọng. Mà phải thấy rằng là sự trở lại điện Kremlin của Putin, mặc dù đau đớn, nhưng có thể nó là sự kết thúc nỗi đau của họ vì nó là ngòi nổ cho sự phá hủy chế độ Putin. Khi sự lựa chọn giữa sự chấm dứt nhanh một chế độ đã lỗi thời và sự suy thoái từ từ của chế độ thì, một sự sụp đổ nhanh gọn sẽ có một triễn vọng tốt hơn cho một khởi đầu mới.

@Project Syndicate 2012

Nguyễn Ngọc Khánh dịch - BS Hồ Hải hiệu đính - Asia Clinic, 17h08’ ngày thứ Ba, 03/7/2012