nha ban quan tan binh | mua nha quan tan binh
Hiển thị các bài đăng có nhãn y khoa. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn y khoa. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 6 tháng 6, 2015

DỊCH MERS - MIDDLE EAST RESPIRATORY SYNDROME

Dịch MERS là gì?

Dịch MERS, hay Hội chứng hô hấp Trung Đông (Middle East Respiratory Syndrome: MERS) là một hội chứng  hô hấp do Coronavirus gây ra - cùng loại virus gây cảm lạnh thông thường - gọi là MERS-CoV. 

Coronavirus lớn nhất trong tất cả các virus RNA. Chúng được phân thành 4 chi:. Alphacoronavirus, betacoronavirus, gammacoronavirus, và deltacoronavirus. 

SARS-CoV thuộc betacoronavirus dòng B và chịu trách nhiệm về dịch SARS năm 2002-2003.

So với hội chứng hô hấp cấp tính nặng SARS-CoV, thì MERS có thể tác động lên các đại thực bào gây phóng thích cytokine làm gia tăng tình trạng viêm, tổn thương mô, dẫn đến viêm phổi nặng hơn và suy hô hấp. Tế bào nội mô mạch máu nằm trong mô kẽ phổi cũng có thể bị nhiễm MERS-CoV, và vì các cảm thụ DPP4 của MERS-CoV ở trong các tế bào của các mô khác nhau, nên nhiễm trùng đều có thể xảy ra . Điều này giải thích mức độ nghiêm trọng hơn và tỷ lệ tử vong cao hơn ở những trường hợp nhiễm MERS-CoV so với nhiễm SARS-CoV.


MERS-CoV thuộc betacoronavirus dòng C mới được phát hiện lần đầu tiên ở Saudi Arabia năm 2012. Tính đến tháng 6 năm 2015, các trường hợp MERS-CoV đã được báo cáo tại hơn 20 quốc gia, bao gồm Saudi Arabia, Jordan, Qatar, Ai Cập, Kuwait, Thổ Nhĩ Kỳ, Oman, Algeria, Bangladesh, Indonesia, Áo , Vương quốc Anh, Hàn Quốc, Hoa Kỳ và Trung Quốc (cả đại lục và Hồng Kông)… Hầu hết các trường hợp xảy ra ngoài Trung Đông đều liên quan đến Saudi Arabia. Sự bùng nổ gần đây nhất là ở Hàn Quốc với hơn 30 trường hợp được báo cáo, và hơn 1300 người bị cách ly. 


Nguồn gốc chính xác của coronavirus mới này vẫn chưa rõ. Nghiên cứu ban đầu chỉ ra rằng MERS-CoV có thể liên quan tới một loại virus tìm thấy ở loài dơi, nhưng bằng chứng gần đây cho thấy virus liên quan gần với lạc đà. Tháng 10/ 2013, MERS-CoV được xác nhận trong mẫu phết mũi của 3 con lạc đà qua xét nghiệm RT-PCR . Cơ chế truyền bệnh từ động vật sang người vẫn chưa biết, nhưng sự truyền bệnh từ người sang người đã được chứng minh.

Tính đến ngày 12/5/2014, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã xác nhận 536 trường hợp xét nghiệm khẳng định nhiễm MERS-CoV đã được báo cáo, trong đó có 145 trường hợp tử vong (tỷ lệ 30%). Tuy nhiên, số liệu cập nhật trong báo cáo của Saudi Arabia gần đây cho thấy số trường hợp mắc đã tăng lên đến 688 và tỉ lệ tử vong lên đến 40%. Tử vong cao do chẩn đoán chậm và thiếu phương pháp điều trị hiệu quả. Lớn tuổi, hệ thống miễn dịch suy yếu và các bệnh mãn tính đi kèm như tiểu đường, bệnh thận giai đoạn cuối, bệnh lý tim mạch và phổi mạn tính có liên quan đến tình trạng nặng hơn và nguy cơ tử vong cao hơn.

Biểu hiện bệnh ra sao?

Thời gian ủ bệnh trung bình 5.2 ngày, có trường hợp lên đến 12 ngày. 



Các biểu hiện ban đầu thường giống cúm, gồm sốt, ớn lạnh, chảy nước mũi (thường là mũi trong), mệt mỏi, và đau cơ. 

Nhịp tim nhanh, thường thứ phát do sốt.

Về hô hấp, ho và khó thở là triệu chứng nổi bật. Nghe phổi bình thường hoặc rale ngáy. Viêm phổi phổ biến. Hầu hết các bệnh nhân được chẩn đoán xác định MERS đều trong bệnh cảnh hô hấp cấp. Trong những trường hợp nặng, bệnh nhân bị suy hô hấp cấp cần thông khí cơ học và Oxy hóa máu bằng kỹ thuật màng ngoài cơ thể (extracorporeal membrane oxygenation: ECMO). 

Triệu chứng tiêu hóa bao gồm chán ăn, buồn nôn, tiêu chảy, đau bụng. 

Một số trường hợp nặng suy thận cấp phải chạy thận nhân tạo, giảm bạch cầu lympho, giảm tiểu cầu, và / hoặc suy đa phủ tạng với rối loạn đông máu,.

Xét nghiệm xác định MERS-CoV chưa phổ biến, chỉ có xét nghiệm PCR tại các sở y tế nhà nước, Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa dịch bệnh. Một số test nhanh chưa được Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ FDA phê duyệt.

Chữa trị thế nào?

Không có điều trị đặc hiệu cho MERS-CoV.

Chủ yếu là điều trị hỗ trợ như nghỉ ngơi, bù dịch, hạ sốt, giảm đau, hỗ trợ hô hấp, kháng sinh nếu bội nhiễm vi khuẩn. Oxy cho trường hợp nặng.
Interferon alfa 2b kết hợp ribavirin có thể được xem xét vì thấy có hiệu quả ở khỉ nâu. Một nghiên cứu nhỏ gần đây với 5 bệnh nhân không cho thấy bất kỳ lợi ích nào của điều trị này. Tuy nhiên, các bệnh nhân này đều bị bệnh nặng và thở máy, và thời gian trung bình từ lúc nhập viện đến khi được điều trị này là 19 ngày, có lẽ là quá muộn để chứng minh bất kỳ lợi ích nào.

Vậy, bạn phải làm gì?

Không giống như cúm hoặc cảm lạnh thông thường, MERS-CoV dường như không thể lây lan qua tiếp xúc thông thường trong cộng đồng. Thay vào đó, MERS-CoV lây lan chủ yếu do tiếp xúc gần với người bị nhiễm bệnh, chẳng hạn như những người sống chung hoặc chăm sóc trực tiếp cho người bệnh.

Hiện tại không có thuốc chủng ngừa MERS-CoV.

Tuy nhiên, như các virus khác, bạn có thể làm giảm nguy cơ lây nhiễm bằng cách chú ‎ý vấn đề vệ sinh:

Rửa tay thường xuyên bằng xà phòng và nước trong 20 giây; nếu nước và xà phòng không có sẵn, sử dụng chất rửa tay chứa cồn.

Che mũi và miệng bằng khăn giấy khi ho hoặc hắt hơi. Vứt khăn giấy đã dùng vào thùng rác ngay lập tức, và sau đó rửa tay cẩn thận.

Tránh chạm tay vào mặt, miệng và mũi khi chưa rửa tay

Tránh tiếp xúc gần với người bị bệnh, chẳng hạn như hôn. Tránh dùng chung ly chén, đồ dùng ăn uống, các  vật dụng khác của người bệnh.

Làm sạch và khử trùng các bề mặt thường tiếp xúc, chẳng hạn như đồ chơi và tay nắm cửa

Thế đi du lịch thì sao?

Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa dịch bệnh và Tổ chức Y tế Thế giới đang theo dõi chặt chẽ tình hình dịch bệnh. Tất cả các nước thành viên được nhắc nhở kịp thời đánh giá và thông báo cho WHO về bất kỳ trường hợp mới nhiễm MERS-CoV, cùng với thông tin về phơi nhiễm tiềm năng mà có thể dẫn đến nhiễm trùng và một mô tả về diễn biến lâm sàng. 




Hiện chưa có khuyến cáo đề xuất thay đổi kế hoạch du lịch của bạn nếu bạn đang đi du lịch đến Trung Đông hay những nơi khác mà các virus đã được báo cáo.

Nếu du khách vừa ghé thăm các nước trong hoặc gần bán đảo Ả Rập nên liên hệ với cơ sở y tế nếu xuất hiện các triệu chứng của MERS (tức là, sốt, ho, khó thở, đau cơ) trong vòng 14 ngày kể từ ngày trở về. Người nào đã tiếp xúc gần với họ cũng nên được xem xét tình trạng lây nhiễm. 



Tham khảo:
http://www.who.int/csr/don/2013_05_31_ncov/en/
http://emedicine.medscape.com/article/2218969-overview
http://www.mayoclinic.org/diseases-conditions/sars/expert-answers/what-is-mers-cov/faq-20094747

Asia Clinic, Chúa Nhựt 9:18', 06/6/2015

Thứ Ba, 19 tháng 5, 2015

LOÃNG XƯƠNG (OSTEOPOROSIS): PHẦN I

Bài viết của BS ThS Hàn Tiểu Sảo

PHẦN I: ĐẠI CƯƠNG HỆ XƯƠNG


Chúng ta sinh ra với khoảng 300 xương mềm. Suốt thời thơ ấu và niên thiếu, sụn phát triển và dần được thay thế bởi xương cứng. Một số xương sau này hợp nhất với nhau, do đó bộ xương người lớn có 206 xương.

Xương đóng nhiều vai trò trong cơ thể : 

Khung nâng đỡ cơ thể.
Bảo vệ các tạng.
Chỗ bám của cơ để chúng ta có thể di chuyển, vận động
Môi trường cho tủy (nơi các tế bào máu được sản xuất).
Khu vực lưu trữ các chất khoáng (như cancium).

Dựa theo hình dạng, xương được phân thành 4 loại:


1/ Xương dẹt (flat bones): bề mặt mỏng và rộng, có chức năng bảo vệ, ví dụ các tấm hộp sọ, xương bả vai, xương ức, xương sườn.

2/ Xương dài (long bones): có trục hình ống và mặt khớp ở mỗi đầu, ví dụ xương đùi, xương cánh tay, xương chày.

3/ Xương ngắn (short bones): có trục hình ống và mặt khớp ở mỗi đầu giống xương dài nhưng nhỏ hơn nhiều, ví dụ xương đòn, xương bàn và đốt ngón tay chân.

4/ Xương bất định (irregular bones): đai dạng (dài, ngắn, phẳng), ví dụ đốt sống, cổ tay cổ chân, xương bánh chè.

Ngoài ra, còn có các xương vừng (sasemoid bones) nhỏ, phát triển trong các gân cơ nằm quanh khớp xương đề bảo vệ và tăng cường tác động cơ học của gân cơ, sự vững chắc của khớp.

Cấu trúc xương từ ngoài vào trong:


Cấu Trúc xương

Xương được bao phủ bởi một màng mỏng gọi là màng xương (periosteum: ngoại cốt mạc): là một màng liên kết dai, đính chặt vào xương, gồm 2 lá: lá ngoài chứa các nhánh tận cùng của thần kinh cảm giác nên chấn thương xương thì đau đớn bởi vì các dây thần kinh đau cảm ứng nằm chủ yếu ở màng xương, lá trong chứa các tạo cốt bào, hủy cốt bào và nhiều mạch máu. 
Các mặt khớp không có màng xương.

Vỏ cứng gọi là vỏ xương (compact bone): là mô xương đặc, rắn chắc. Gồm chủ yếu protein (như collagen) và hydroxyapatite (trong đó bao gồm chủ yếu là canxi và các khoáng chất khác). Hydroxyapatite chịu trách nhiệm về sức mạnh và mật độ của xương. 

Lớp xốp bên trong (cancellous bone): do nhiều bè xương (trabecular) đan chéo nhau, tạo nên những hốc nhỏ. Mạng lưới các bè xương nhẹ hơn và ít dày đặc hơn so với phần bên ngoài cứng nhưng vẫn đóng góp đáng kể vào sức mạnh của xương. Việc giảm số lượng hoặc chất lượng của bè xương làm tăng nguy cơ gãy xương.

Tủy xương (bone marrow) là mô lấp đầy khoảng trống trong bè xương. Tủy xương gồm tủy đỏ là nơi tạo huyết chứa những tế bào chuyên biệt (bao gồm cả tế bào gốc) sản xuất các tế bào máu, tủy vàng chứa nhiều tế bào mỡ có trong các ống tủy (medullary cavity) của thân xương dài. 

Xương được cấu tạo bởi:

1/ Nguyên bào tạo xương (osteoblasts) và tế bào tạo xương (osteocytes) tham gia vào việc tạo xương và khoáng hóa mô xương. 

2/ Tế bào hủy xương (hủy cốt bào: osteoclasts): là các tế bào chịu trách nhiệm cho sự hủy xương.

3/ Chất nền collagen và noncollagenous protein (osteoid).

4/ Muối khoáng vô cơ lắng đọng trong chất nền. Độ cứng của xương là do sự hiện diện của muối khoáng trong chất nền, là một phức hợp tinh thể canxi và phosphate (hydroxyapatite). Xương bị vôi hóa có chứa khoảng 25% chất nền hữu cơ (2-5% trong số đó là các tế bào), 5% nước và 70% khoáng vô cơ (hydroxyapatite).

Cấu trúc xương điều chỉnh trong suốt cuộc đời để đáp ứng với hoạt động và sức nặng cơ học. Xương được tu sửa liên tục. Trong quá trình này, xương mới được tạo và xương cũ bị phá hủy, mô xương cũ được dần  thay thế bởi mô xương mới.

Mỗi xương trong cơ thể được hoàn toàn đổi mới mỗi 10 năm. Khi còn trẻ, quá trình tạo xương mới nhanh hơn sự phá hủy xương cũ, nên xương tăng khối lượng. Hầu hết mọi người đạt được đỉnh cao khối lượng xương ở tuổi 30. Sau đó, tu sửa xương vẫn tiếp tục, nhưng sự mất xương nhiều hơn sự tạo xương. Loãng xương là hậu quả của sự phá vỡ cân bằng bình thường của 2 quá trình tạo xương và hủy xương: sự mất xương vượt quá sự hình thành xương, dẫn đến khối lượng xương thấp, bất thường vi kiến trúc xương, tăng nguy cơ gãy xương.

Mời đọc phần 2: Loãng xương

Asia Clinic, 9h46' ngày thứ Tư, 20/5/2015