nha ban quan tan binh | mua nha quan tan binh
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nobel các giải. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nobel các giải. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 7 tháng 10, 2014

NOBEL Y HỌC 2014

Bài đọc liên quan:
+ Nobel y học 2013
+ Nobel y học 2012
+ Nobel y học 2011
+ Nobel y học 2010
+ Nobel y học 2009

Đến hẹn lại lên, hôm qua, 06/10/2014, giái Nobel Y học đã được trao cho lĩnh vực phân tử sinh học cấu trúc và dẫn truyền thần kinh học. Vì quá bận, nên hôm nay tôi xin sơ lược lại giải này. Vấn đề mà hơn 200 năm qua các triết gia và các nhà y học vẫn còn bế tắc. Và nó đã được đặt vấn đề về mặt khoa học thực nghiệm đã 43 năm qua do John O'Keefe

Giải Nobel Sinh lý học và Y học 2014 đã được phân chia cho 3 người - một người là sinh trưởng ở New York, Hoa Kỳ, nhưng có 2 quốc tịch Hoa Kỳ và Anh, ông John O'Keefe nhận 1/2 giải Nobel Y học 2014. Và 2 người kia chia nhau 1/2 giải còn lại là, một cặp vợ chồng, cũng là đồng nghiệp từ thời nghiên cứu sinh người Nauy - Britt Moser và Edvard I. Moser - cho những khám phá của họ về tế bào não tạo thành một hệ thống định vị cho chúng ta. 

Làm thế nào để chúng ta biết ta đang ở đâu? Làm thế nào chúng ta có thể tìm ra con đường từ nơi này sang nơi khác? Và làm thế nào chúng ta có thể lưu trữ thông tin này mà chúng ta, ngay lập tức có thể tìm thấy con đường này trong lần sau, khi chúng ta cần đến? Giải Nobel đã trao cho việc phát hiện ra một hệ thống định vị, với cái gọi là "GPS bên trong não" nó làm cho con người có thể để định hướng cho mình trong không gian, thể hiện một nền tảng tế bào học cho các chức năng nhận thức cao hơn.

Năm 1971, John O'Keefe phát hiện ra các thành phần đầu tiên của hệ thống định vị này. Ông phát hiện ra rằng, có một loại tế bào thần kinh trong vùng não gọi là Hồi Hải Mã - hippocampus - khi ông thí nghiệm thì thấy một loại tế bào thần kinh được kích hoạt vùng não này khi con chuột đang ở một nơi nào đó trong một căn phòng. Ông lại thấy một loại tế bào thần kinh khác được kích hoạt khi chuột đang ở những nơi khác. O'Keefe kết luận rằng những "tế bào định vị" thành lập một bản đồ của căn phòng. 

Hơn ba thập kỷ sau đó, vào năm 2005, May-Britt và Edvard Moser phát hiện một thành phần quan trọng của hệ thống định vị của não. Họ đã xác định một loại tế bào thần kinh, mà họ gọi là "tế bào lưới" - grid cell. Chúng tạo ra một hệ thống phối hợp và cho phép định vị và tìm đường chính xác. Nghiên cứu tiếp theo của họ cho thấy làm thế nào mà các tế bào lưới có thể xác định vị trí và điều chỉnh hướng. 

Những khám phá của John O'Keefe, May-Britt Moser và Edvard Moser đã giải quyết được một vấn đề mà đã làm mất thời gian rất dài cho các triết gia và các nhà khoa học trong nhiều thế kỷ - Bằng cách nào mà bộ não tạo ra một bản đồ không gian xung quanh chúng ta, và làm thế nào chúng ta có thể điều chỉnh hướng đi theo trong một hệ thống quy hoạch phức tạp? 

Làm thế nào để chúng ta trải nghiệm môi trường của chúng ta? 

Ý thức về địa điểm và khả năng điều chỉnh hướng là nền tảng cho sự tồn tại của chúng ta. Cảm nhận của vị trí và khả năng đưa ra một nhận thức về vị trí trong hoàn cảnh thực tại. Trong khi điều chỉnh hướng, nó được liên kết với nhau với một cảm giác về khoảng cách đó là dựa trên chuyển động và kiến ​​thức về vị trí trước đó. 

Các câu hỏi về vị trí và điều chỉnh hướng đã được các triết gia và các nhà khoa học tìm hiểu trong một thời gian dài. Hơn 200 năm trước, nhà triết học Đức Immanuel Kant cho rằng một số khả năng tinh thần tồn tại như một kiến thức tiên nghiệm, độc lập kinh nghiệm. Ông được coi là người đưa ra các khái niệm về không gian như một nguyên tắc sẵn có của tâm, thông qua tâm của con người mà thế giới được nhận thức. Với sự ra đời của tâm lý học hành vi trong giữa thế kỷ 20, những câu hỏi này có thể được giải quyết bằng thực nghiệm. Khi Edward Tolman kiểm tra chuột di chuyển qua mê cung, anh ta phát hiện ra rằng, chúng có thể tìm hiểu làm thế nào để điều chỉnh hướng, và ông đã đề nghị một "bản đồ nhận thức" được hình thành trong não cho phép động vật đưa ra cách của chúng để tìm ra đường đi đến nơi chúng cần đến. Nhưng câu hỏi vẫn còn nán lại - làm thế nào một bản đồ như vậy lại được hiện diện trong bộ não? 

John O'Keefe và vị trí trong không gian 

John O'Keefe bị thu hút bởi những vấn đề làm thế nào bộ não kiểm soát hành vi và quyết định, trong những năm cuối thập niên 1960, để giải quyết các câu hỏi này với các phương pháp sinh lý thần kinh. Khi ghi âm tín hiệu từ tế bào thần kinh riêng lẻ trong một phần của não gọi là Hồi Hải Mã - hippocampus, ở chuột di chuyển tự do trong một căn phòng, O'Keefe phát hiện ra rằng các tế bào thần kinh nào đó được kích hoạt khi con vật đang ở một vị trí đặc biệt trong môi trường (Hình 1). Ông có thể chứng minh rằng các "tế bào định vị"(place cell) không chỉ đơn thuần là ghi nhận đầu vào thị giác, mà chúng đã xây dựng một bản đồ bên trong não bộ của môi trường xung quanh. O'Keefe kết luận rằng vùng Hồi Hải Mã - hippocampus - tạo ra rất nhiều bản đồ, đại diện bởi các hoạt động nhóm của các tế bào nơi đó được kích hoạt trong những môi trường khác nhau. Do đó, bộ nhớ của một môi trường có thể được lưu trữ như là một sự kết hợp các hoạt động cụ thể của tế bào diễn ra trong vùng hippocampus. 

Hình 1: Vị trí giải phẫu của Hồi Hải Mã(Hippocamus) và Khứu Não(Intorhinal Cortex)

May-Britt và Edvard Moser đi tìm tọa độ 


Hình 2 ở trên, và Hình 3 ở dưới mô tả các tế bào thần kinh trong não hoạt động gồm có 1 loại tế bào: Tế bào định vị - place cell - và Tế bào lưới - grid cell - tạo ra một hệ thống bản đồ như 1 cái GPS bên trong não cho chúng ta ghi nhận và nhớ để sau này cần đến mà sử dụng.

May-Britt và Edvard Moser đã lập được bản đồ các kết nối tới vùng Hồi Hải Mã - hippocampus - ở chuột di chuyển trong một căn phòng khi họ phát hiện ra một mô hình đáng kinh ngạc của các hoạt động trong một phần lân cận của não gọi là Khứu Não - entorhinal cortex. Ở đây, một số tế bào được kích hoạt khi các con chuột đi qua nhiều địa điểm được sắp xếp trong một mạng lưới hình lục giác(Hình 2). Mỗi một tế bào đã được kích hoạt trong một mô hình không gian độc đáo và tập thể các "tế bào lưới" tạo thành một hệ thống phối hợp cho phép chúng truy cập không gian. Cùng với các tế bào khác của khứu não nhận biết đâu là đầu và cuối của căn phòng, và biên giới của căn phòng, chúng tạo thành các mạch với các tế bào định vị trong vùng hippocampus. Mạch này tạo thành một hệ thống toàn diện định vị - gọi là GPS bên trong - trong não (hình 3). 

Một nơi cho các bản đồ trong bộ não con người 

Những nghiên cứu gần đây với kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh về não, cũng như các nghiên cứu về bệnh nhân trải qua phẫu thuật thần kinh, đã cung cấp bằng chứng cho thấy vị trí và lưới tế bào này cũng tồn tại trong con người. Ở những bệnh nhân bị bệnh Alzheimer, vùng Hồi Hải Mã và Khứu Não - entorhinal cortex - thường xuyên bị ảnh hưởng ở giai đoạn đầu, và những người này thường bị mất trí nhớ theo cách của họ và không thể nhận ra môi trường. Do đó, kiến thức về hệ thống định vị não có thể giúp chúng ta hiểu được cơ chế làm cơ sở cho sự mất trí nhớ không gian bị tàn phá ảnh hưởng đến những người mắc bệnh này. 

Việc phát hiện ra hệ thống định vị của não bộ trình bày cho một sự thay đổi mô hình trong sự hiểu biết của chúng ta về công trình của cụm các tế bào chuyên biệt làm việc với nhau để thực hiện chức năng nhận thức cao hơn. Nó đã mở ra con đường mới cho sự hiểu biết quá trình nhận thức khác, chẳng hạn như bộ nhớ, tư duy và lập kế hoạch.

Lược sử cá nhân của 3 nhà khoa học

John O'Keefe người đặt nền tảng cho nghiên cứu bản đồ sinh học phân tử cấu trúc thần kinh. Ông nhận một nửa giải Nobel Y học 2014.

John O'Keefe sinh năm 1939 tại thành phố New York, Hoa Kỳ, và ông là công dân có cả hai quốc tịch Mỹ và Anh. Ông nhận bằng tiến sĩ về học sinh lý học tâm thần kinh của McGill University, Canada vào năm 1967. Sau đó, ông chuyển đến Anh để đào tạo sau tiến sĩ tại University College London. Ông vẫn ở Đại học và được bổ nhiệm làm giáo sư khoa học thần kinh nhận thức vào năm 1987. John O'Keefe hiện đang là Giám đốc Trung tâm Wellcome Sainsbury trong mạch thần kinh và hành vi tại University College London. 

May-Britt Moser được sinh ra ở Fosnavåg, Na Uy vào năm 1963 và là một công dân Na Uy. Cô nghiên cứu tâm lý học tại University of Oslo cùng với chồng tương lai của mình và đồng nghiệp của cô, người cùng lãnh 1/4 giải Nobel 2014 - Laureate Edvard Moser. Cô đã nhận được bằng tiến sĩ thần kinh trong năm 1995 Cô nghiên cứu sau tiến sĩ tại University of Edinburgh, và sau đó một nhà khoa học, được thỉnh giảng tại University College London trước khi chuyển đến Norwegian University of Science and Technology in Trondheim vào năm 1996. May-Britt Moser được bổ nhiệm làm giáo sư thần kinh học vào năm 2000 và hiện đang là Giám đốc Centre for Neural Computation in Trondheim.

Hai vợ chồng Edward I. Moser và Mary-Britt Moser tiếp nối và hoàn thiện những gì mà John O'Keefe đã đặt những viên gạch đầu tiên. Họ cùng chia nhau 1/2 giải Nobel Y học 2014

Edvard I. Moser sinh năm 1962 tại Ålesund, Na Uy và có quốc tịch Na Uy. Ông lấy bằng tiến sĩ ngành sinh lý thần kinh của University of Oslo vào năm 1995. Ông là một nhà nghiên cứu sau tiến sĩ cùng với vợ và là đồng nghiệp Laureate May-Britt Moser, đầu tiên, họ làm sau tiến sĩ ở tại University of Edinburgh, rồi sau đó họ đến thăm phòng thí nghiệm của John O'Keefe's ở London. Năm 1996, họ chuyển đến Norwegian University of Science and Technology in Trondheim, nơi mà ông Edvard Moser trở thành giáo sư vào năm 1998. Ông hiện là Viện trưởng của Kavli Institute for Systems Neuroscience in Trondheim.

Tư gia, 22h59' ngày thứ Ba, 07/10/2014

Thứ Hai, 7 tháng 10, 2013

NOBEL Y HỌC 2013

Bài đọc liên quan:
+ Nhị nguyên luận trong Nobel y học 2009
+ Nobel y học 2010
+ Nobel y học 2011
+ Nobel y học 2012

Hôm nay giải Nobel y học 2013 đã được trao lúc 9h45' sáng giờ GMT, tức khoảng 16h45' giờ Việt Nam cho 3 nhà khoa học sinh học phân tử và sinh lý tế bào.

Giới thiệu về 3 nhà khoa học nhận giản Nobel y học 2013

Ba nhà khoa học đó gồm có 2 là Hoa Kỳ - James Rothman và Randy Schekman. Và 1 người còn lại là người Đức - Thomas Sudhof. Gọi là 3 nhà khoa học ở 2 quốc gia, nhưng cũng giống năm 2012, thực chất 3 nhà khoa học này đều nghiên cứu và làm việc tại Hoa Kỳ.

James E. Rothman sinh năm 1950 ở Haverhill, Massachusetts, Hoa Kỳ. Ông nhận bằng tiến sĩ từ Trường Y Harvard vào năm 1976, là một nhà nghiên cứu sau tiến sĩ tại Massachusetts Institute of Technology, và năm 1978 đến Stanford University ở California, nơi ông bắt đầu nghiên cứu của mình trên các túi của tế bào. Rothman cũng đã làm việc tại Princeton University, Memorial Sloan-Kettering Cancer Institute và Columbia University. Năm 2008, ông tham gia giảng dạy của Yale University ở New Haven, Connecticut, Hoa Kỳ, nơi mà ông hiện là giáo sư và Chủ nhiệm Khoa Sinh học tế bào.

Randy W. Schekman sinh năm 1948 tại St Paul, Minnesota, Hoa Kỳ, nghiên cứu tại University of California Los Angeles và tại Stanford University, nơi ông lấy bằng tiến sĩ vào năm 1974 dưới sự giám sát của Arthur Kornberg (giải Nobel năm 1959) và tại khoa này Rothman tham gia một vài năm tiếp theo sau đó. Và từ năm 1976, Schekman tham gia giảng dạy của University of California at Berkeley, nơi ông hiện là giáo sư tại Khoa Sinh học phân tử và tế bào. Schekman cũng là một nhà nghiên cứu của Howard Hughes Medical Institute.

Thomas C. Südhof sinh năm 1955 tại Göttingen, Đức. Ông học tại Georg-August-Universität in Göttingen, nơi ông nhận được một chương trình kép cho
2 bằng tiến sĩ y khoa và tiến sĩ hóa thần kinh trong cùng một năm 1982. Năm 1983, ông chuyển đến University of Texas Southwestern Medical Center in Dallas, Texas, Hoa Kỳ, như là một thành viên nghiên cứu sau tiến sĩ với Michael Brown và Joseph Goldstein (những người cùng nhận giải thưởng Nobel năm 1985 về Sinh lý học và Y học). Südhof đã trở thành một nhà nghiên cứu của Howard Hughes Medical Institute vào năm 1991, và được bổ nhiệm làm giáo sư sinh lý học phân tử và tế bào tại Stanford University năm 2008.

Ba ông đã có công tìm ra phương pháp vận tải của tế bào đối với các chất liệu thiết yếu xây dựng và hoạt động sống của tế bào. Phương thức này được đặt tên là phương thức vận chuyển chính xác bằng túi của tế bào, hay nói gọn hơn là vận chuyển túi - precisely material transport of cells.

Mỗi tế bào là một nhà máy sản xuất và xuất khẩu các phân tử. Ví dụ, insulin được sản xuất và đưa vào máu, và đồng thời các các hóa chất được gọi là tín hiệu dẫn truyền thần kinh được gửi từ một tế bào thần kinh khác.

Các phân tử này được vận chuyển xung quanh màng các tế bào trong các gói nhỏ được gọi là túi - vesicle.

Ba người đoạt giải Nobel đã phát hiện ra những nguyên lý kiểm soát phân tử, và cách thức vận chuyển những vật liệu này để gửi đến đúng nơi, vào đúng thời điểm mà nhu cầu bên trong tế bào cần đến chúng.

Randy Schekman phát hiện ra một bộ gene đã chỉ huy giao thông túi. James Rothman làm sáng tỏ cấu trúc loại protein cho phép các túi này hợp nhất với mục tiêu của chúng để cho phép chuyển giao hàng hóa. Thomas Südhof tìm ra tín hiệu hướng dẫn các túi để giải phóng hàng hóa của chúng với độ chính xác cao.

Thông qua những khám phá của họ - Rothman , Schekman và Südhof - đã cho thấy một hệ thống điều khiển tinh xảo, chính xác cho việc vận chuyển và phân phối hàng hóa của tế bào. Rối loạn trong hệ thống này có tác hại và góp phần vào gây ra những bệnh lý như: bệnh thần kinh, tiểu đường, và các rối loạn miễn dịch.

Làm thế nào hàng hóa được vận chuyển trong và ngoài tế bào

Giống như vận trù ở một bến cảng lớn và bận rộn, hệ thống được yêu cầu để đảm bảo rằng hàng hóa được vận chuyển đúng đến đích chính xác vào đúng thời điểm. 

Các tế bào, với các ngăn khác nhau của nó gọi là bào quan, phải đối mặt với một vấn đề tương tự như sau: các tế bào sản xuất các phân tử hóa chất như kích thích tố, dẫn truyền thần kinh, các cytokine và enzyme phải được gửi đến những nơi khác bên trong tế bào, hoặc xuất khẩu ra khỏi tế bào, đúng chính xác thời điểm và vị trí cần thiết. 

Thời gian và địa điểm là vấn đề đóng vai trò quan trọng nhất. Túi nhỏ giống như bong bóng, bao bọc bởi một màng, xe đưa đón các hàng hoá giữa các quan tử hoặc tiếp xúc với bên ngoài màng tế bào và giải phóng hàng của chúng ra bên ngoài. Điều này có tầm quan trọng lớn, vì nó gây kích hoạt thần kinh trong trường hợp của các hóa chất truyền tín hiệu thần kinh, hoặc kiểm soát sự trao đổi chất trong trường hợp của những kích thích tố. Làm thế nào để những cái túi biết ở đâu và khi nào cung cấp hàng hóa của chúng? Đó là vận trù hàng hóa của những khám phá này.

Ùn tắc giao thông là do bộ điều khiển di truyền

Randy Schekman bị thu hút bởi cách các tế bào tổ chức hệ thống giao thông và trong những năm 1970 đã quyết định nghiên cứu cơ sở di truyền của nó bằng cách sử dụng nấm men như một hệ thống mô hình. Trong một mô hình di truyền, ông đã xác định được tế bào nấm men với khiếm khuyết vận tải vật liệu, dẫn đến một tình huống tương tự như một hệ thống giao thông công cộng bị lên kế hoạch tồi. Hậu quả là các túi chứa hóa chất vật liệu bị chất đống ở các bộ phận nhất định của tế bào.

Ông phát hiện ra rằng nguyên nhân gây ra tình trạng tắc nghẽn này là di truyền và tiếp tục xác định các gen bị đột biến. Schekman xác định ba loại gen kiểm soát các khía cạnh khác nhau của hệ thống giao thông của tế bào, qua đó cung cấp những hiểu biết mới vào bộ máy điều hòa chặt chẽ giữ vai trò trung gian vận chuyển túi trong tế bào.

Lắp ghép với độ chính xác

James Rothman cũng bị hấp dẫn bởi bản chất của hệ thống giao thông của tế bào. Khi nghiên cứu giao thông vận tải túi trong các tế bào động vật có vú trong những năm 1980s và 1990s, Rothman phát hiện ra rằng một phức hợp protein cho phép các túi cập bến và kết hợp được với những mục tiêu trên màng tế bào của chúng. Trong quá trình hợp nhất, các protein trên các túi và những mục tiêu trên màng tế bào kết hợp với nhau như hai mặt của một dây khóa quần áo.

Thực tế là có rất nhiều protein như vậy, và chúng chỉ ràng buộc trong sự kết hợp cụ thể đảm bảo rằng hàng hóa được chuyển giao cho một vị trí chính xác. Cùng một nguyên lý hoạt động bên trong tế bào và khi túi gắn vào màng ngoài của tế bào để phát tín hiệu và chất liệu của nó .

Nó cho thấy rằng một số gen Schekman đã phát hiện trong men mã hóa cho protein tương ứng với những gì Rothman xác định trong động vật có vú, tiết lộ một nguồn gốc tiến hóa của hệ thống giao thông. Nói chung, chúng phản ảnh các thành phần quan trọng của thiết bị vận chuyển của tế bào.

Thời gian là vấn đề cốt lõi

Thomas Südhof đã quan tâm đến cách các tế bào thần kinh thông tin với nhau trong não. Các phân tử tín hiệu, dẫn truyền thần kinh, được giải phóng khỏi các túi kết nối với màng ngoài của tế bào thần kinh bằng cách sử dụng các thiết bị được phát hiện bởi Rothman và Schekman. Nhưng những túi chỉ được phép phóng thích vật liệu nó mang theo khi các tín hiệu tế bào thần kinh dến với các vùng lân cận. Làm thế nào để sự phóng thích này được kiểm soát một cách chính xác như vậy?

Ion canxi được biết là có liên quan đến quá trình này và trong những năm 1990, Südhof tìm kiếm những protein nhạy cảm với canxi trong các tế bào thần kinh. Ông đã xác định thiết bị phân tử đáp ứng với một dòng của các ion canxi và những protein trực tiếp tiếp xúc nhanh chóng để gắn túi vào màng ngoài của tế bào thần kinh. Dây khóa mở ra và các chất tín hiệu được phóng thích. Phát hiện của Südhof giải thích sự chính xác về thời gian đạt được và làm thế nào để những chất liệu bên trong các túi 'có thể được phóng thích theo mệnh lệnh .

Vận chuyển túi cho cái nhìn sâu sắc vào các quá trình bệnh

Ba người đoạt giải Nobel đã phát hiện ra một quá trình cơ bản trong sinh lý tế bào. Những khám phá này đã có một tác động lớn đến sự hiểu biết của chúng ta về hàng hóa được cung cấp với thời gian và độ chính xác bên trong và bên ngoài tế bào. Vận chuyển túi và tập hợp những phản ứng hoạt động với các nguyên tắc chung đó, trong các sinh vật khác nhau như nấm men và con người.

Hệ thống là rất chặt chẽ cho một loạt các quá trình sinh lý trong đó sự kết hợp giữa túi và màng tế bào phải được kiểm soát, sắp xếp từ tín hiệu trong não bộ để phóng thích các kích thích tố và các cytokine miễn dịch. Khiếm khuyết vận chuyển túi xảy ra trong nhiều loại bệnh trong đó có một số rối loạn thần kinh và miễn dịch, cũng như trong bệnh tiểu đường. Không có tổ chức chính xác tuyệt vời này, các tế bào sẽ rơi vào hỗn loạn .

Những đóng góp này sẽ mở ra cho ngành dược tìm ra thuốc và ngành y sẽ tìm ra cơ chế điều hòa vận chuyển túi trong quá trình điều trị 3 lĩnh vực bệnh lý thần kinh, tiểu đường và miễn dịch.

Tư Gia, 21h19' ngày thứ Hai, 07/10/2013

Thứ Hai, 8 tháng 10, 2012

NOBEL Y HỌC 2012 TRAO CHO CÁI GÌ?

Bài đọc liên quan:
+ Sơ lược về Nobel y học 2011
+ Một kết thúc có hậu cho Nobel y học 2010
+ Nhị nguyên luận trong giải thưởng Nobel y học 2009

Vậy là một năm nữa lại đến với câu chuyện trao giải Nobel. Như thường lệ, giải Nobel y học luôn là giải được công bố đầu tiên, nó nói lên tính nhân văn và tầm quan trọng của ngành chuyên chăm lo sức khỏe của loài người. Hơn nửa thế kỷ qua, hầu hết các giải Nobel y học tập trung vào những khám phá về sinh lý, sinh học, và sinh hóa, tức là những lĩnh vực sinh học phân tử trong y học, mà ít thấy nó trao cho y học thực hành như cái giải năm 2010 trao cho công trình thụ tinh trong ống nghiệm. Cách đây 30 phút giải Nobel Y học 2012 đã công bố.

Năm nay cũng vậy, giải Nobel y học 2012, cũng được trao cho 2 nhà khoa học chuyên nghiên cứu về tế bào gốc cho sự phát hiện về tế bào trưởng thành lập trình lại để trở thành tế bào vạn năng. Tôi có thể tóm tắt quá trình này một cách đơn gian như sau:

Khi hợp tử được tạo thành bởi 1 tế bào gốc gồm một nửa chất liệu di truyền của cha cho và một nửa chất liệu di truyền của mẹ cho trong quá trình thụ tinh. Nó nhân đôi và tạo thành nhiều tế bào gốc khác nhau. Sau đó dưới tác động của hormone - kích thích tố - các tế bào gốc được lập trình lại - reprogram - thành những tế bào được biệt hóa cho từng loại cơ quan đặc biệt - như mắt, mũi, miệng, da, xương, lông móng, gan, thận, tim, phổi, etc... Đó là quá trình được gọi là lập trình để biến tế bào gốc thành những tế bào vạn năng phục vụ tạo thành một cơ thể hoàn thiện và hoạt động phục vụ cho cả quá trình sống trong bào thai và sinh trưởng sau này.

Việc phát hiện này đã góp phần cho quá trình chẩn đoán và điều trị một số bệnh lý trong nhiều lĩnh vực chuyên khoa khác nhau. Nhưng đóng góp lớn nhất của khám phá này là giúp cho ngành ghép tạng và điều trị ung thư đang tiến triển ở loại ung thự bạch cầu. Song vẫn còn nhiều chướng ngại trên con đường đến đích.

Nobel Y học năm nay lại trao cho 2 ông John Gurdon thuộc đại học Oxford và ông Shinya Yamanaka thuộc đại học Kyoto. Tuy ông Shinya Yamanaka là người Nhật, đã từng dạy tại đại học Kyoto, nhưng hiện nay ông là giáo sư giải phẫu học và lại là nghiên cứu viên cao cấp của viện nghiên cứu J David Golstone thuộc University of California - San Francisco - UCSF - California, Hoa Kỳ, đồng thời là chủ tịch hiệp hội Quốc tế về nghiên cứu tế bào gốc - International Sociaty for Stem Cell Research: ISSCR.

Sir John Gurdon 1933 - ?

Ông John Gurdon sinh ngày 02/10/1933. Năm 1962 - tức năm sinh ra ông Shinya Yamanaka người đồng chia giải Nobel y học năm nay với ông - ông Gurdon làm thí nghiệm lấy nhân của một hợp tử ếch thay vào nhân của một tế bào ruột của ếch. Kết quả cuối cùng là tế bào ruột này phát triển thành nòng nọc và ếch trưởng thành. Các tế bào trưởng thành vẫn có đầy đủ chất liệu thông tin di truyền bình thường của một con ếch.

Dr Shinya Yamanaka 1962 - ?

Bốn mươi năm sau, 2006 - ông Shinya Yamanaka sinh ngày 04/9/1962 - đã làm cho một tế bào chuột trưởng thành biệt hóa thành cơ quan đặc biệt lập trình lại trở về một tế bào gốc chưa trưởng thành có khả năng phát triển trở thành tất cả các loại tế bào trưởng thành cho mọi cơ quan trong cơ thể tại J David Golston Institute thuộc UCSF.

Hai ông, Gordon và Yamanaka đã thực hiện 2 công đoạn xuôi và ngược của quá trình phát triển từ tế bào gốc sang tế bào trưởng thành và biệt hóa thành cơ quan, và ngược lại. Nó là dấu son khám phá giúp ích rất nhiều cho quá trình điều trị ung thư và ghép tạng trong tương lai.

Xin chúc mừng một kỷ nguyên mới cho nhân loại trong y học hiện đại về tế bào gốc trong quá trình chinh phục bệnh tật của nhân loại.

Asia Clinic, 17h24' ngày thứ Hai, 08/10/2010